1792839902803_6675078566611297478_6675078566611297478_c77eb25dc596421dbd9e56ba0d8c6b53.jpg
Các đại biểu tham dự thảo luận tại Tổ 1 chiều 24/10 - Ảnh: Trần Huấn

Bảo đảm nguồn gốc sản phẩm, phát huy vai trò của cộng đồng

Quan tâm đến nền tảng văn hóa và điều kiện phát triển sản phẩm, đại biểu Lê Nhật Thành đánh giá hồ sơ dự án luật được cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị công phu, nghiêm túc, có chất lượng, bảo đảm các quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Về chính sách phát triển tại Điều 4, đại biểu cho rằng dự thảo đã xác định phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế, giá trị gia tăng cao, khả năng lan tỏa, xuất khẩu; đầu tư phát triển hạ tầng, nhân lực, sản phẩm trọng điểm và sản phẩm có bản sắc văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, chưa thể hiện rõ định hướng ưu tiên theo tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa bàn.

Theo đại biểu, nội dung này cần được làm rõ để đáp ứng yêu cầu đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên địa phương có lợi thế phát triển, tránh dàn trải.

Đại biểu đề nghị bổ sung theo hướng phát triển hệ sinh thái và các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế, giá trị gia tăng cao, khả năng lan tỏa và xuất khẩu; ưu tiên đầu tư, hỗ trợ những địa bàn có tiềm năng về tài nguyên văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, bản sắc văn hóa dân tộc và khả năng liên kết với du lịch. Việc phát triển sản phẩm cần dựa trên giá trị đất nước, con người và những giá trị văn hóa đặc trưng, đặc sắc của các dân tộc Việt Nam.

Về các hành vi bị nghiêm cấm , đại biểu cho biết dự thảo Luật đã nêu cấm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, giả mạo nguồn gốc sản phẩm, chủ thể sáng tạo, chủ thể quyền; cấm truy cập, thu thập, sử dụng, cung cấp, chia sẻ dữ liệu văn hóa số trái pháp luật. Tuy nhiên, dự thảo chưa thể hiện rõ hành vi khai thác, thương mại hóa trái pháp luật đối với di sản, tri thức truyền thống và biểu đạt văn hóa truyền thống của cộng đồng.

1792851724477_5226052957535311074_5226052957535311074_346d306c3bcd4ae729aa7295ac0ef570.jpg
Đại biểu Lê Nhật Thành quan tâm đến nền tảng văn hóa và điều kiện phát triển sản phẩm 

Đại biểu đề nghị bổ sung nội dung cấm khai thác sử dụng trái pháp luật hoặc làm sai lệch, giả mạo nguồn gốc di sản văn hóa, tri thức truyền thống, biểu đạt văn hóa truyền thống của cộng đồng trong hoạt động công nghiệp văn hóa. 

Đối với sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc văn hóa Việt Nam tại Điều 23, đại biểu cho rằng điểm c, khoản 1 đã xác định mức độ khai thác, sáng tạo và phát triển di sản, tri thức, ngôn ngữ, nghệ thuật, hình tượng, biểu tượng và các giá trị văn hóa Việt Nam là tiêu chí đánh giá bản sắc.

Tuy nhiên, với sản phẩm khai thác trực tiếp giá trị văn hóa của một cộng đồng dân tộc cụ thể, cần bổ sung yêu cầu xem xét nguồn gốc, tính xác thực và sự tham gia của chủ thể văn hóa liên quan.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 6 Điều 23 quy định đối với sản phẩm khai thác trực tiếp di sản văn hóa, tri thức truyền thống, ngôn ngữ, nghệ thuật, hình tượng, biểu tượng hoặc biểu đạt văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số, tiêu chí thành phần phải xem xét nguồn gốc, tính xác thực của giá trị được khai thác, mức độ phù hợp với bản sắc và sự tham gia của cộng đồng, nghệ nhân, người thực hành văn hóa có liên quan.

Về sàn giao dịch công nghiệp văn hóa tại Điều 27, đại biểu cho rằng khoản 3 đã yêu cầu chủ thể đưa đối tượng lên sàn phải có quyền thực hiện giao dịch và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu. Tuy nhiên, chưa quy định rõ trách nhiệm chứng minh nguồn gốc và căn cứ thực hiện quyền đối với sản phẩm, quyền tài sản có sử dụng di sản, tri thức truyền thống hoặc bản sắc văn hóa cộng đồng.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung cuối khoản 3, Điều 27 yêu cầu chủ thể đưa sản phẩm, quyền tài sản có sử dụng di sản văn hóa, tri thức truyền thống hoặc biểu đạt văn hóa truyền thống của cộng đồng lên sàn phải cung cấp thông tin về nguồn gốc, căn cứ thực hiện quyền khai thác, sử dụng và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của giao dịch.

Đối với hỗ trợ phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng tại Điều 28, đại biểu nhận xét dự thảo đã có chính sách đối với tổ chức, cá nhân và các chủ thể tham gia hoạt động công nghiệp văn hóa, đồng thời quy định một số nhóm được hỗ trợ tiêu dùng sản phẩm. Tuy nhiên, chưa có chính sách cụ thể hỗ trợ người dân tộc thiểu số, cộng đồng dân tộc thiểu số phát triển sản phẩm gắn với khai thác, phát huy bản sắc của cộng đồng trong tổng thể bản sắc văn hóa Việt Nam.

Trong khi đó, điểm d, khoản 1, Điều 24 đã xác định sản phẩm góp phần nâng cao khả năng tiếp cận văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những nhóm sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm.

Đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 1 Điều 28 chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển thị trường đối với sản phẩm do người dân tộc thiểu số, cộng đồng dân tộc thiểu số và các chủ thể liên quan sáng tạo, sản xuất, khai thác, phát huy những giá trị văn hóa đặc trưng, bản sắc của cộng đồng trong tổng thể bản sắc văn hóa Việt Nam.

1792851728018_5226052957535311074_5226052957535311074_c3ec60cf85fb49cc8cb2fc1bc4c2b5ec.jpg
Đại biểu Lê Hồng Hà đánh giá: công nghiệp văn hóa là lĩnh vực liên ngành, gắn với du lịch, thương mại, công nghiệp, sở hữu trí tuệ, tài chính và xuất khẩu

Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực liên ngành 

Đại biểu Lê Hồng Hà khẳng định sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời cho rằng công nghiệp văn hóa là sự kết hợp giữa văn hóa, sáng tạo và kinh doanh. Thành công không chỉ thể hiện ở số lượng di sản hay sự kiện được tổ chức mà còn ở khả năng tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh, doanh thu bền vững và ảnh hưởng văn hóa vượt ra ngoài biên giới quốc gia.

Theo đại biểu, công nghiệp văn hóa là lĩnh vực liên ngành, gắn với du lịch, thương mại, công nghiệp, sở hữu trí tuệ, tài chính và xuất khẩu. Trong đó, Nhà nước có vai trò bảo tồn di sản, xây dựng thể chế, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sáng tạo; doanh nghiệp phát triển sản phẩm, tổ chức thị trường và thương mại hóa các giá trị sáng tạo. Sự phân vai này cần được thể hiện nhất quán trong thiết kế luật.

Tuy nhiên, dự thảo chủ yếu tiếp cận từ phía cung, gồm sáng tạo, sản xuất, hạ tầng và tài chính, trong khi phía cầu, đặc biệt là thị trường khách du lịch quốc tế và việc đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, chưa được thiết kế tương xứng.

Đại biểu cho rằng quan điểm văn hóa là nền tảng cốt lõi của du lịch, phát triển du lịch trong hệ sinh thái liên kết với giao thông vận tải, công nghiệp sáng tạo và kinh tế đêm của Nghị quyết số 26 chưa được phản ánh đầy đủ trong dự thảo Luật.

Đại biểu đề nghị hoàn thiện khái niệm theo hướng xác định công nghiệp văn hóa là lĩnh vực kinh tế sáng tạo, sản xuất, phân phối và khai thác sản phẩm, dịch vụ dựa trên giá trị văn hóa, nghệ thuật, sức sáng tạo và bản sắc dân tộc, nhằm tạo doanh thu, việc làm, đóng góp cho nền kinh tế và lan tỏa bản sắc, hình ảnh quốc gia. Khi xác định rõ bản chất kinh tế, các chính sách cũng phải giải quyết được cả hai phía cung và cầu của thị trường…

Từ góc độ du lịch và hàng không, hiệu quả kinh tế của sự kiện thể hiện ở khả năng thu hút khách, nhất là khách quốc tế, tăng lượng vé máy bay, kéo dài thời gian lưu trú, tăng chi tiêu và thúc đẩy khách quay trở lại. Thị trường là nơi kiểm chứng khách quan các kết quả như doanh thu, lượng khách gia tăng, giá trị xuất khẩu và cấp phép bản quyền ra nước ngoài.

Vì vậy, đại biểu đề nghị thể hiện tại Điều 3 và Điều 4 quan điểm lấy năng lực cạnh tranh, doanh thu bền vững và ảnh hưởng quốc tế làm thước đo thành công của công nghiệp văn hóa.

Về tổ chức quản lý, đại biểu lưu ý các công cụ then chốt của lĩnh vực này thuộc phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành. Những vấn đề về trí tuệ nhân tạo liên quan đến Bộ Khoa học và Công nghệ; thuế, quỹ, ngân sách thuộc Bộ Tài chính; chính sách xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an. Nếu thiếu cơ chế điều phối đủ mạnh, chính sách liên ngành có thể bị chia cắt theo ranh giới quản lý.

Đại biểu đề nghị thiết kế cơ chế phối hợp đồng bộ, gắn với việc xây dựng cơ chế liên ngành cho du lịch trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26.

Đối với mối quan hệ giữa công nghiệp văn hóa và du lịch, đại biểu đề nghị thể chế hóa đồng bộ Nghị quyết số 80 và Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị, nhìn nhận hai lĩnh vực trong một chuỗi giá trị. Quan điểm văn hóa là nền tảng cốt lõi của du lịch, phát triển du lịch trong hệ sinh thái liên kết với giao thông vận tải, công nghiệp sáng tạo và kinh tế đêm cần được phản ánh đầy đủ hơn trong dự thảo.

Theo đại biểu, dự thảo vẫn tiếp cận công nghiệp văn hóa như một lĩnh vực tương đối khép kín, chưa coi du lịch là thị trường đầu ra chủ yếu. Trong khi đó, các mục tiêu tăng trưởng du lịch đòi hỏi phải tạo đủ sức hút để khách đến, ở lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn.

Điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực và các sản phẩm sáng tạo từ di sản chính là những sản phẩm công nghiệp văn hóa đáp ứng yêu cầu này. Ở chiều ngược lại, du lịch quốc tế là thị trường tiêu thụ tại chỗ lớn đối với sản phẩm văn hóa, một hình thức xuất khẩu tại chỗ có ít rào cản hơn so với đưa sản phẩm ra nước ngoài…