Phát triển bền vững du lịch ở vùng có người Chăm
Trong phát triển kinh tế, xã hội hiện nay, khai thác tiềm năng kinh tế của văn hóa luôn được xem trọng. Các nhà quản lý luôn nghĩ đến phát triển du lịch bền vững. Khoản 14, Điều 3, Chương 1 của Luật Du lịch (2017), ghi rõ: “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”. Quan niệm ký ức về biển là một bộ phận hằn trong tâm thức người Chăm đương đại sẽ thấy phát triển du lịch bền vững ở vùng có người Chăm, rõ ràng là cần thiết.
Lâu nay, nói tới phát triển du lịch ở các tỉnh miền Trung Bộ là các nhà quản lý du lịch nghĩ ngay tới các di sản văn hóa, cả vật thể lẫn phi vật thể của người Chăm. Sau ngày 1/7/2025, thành phố Đà Nẵng bao gồm tỉnh Quảng Nam trước đây có di sản thế giới Mỹ Sơn mà UNESCO đã ghi danh năm 1999. Tỉnh Khánh Hòa mới bao gồm cả tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Ninh Thuận trước đây là một vùng đất giàu có về di sản văn hóa Chăm, một kho tàng kiến trúc và nghệ thuật độc đáo của khu vực. Nổi bật trong số đó là hệ thống đền, tháp Chăm cổ kính, với những cái tên đã trở thành biểu tượng như: tháp Bà Pô Nagar, tháp Pô Klong Garai, tháp Pô Rômê và tháp Hòa Lai. Không chỉ là những công trình kiến trúc cổ xưa còn nguyên vẹn, các đền, tháp này còn có giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc sắc, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lẫn du khách trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, tỉnh này còn có làng gốm Chăm Bàu Trúc, một trong những làng gốm cổ nhất Đông Nam Á, được ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp theo Công ước năm 2003 của UNESCO.
Tỉnh Lâm Đồng có hệ thống di sản văn hóa của người Chăm đa dạng, phải kể đến những công trình kiến trúc với giá trị về lịch sử, nghệ thuật, tượng thờ bên trong cùng hệ thống lễ nghi tôn giáo đặc sắc. Tiêu biểu nhất là các cụm tháp Chăm Pô Sah Inư nằm trên đồi Bà Nài, thuộc phường Phú Thủy. Đây là nhóm di tích đền tháp Chăm còn sót lại của vương quốc Champa xưa, được xây dựng cách đây hơn 1.200 năm. Bộ sưu tập di sản hoàng tộc Chăm - bộ sưu tập duy nhất còn lại khá đầy đủ của một vương quốc Champa đã được lưu giữ hơn 400 năm qua bởi gia tộc hậu duệ Vua Pô Klong Mơhnai đang được gia đình hậu duệ Hoàng tộc Chăm - bà Nguyễn Thị Thềm lưu giữ tại xã Hồng Thái. Đặc biệt, năm 2024, Linga vàng được phát hiện tại tháp Pô Dam (xã Phước Thể, tỉnh Bình Thuận cũ) đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Phát triển du lịch hướng tới các di sản văn hóa, cả vật thể lẫn phi vật thể của người Chăm, rõ ràng là cần thiết, nhưng không chú trọng các di sản văn hóa liên quan đến biển của người Chăm thì chưa bao quát. Như đã phân tích ở trên, các học giả nghiên cứu Champa trong nước và nước ngoài đã nhấn mạnh không gian sinh tồn viễn dương, mạng lưới giao thương quốc tế và sự đứt gãy truyền thống biển sau thế kỷ XIX của người Chăm như Không gian hàng hải và “Con đường tơ lụa và hương liệu trên biển”. Như thế, ký ức về biển của người dân Champa hiện nay rõ ràng là tiền đề để chúng ta phát triển du lịch. Đó là ký ức văn hóa, là vốn văn hóa mà David Throsby phân tích “liên quan đến giá trị, cơ sở để các nhà kinh tế học diễn giải các đặc trưng của vốn văn hóa giúp phân biệt nó với các hàng hóa tư bản khác. Theo cách nói thông thường, khái niệm tài sản bao hàm giá trị, thường được nghĩ đơn giản về mặt tài chính. Vốn văn hóa cũng không khác - nó tạo ra giá trị kinh tế và làm như vậy ở cả dạng cổ phần (một tòa nhà lịch sử có thể được bán) và dưới dạng dòng vốn (khách du lịch trả tiền để đến thăm một địa điểm). Nhưng không giống như tài sản vốn “thông thường”, các hạng mục của vốn văn hóa thể hiện hoặc tạo ra một loại giá trị bổ sung và khác: giá trị văn hóa. Khái niệm này tìm cách nắm bắt phạm vi các giá trị phi tiền tệ có thể quy cho các hiện tượng văn hóa. Trong trường hợp các tòa nhà, địa điểm di sản... khái niệm giá trị văn hóa có cùng nguồn gốc với ý nghĩa văn hóa (hoặc giá trị di sản) như được hiểu trong lĩnh vực di sản”. Ký ức về biển, một bộ phận của vốn văn hóa, rõ ràng là tiền đề để chúng ta sử dụng, khai thác nhằm phát triển du lịch bền vững. Nói cách khác, phát triển du lịch bền vững ở các tỉnh có cộng đồng người Chăm, không thể chỉ dừng ở việc khai thác kinh tế các di sản hiện hữu, đã được UNESCO ghi danh, mà cần khai thác ký ức về biển của người Chăm, tránh thái độ lãng quên như thời kỳ vừa qua.
