
Lịch tiết của một số dân tộc ở xứ Nghệ
Là những cư dân làm nông nghiệp, nhất là nghề trồng lúa, các dân tộc ở Nghệ An đã sớm nhận thức về thế giới xung quanh. Trong đó, sự hiểu biết về lịch tiết đóng vai trò quan trọng trong đời sống sản xuất của đồng bào. Lịch tiết của các dân tộc đã có từ lâu đời, ăn sâu vào tiềm thức của các dân tộc ở xứ Nghệ, nó được sử dụng trong các công việc quan trọng như làm nhà, cưới xin, ma chay, lễ lạt...
Người Thái, Khơ mú, Ơđu có lịch riêng nhằm thích ứng với tập quán sản xuất; lịch này dựa theo hệ thống lịch âm. Tuy nhiên, lịch Khơ mú sớm hơn âm lịch 2 tháng, muộn hơn lịch Thái 4 tháng. Lịch của Khơ mú tính theo lịch mặt trăng, họ chia một năm thành 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày. Theo cách tính lịch của họ thì các tháng sớm hơn lịch âm (người Việt) khoảng một tháng. Hiện nay, người Khơ mú và người Thái ở vùng Tây Bắc và Tây Thanh - Nghệ sinh sống gần nhau, có nhiều điều kiện tự nhiên tương đồng, tuy nhiên do nguồn gốc lịch sử và tập quán canh tác khác nhau (người Khơ mú canh tác nương rẫy, trong lúc đó người Thái lại làm ruộng nước) bởi vậy dẫn đến sự chênh lệch trên.
Lịch tiết của người Khơ mú ở Nghệ An, nếu tính theo mùa vụ thì vụ Xuân - Hè bắt đầu từ tháng Ba đến tháng Tám, vụ Thu - Đông là tháng Chín đến trước khi ăn Tết Nguyên đán. Bởi vậy, Tết của người Khơ mú vào tháng Một (11) âm lịch, tương đương với Tết của người Mông, trước Tết Nguyên đán một tháng. Cũng dựa theo cách tính lịch ở trên, tết truyền thống của người Thái trước đây sẽ vào tháng 7, người Thái gọi này là tết Xíp xí (tết 14 tháng 7 âm lịch hằng năm).
Người Khơ mú tính lịch theo chu kỳ mặt trăng. Lịch của họ chia các khoảng thời gian trong tháng thành 3 thời điểm khác nhau: “Mông khươn” (trăng mọc), “Mông phênh” (trăng tròn), “Mông loách” (trăng lặn - hạ tuần). Thời kỳ “Mông khươn” bắt đầu từ mồng một đến ngày 13 (trăng nhú, hay gọi là thời kỳ trăng lưỡi liềm). Vào những ngày này, những loại cây có chất ngứa như khoai môn, khoai sọ hay cây dáy... sẽ là thời điểm tiết chất ngứa nhiều nhất. Cho nên, đồng bào tránh thu hái những loại cây này vào thời điểm trăng lưỡi liềm.
Với kiến thức về lịch tiết, đồng bào các dân tộc ở Nghệ An không chỉ dùng để xem ngày tháng, lịch tiết để phục vụ sản xuất mà còn dùng làm cơ sở tính toán nhiều việc khác như xem ngày, giờ tốt để làm các công việc hệ trọng, xem bói chân gà, bấm đốt, lập ra sách, người Thái gọi là Lai Nham, Đoi đối với người Thổ và người Mường. Lai Nham, làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng trong năm; Lai có nghĩa là chữ hoặc lịch, Nham mùa hoặc ngày xưa, Lai Nham có nghĩa bao hàm là lịch tiết có từ lâu đời, nói về sự thay đổi biến thiên của thời tiết, mùa vụ. Trên từng thẻ đó có những dấu khắc vạch để tính các hiện tượng tự nhiên như trăng, sao, ngày mưa, ngày nắng... để từ đó định ra lịch và cách xem ngày, giờ tốt, xấu...
Có thể xem sách Đoi là một kho tàng tri thức dân gian về thiên văn; Đoi ở đây là một vì sao có hình dáng thoi được tạo nên bởi 4 dấu chấm ⁘ vận động theo chiều từ Đông sang Tây như nhiều vì tinh tú khác. Thế nhưng, sao Đoi vận động nhanh hơn mặt trăng và trong khoảng cách nhanh hơn so với mặt trăng, đồng bào gọi là Đoi vào hay ngậm Đoi. Những ngày Đoi vào là những ngày tốt. Từ tháng 1 đến tháng 6, sao Đoi vào những ngày giữa tháng và dịch lên những ngày đầu tháng sau. Từ tháng 7 đến tháng chạp thì sao Đoi vào từ những ngày cuối tháng đến những ngày giữa tháng.
Tri thức về dự báo thời tiết của một số dân tộc
Dự báo thời tiết
Nguồn sinh kế chính của các dân tộc ở xứ Nghệ là nông nghiệp trong đó trồng trọt chiếm vị chủ đạo. Với các dân tộc sinh sống ở vùng núi cao như người Khơ mú, Thái, Hmông, nhóm Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng (người Thổ) nguồn sống chính là sản xuất nương rẫy các loại hình sinh kế khác chỉ mang tính hỗ trợ. Bởi vậy, từ hàng trăm năm nay, đồng bào đã dày công tích lũy, vun đắp nên những tri thức để dự báo, đoán định sự thay đổi của thời tiết, trời đất để vận dụng vào sản xuất. Chính điều này có một ý nghĩa vô cùng quan trọng dẫn đến thành bại của một mùa sản xuất nông nghiệp đặc biệt với cư dân nương rẫy.
Ông cha ta đã đúc kết về hàng trăm thứ trông như: “trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa. Trông nắng, trồng ngày trông đêm”, còn ngư dân ở ven biển thì luôn mong sao cho “trời yên, biển lặng”. Với cư dân nương rẫy, rủi ro, sự tác động của thiên nhiên dường như được nhân lên gấp bội, họ đâu chỉ có trông “trăng ngàn, mưa núi” mà còn dịch bệnh, thú hoang, côn trùng, thời tiết thất thường... Dưới đây là một trong rất nhiều những tri thức dân gian đã được đồng bào đúc kết qua quá trình mưu sinh ở miền núi của xứ Nghệ. Những dự báo về thời tiết có thể diễn ra tức thì trong một thời gian nhất định như mưa lũ, nắng, hạn hán...
Theo ông Moong Văn Nghệ, ở Mường Xén (Kỳ Sơn), người Khơ mú có khá nhiều phương pháp trong dự báo thời tiết, họ có thể dựa theo những con vật hoặc cây cối để đoán định thời tiết của một mùa, từ đó ứng dụng vào trong lao động sản xuất. Người Khơ mú thường quan sát con ruồi tô mốp (lượt quai plin) loại ruồi to gần bằng ngón tay út, vào mùa mưa, ẩm ướt nó thường tập trung đốt trâu bò nên họ mới gọi là ruồi trâu. Năm nào, con ruồi trâu đẻ trứng trên cây cao, người Khơ mú cho rằng năm đó có mưa bão, nước lớn. Người Thái lại dựa theo con kiến để đoán, năm nào kiến leo lên cây nhiều là sẽ có lũ lụt lớn. Theo các cụ già, năm nào mưa to con ruồi trâu (kiến) đẻ trứng ở trên cao tránh mưa cuốn trôi trứng của nó. Còn năm nào, con ruồi trâu đẻ trứng ở thấp, gần gốc cây thì năm đó thời tiết khô hạn, nắng nóng quanh năm. Theo họ, sở dĩ con ruồi đẻ trứng ở dưới thấp vì nước yếu nên. Như vậy, chúng ta thấy đồng bào nơi đây qua thời gian sinh sống, với sự quan sát và đúc rút từ thực tế, có thể dự đoán thời tiết rất độc đáo giúp họ điều chỉnh nông lịch cho phù hợp. Bên cạnh đó, người Khơ mú còn dựa theo một loại kiến được họ gọi là mui khầu tức là kiến lửa, có màu hơi đỏ, khi đốt nó thường tiết chất có vị chua. Bởi vậy, đồng bào mới gọi loại kiến này là kiến lửa (mui khầu) hay kiến chua, loại kiến thường làm tổ trên cây xoài, nhãn, vải, bưởi. Theo đồng bào, năm nào loại kiến này làm tổ trên cao thì năm đó trời khô hạn, ít mưa. Ngược lại, năm nào, giống kiến lửa làm tổ ở dưới thấp ở gần gốc cây năm đó mưa to, gió lớn. Theo giải thích của người già, năm nào nhiều mưa bão, gió to sẽ quật ngã cây cối làm rơi tổ của nó nên kiến làm tổ dưới thấp.