Phác thảo một số giải pháp thay cho bàn luận
Đã có quá nhiều nhà nghiên cứu kinh tế và văn hóa khẳng định: Du lịch là một ngành kinh tế cực kỳ quan trọng đối với hầu hết các quốc gia và khu vực trên thế giới và được chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, khi du lịch trở thành một chủ đề phát triển, một ngành công nghiệp không ống khói, các lý thuyết làm nền tảng cho nó nhất thiết phải phức tạp, sâu sắc hơn; nó không thể chỉ được hiểu như một ngành kinh doanh, mà quan trọng hơn, còn là hàng loạt vấn đề về quyền lực và bản sắc cần được làm rõ, điều tra, nghiên cứu và trả lời. Việc tạo ra và tiêu thụ hàng hóa du lịch diễn ra trong một môi trường xã hội phức tạp, với các chủ thể cạnh tranh liên quan đến “sản phẩm” lịch sử, văn hóa và lối sống của các dân tộc, trong đó có ký ức tập thể. Do đó con người, văn hóa và bản sắc của họ trở thành một phần của sản phẩm du lịch. Để phát triển du lịch bền vững, các nhà quản lý du lịch và văn hóa đã đề ra các nguyên tắc: Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng; Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; Phát triển đồng thời du lịch nội địa và du lịch quốc tế, tôn trọng và đối xử bình đẳng đối với khách du lịch.
Đây là những nguyên tắc chung, nhưng trong phạm vi quan hệ giữa ký ức về biển và phát triển du lịch bền vững ở vùng có cộng đồng người Chăm, tôi nghĩ nên quan tâm một số giải pháp sau:
Thứ nhất, xây dựng một ngân hàng dữ liệu về văn hóa biển của người Chăm, chú trọng các yếu tố, thành tố văn hóa liên quan ký ức về biển của người Chăm từ tiếng nói, tín ngưỡng, lễ hội, kinh nghiệm đóng tàu thuyền…
Thứ hai, phục dựng, phục hồi một số thực thể văn hóa, thành tố văn hóa trong văn hóa biển của người Chăm trên nguyên tắc phát huy cao nhất vai trò của cộng đồng.
Thứ ba, ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin để có nhiều sản phẩm văn hóa, theo hướng phát triển công nghiệp văn hóa biển để quảng bá ký ức về biển của người Chăm.
Thứ tư, xác định, nối kết tour, tuyến, điểm du lịch đã có với các tour, tuyến, điểm liên quan ký ức về biển của người Chăm ở các địa phương có cộng đồng người Chăm.
Thứ năm, xây dựng các dự án trên cơ sở hợp tác công - tư nhằm phát triển bền vững du lịch gắn kết ký ức về biển ở các vùng có người Chăm.
4. Kết luận
Người Chăm ở Việt Nam là một tộc người trong lịch sử từng gắn bó với biển, có nhiều thành tựu trong khai thác và chinh phục biển. Nếp gãy văn hóa khiến cộng đồng người Chăm đương đại không gắn bó với biển, nhưng ký ức về biển vẫn hằn trong tâm thức người Chăm. Phát triển du lịch bền vững ở các địa phương có cộng đồng người Chăm, rõ ràng phải kế thừa, phát huy vốn văn hóa về biển của người Chăm. Nhiều giải pháp có thể đặt ra, miễn sao đạt hiệu quả, để ký ức về biển của người Chăm đồng hành cùng thế hệ hôm nay.
____________________
Tài liệu tham khảo
1. David Throsby. (Hà Hữu Nga dịch). (2023, 13 tháng 2). Kinh tế học di sản - giá trị và định giá. Blog Tiếng vọng Kattigara.
2. Inrasara. (2015, 4 tháng 10). Một mảnh văn hóa biển Chăm. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/mot-manh van-hoa-bien-cham-post244232.html
3. J.M. Lotman. (Lã Nguyên dịch). (2025, 8 tháng 8). Ký ức văn hóa. Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1. https://nguvan.hnue.edu.vn/Nghi%C3%AAn-c%E1 %BB%A9u/L%C3%BD-lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n h%E1%BB%8Dc/p/2422
4. Momoki Shiro. (1999). Champa chỉ là một thể chế biển? (Những ghi chép về nông nghiệp và ngành nghề trong các tư liệu Trung Quốc). Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á. Số 4.
5. Ngô Đức Thịnh. (1984). Tìm hiểu thuyền bè truyền thống Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử. Số 6.
6. Nguyễn Việt. (1989). Lịch sử thủy quân Việt Nam. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
7. Quốc hội. (2017). Luật số 09/2017/QH14 ban hành ngày 19 tháng 6.
8. Trương Văn Món. (2024). Văn hóa - lịch sử Champa. (Tập 1). Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Wilheim G. Solheim II. (1969). Nghiên cứu thời tiền sử Đông Nam Á. (Reworking Southeast Asian Prehistory). Paideuma. 15.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 2/7/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 13/7/2026; Ngày duyệt đăng: 28/7/2026.
GS, TS NGUYỄN CHÍ BỀN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 651, tháng 8/2026