Người Khơ mú có thể dựa theo những hiện tượng tự nhiên hoặc tập quán sinh hoạt của các loài sinh vật để dự báo thời tiết từ đó điều chỉnh mùa vụ, giống cây trồng phù hợp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và giảm thiểu sự tác động từ thiên nhiên, ngoại cảnh đến đời sống và lao động.
Cũng nói về các hiện tượng mưa, lũ lụt, đồng bào các dân tộc ở xứ Nghệ thường quan sát các loại côn trùng như kiến, bướm để dự báo các hiện tượng thời tiết. Nếu đang nắng có kiến bò theo đoàn đông qua đường họ họ cho rằng sắp có mưa lớn; ngược lại, năm nào bướm trắng bay theo từng đoàn ngược dòng sông đến đầu nguồn tụ lại thì năm đó trời hạn hán.
Người Thái, người Khơ mú cho rằng đang mùa Đông ngày nào có ếch nhái kêu nhiều “cốp khiệt họng” trời sẽ ấm lên. Trong tâm thức của người Thái, Ơđu, Khơ mú tiếng sấm đầu năm có vai trò rất quan trọng, đánh dấu trời đất giao hòa và báo hiệu về chuyển từ mùa Đông lạnh giá sang mùa Xuân ấm áp. Đồng bào thường dựa theo tiếng ếch kêu (cốp họng) để báo hiệu trời đã về (phạ ma); khi trời về, đồng bào ở xứ Nghệ có rất nhiều nghi lễ cúng như: đặt tên, tính tuổi... để mừng tiếng sấm đầu năm. Đây là một trong nghi lễ cổ xưa không chỉ trong văn hóa người Việt và một số cư dân Đông Nam Á cổ. Trên trống đồng, họa tiết cóc hoặc ếch được phác họa xung quanh mặt trống có lẽ cũng gợi nhắc dấu ấn cổ xưa về nghi lễ cầu mưa của cư dân nông nghiệp. Đối với người Ơđu, mặc dù dân số ít và sống xen kẽ với người Thái, Khơ mú nhưng văn hóa của bà con có nhiều nét rất đặc trưng. Ở đó, ta sẽ thấy các tục lệ như làm nhà quay vào núi, nghi lễ cúng tiếng sấm đầu năm hay nghi lễ tính tuổi của đứa trẻ dựa theo tiếng sấm đầu tiên của năm mới.
Điều chỉnh nông lịch
Theo nhà nghiên cứu Moong Văn Nghệ, đồng bào các dân tộc ở Nghệ An dựa theo dự báo để từ đó điều chỉnh nông lịch cho phù hợp với thởi tiết. Theo ông, năm nào mưa nhiều họ có thể gieo trồng hoa màu sớm hơn (tầm cuối tháng 4, đầu tháng 5 âm lịch), họ lựa chọn những giống lúa ưa nước để nâng cao năng suất. Còn năm nào khô hạn, chu kỳ gieo trồng lúa và hoa màu muộn hơn (tầm cuối tháng 6 âm lịch) để lúa mới dịp kịp đón những cơn mưa mát mẻ vào tháng 7, tháng 81.
Bên cạnh đó, các dân tộc ở xứ Nghệ còn căn cứ theo sự sinh trưởng của cây cối để đoán định thời tiết và điều chỉnh mùa vụ canh tác nương rẫy cho phù hợp. Theo những người già ở Kỳ Sơn, năm nào cây sung có nhiều quả ở gốc, năm đó được mùa lúa sớm (hậy đo): Bởi vậy, họ phải trồng thật nhiều lúa sớm và làm ít hơn lúa mùa (hậy mùa). Ngược lại, năm nào cây sung có nhiều quả ở ngọn hoặc ở trên cao năm đó họ sẽ làm thật nhiều lúa mùa và làm ít lúa sớm. Chính sự quan sát tinh tế và sự đúc rút qua hàng trăm năm cư dân nương rẫy đã tích lũy một kho tàng tri thức phong phú phục vụ lao động sản xuất góp phần nâng cao năng xuất và tránh khỏi những rủi ro từ thiên nhiên.
Người Khơ mú, Thái, Mông cũng có thể căn cứ theo tiếng chim để họ đoán định thời tiết và việc điều chỉnh nhịp điệu sản xuất cho phù hợp để mang lại hiệu quả sản xuất cao. Họ cho rằng, sau những trận mưa phùn nhỏ vào đầu tháng 6 đến giữa tháng 6 (theo lịch Khơ mú) nghe con chim pipero kêu (loại chim to bằng nắm tay, lông màu nâu) thì bắt đầu tra ngô sớm và như vậy hiệu quả sẽ cao hơn; nếu để đến cuối tháng sáu khi con chim tà kêu mà còn chưa gieo xong thì có gieo cũng không có thu hoạch2. Hay đến đầu tháng Tám, khi con chim ka ra vang (loại chim chỉ to hơn con ve sầu, lông màu đỏ hay ăn quả chín vữa) kêu từng hồi thì khẩn trương thu hoạch ngô sớm, dọn nương để tra đậu.
Khi cây man rơ (loại hoa màu đỏ giống cây gạo mọc rất nhiều ở vùng miền núi Thanh Hóa, Nghệ An) ra hoa thì bắt đầu tra lúa sớm, làm như vậy sẽ kịp thời vụ. Hàng năm, vào tháng ba, tháng tư (lịch Khơ mú) thấy bướm trắng bay theo từng đàn dọc theo bờ suối cạn là báo hiệu thời tiết sẽ có hạn hán kéo dài; năm nào cây tre ra hoa là sắp hạn hán lớn; hay mối ra nhiều là trời sắp mưa to...
Đầu mùa hạ trời nắng nóng kéo dài (trước lũ tiểu mãn hai tháng) nếu vào buổi trưa đột ngột có mây trắng kéo xuống thấp bao quanh mặt trời và mây đen kéo đến rất nhanh là báo hiệu buổi chiều sẽ có lốc mạnh kèm theo mưa đá.
Như vậy, có thể thấy, các tộc người ở Nghệ An có những tri thức dân gian trong dự báo thời tiết, đoán định sự thay đổi của thiên nhiên khá phong phú. Những tri thức này có được từ quá trình đúc rút trong thực tiễn lao động; đồng thời những tri thức này phục vụ cho họ trong lao động sản xuất, góp phần nâng cao năng xuất lao động.
Giao thoa văn hóa trong dự báo thời tiết
Ngoài tiếp thu tri thức dân gian trong dự báo thời tiết của người Kinh, các tộc người ở Nghệ An còn tiếp thu, áp dụng rộng rãi những tri thức dân gian của người Lào, Hmông (ở Lào) một dân tộc sống gần gũi và có nhiều ảnh hưởng văn hóa qua lại, nhất là vùng biên giới. Tri thức dân gian về dự báo thời tiết cũng không phải ngoại lệ, nhất là trong sản xuất nương rẫy. Chẳng hạn như “Gieo nương tháng năm, cấy ruộng tháng sáu” (Nặm hậy bươn hà, đăm na bươc hốc); “Đầu vụ cấy trên đám cỏ cũng được ăn, cuối vụ cấy gai trên vũng trâu quần cũng không được ăn” (Hua pi đăm xớ ké pá nhà cả pên, là pi đăm xớ bụng quai noon cả bọ pên). “Ba mươi ngày thành mạ, năm mươi ngày thành gai” Xam xíp nghên bên cà, há xíp nghên bên pán. Quả tủm (quả ngáy) chín thì cấy ruộng, quả dưỡng chín thì gieo nương” (Mác tủm xúc đăm na, mác xa xúc nặm hậy); “Ngày trồng lúa cũng như ngày cưới, có vậy mới lúa trĩu bông, mới sinh sôi trai, gái” (Ngên pục khầu tằng khư ngên ết kéo ết đoong, tằng mi lực nhinh, xai)...
Như vậy, có thể thấy, trong quá trình cộng cư giữa các dân tộc ở xứ Nghệ có tính kế thừa, phát huy và vận dụng nguồn tri thức của các dân tộc khác trong lao động sản xuất, đặc biệt là từ người Kinh hay người Lào ở bên kia biên giới. Điều này, rõ ràng đã góp phần làm phong phú vốn tri thức trong dự báo thời tiết, luận giải về sự những thay đổi của thiên nhiên, môi trường.
Thay lời kết
Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, sống tập trung ở khu vực miền núi, nơi chiếm ¾ diện tích toàn tỉnh. Qua quá trình sinh sống lâu đời, các tộc người nơi đây đã kết tinh thành một kho tàng tri thức phong phú trong dự báo và đoán định thời tiết. Những tri thức này được đồng bào các dân tộc ứng dụng rất hiệu quả vào lao động cũng như trong luận giải về các hiện tượng tự nhiên. Các tộc người nơi đây chủ yếu sản xuất nông nghiệp trong đó trồng trọt giữ vai trò chủ đạo. Bởi thế, việc dự báo, đoán định thời tiết đóng một vai trò rất quan trọng. Qua dự báo, đoán định giúp đồng bào kịp thời tránh và điều chỉnh nông lịch góp phần giảm thiểu tác động và nâng cao năng suất lao động. Do đó, cùng với thời gian, sự quan sát và đúc rút một cách tinh tế các tộc người ở xứ Nghệ đã tích lũy cho mình một kho tàng tri thức phong phú trong dự báo thời tiết, luận giải về những hiện tượng tự nhiên. Tri thức trong dự báo thời tiết được đúc rút qua thực tế sản xuất cũng như trao truyền của hàng bao thế hệ; bên cạnh đó, còn là sự giao thoa tiếp biến trong quá trình cộng cư với các dân tộc xung quanh. Điểm tương đồng lớn nhất giữa các dân tộc ở Nghệ An là họ sử dụng phổ biến một dạng lịch được người Thái gọi Lai Nham - một kho tàng tri thức dân gian về thiên văn, thể hiện trình độ nhận thức về thế giới quan, nhân sinh quan phong phú. Bởi vậy, đây là di sản văn hóa vô cùng quý giá cần được bảo tồn và phát huy trong cuộc sống hiện nay.
________________________
1. Lương Văn Thiết (2019), Tri thức dân gian của người Khơmú ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, Nxb Văn hóa dân tộc, tr.119-120.
2. Khổng Diễn (Chủ biên 1999), Dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, tr.315-316
CHU QUANG CƯỜNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 640, tháng 4-2026