Đặc trưng tín ngưỡng thờ Tứ Pháp vùng Dâu - Luy Lâu
Di tích thờ Tứ Pháp
Hệ thống di tích thờ Tứ Pháp ở vùng Dâu - Luy Lâu tập trung chủ yếu tại Bắc Ninh, đặc biệt ở khu vực Thuận Thành xưa (nay thuộc các phường Trí Quả, Song Liễu), nơi được xem là trung tâm khởi phát của tín ngưỡng này ở đồng bằng Bắc Bộ. Các di tích này chủ yếu là chùa, phản ánh rõ sự dung hợp giữa tín ngưỡng dân gian bản địa với Phật giáo trong quá trình hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ Tứ Pháp. Bên cạnh đó, cũng có đình làng tham gia vào hệ thống thờ tự, cho thấy sự lan tỏa và bản địa hóa của tín ngưỡng này trong đời sống cộng đồng.
Theo khảo sát của tác giả, hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh còn lưu giữ một số di tích tiêu biểu thờ Tứ Pháp như sau:

Qua thống kê cho thấy, phần lớn di tích thờ Tứ Pháp ở vùng Dâu - Luy Lâu là chùa, trong đó nổi bật là hệ thống “Tứ Pháp tự” gồm chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng và chùa Dàn. Đây là các trung tâm thờ tự quan trọng, gắn trực tiếp với truyền thuyết Man Nương và nhà sư Khâu Đà La. Việc các vị thần tự nhiên như mây, mưa, sấm, chớp được thờ trong không gian chùa cho thấy đặc trưng nổi bật của tín ngưỡng Tứ Pháp là sự “Phật hóa” các nữ thần nông nghiệp bản địa. Trong hệ thống này, chùa Dâu giữ vai trò trung tâm, không chỉ là nơi thờ Pháp Vân mà còn là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội của cả vùng Dâu - Luy Lâu. Các chùa còn lại phân bố tương đối gần nhau, tạo thành một không gian tín ngưỡng liên kết chặt chẽ. Sự phân bố ấy phản ánh tư duy tổng thể của cư dân nông nghiệp về các hiện tượng tự nhiên có liên quan mật thiết với sản xuất nông nghiệp truyền thống.
Mặc dù so với các trung tâm thờ Tứ Pháp khác như ở Hưng Yên (31 di tích), Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) (13 di tích), hay Hà Nội (10 di tích) (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2025) thì ở vùng Dâu - Luy Lâu tuy có mật độ di tích thờ Tứ Pháp không nhiều, nhưng nơi đây hiện còn bảo lưu được tương đối đầy đủ mối liên kết giữa truyền thuyết, thần tích, nghi lễ và không gian thờ tự. Nếu ở nhiều địa phương khác, tín ngưỡng Tứ Pháp thường chỉ tồn tại dưới dạng phối thờ hoặc biến đổi theo tín ngưỡng địa phương, thì ở vùng Dâu - Luy Lâu, hệ thống chùa thờ Tứ Pháp vẫn giữ vai trò trung tâm và mang đậm dấu ấn tín ngưỡng cổ xưa. Đáng chú ý, sự xuất hiện của đình Hậu (xã Hiệp Hòa, thuộc tỉnh Bắc Giang cũ) trong hệ thống thờ Tứ Pháp cho thấy quá trình lan tỏa của tín ngưỡng này ra ngoài không gian chùa để đi vào tín ngưỡng thờ Thành hoàng của làng xã. Nơi đây còn có các địa danh như làng Sấm, làng Chớp, chợ Gió, kẻ Gió… gợi sự liên tưởng tới các vị thần Tứ Pháp. Điều đó phản ánh tính linh hoạt và khả năng thích ứng của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp trong đời sống văn hóa cộng đồng cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Có thể thấy rằng, những di tích ở vùng Dâu không chỉ là nơi lưu giữ di sản văn hóa vật thể gắn bó với hội Dâu (tượng Phật, kiệu rước, đồ thờ…) mà còn là địa điểm diễn ra các hoạt động văn hóa trong lễ hội. Ngược lại, hội Dâu cũng chính là “phần hồn” đặc sắc nhất của các di tích ở đây (Nguyễn Hữu Toàn, 2004, tr.82-89), bởi nó khiến các di tích trở thành nơi ngưng đọng và biểu hiện sinh động những giá trị di sản văn hóa phi vật thể về tín ngưỡng dân gian cổ xưa của cư dân Việt cổ. Nếu thiếu đi một trong hai nội dung này thì giá trị không gian văn hóa vùng Dâu - Luy Lâu ắt giảm đi đáng kể.
Một số sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng ở vùng Dâu - Luy Lâu
Một trong những nét đặc sắc trong đời sống tín ngưỡng ở vùng Dâu - Luy Lâu là tục thờ Phật Thạch Quang và Phật Tứ Pháp. Tương truyền, Thạch Quang là hóa thân của con gái Man Nương được Thiền sư Khâu Đà La đặt vào thân cây dung thụ, sau này hóa thành hòn đá thiêng phát sáng, gọi là Phật Thạch Quang. Hiện nay, Phật Thạch Quang được đặt trong một khám thờ nhỏ phía trước tượng Pháp Vân tại chùa Dâu. Đó là một khối đá hình trụ tròn, mặt đáy được mài phẳng, phần đầu khối đá được vê tròn có cắt nấc vòng quanh… mang dáng vẻ linh thiêng và cổ xưa.
Trong hệ thống chùa Tứ Pháp, các tượng Tứ Pháp được đặt ở trung tâm Thượng điện thay vì tượng Phật thông thường, cho thấy vai trò chủ đạo của họ trong không gian thiêng và phản ánh tính bản địa đậm nét khi dung hợp với Phật giáo. Tín ngưỡng này là sự kết hợp của nhiều lớp tín ngưỡng cổ xưa: Phật Thạch Quang là dấu tích thờ đá nguyên thủy, còn Phật Tứ Pháp phản ánh việc thờ các hiện tượng tự nhiên (mây, mưa, sấm, chớp) được nữ thần hóa và “Phật hóa” qua quá trình tiếp biến văn hóa.
Bên cạnh tục thờ Tứ Pháp, tục thờ Man Nương (Phật Mẫu) cũng giữ vị trí đặc biệt trong đời sống tín ngưỡng của cư dân vùng Dâu - Luy Lâu. Theo truyền thuyết dân gian, Man Nương là người có công sinh thành Tứ Pháp, được nhân dân tôn xưng là Phật Mẫu. Hiện nay, Man Nương được thờ tại chùa Tổ (Phúc Nghiêm tự) thuộc phường Song Liễu, tỉnh Bắc Ninh. Hình tượng Man Nương phản ánh rõ dấu ấn của tín ngưỡng thờ Mẫu và sự tôn vinh vai trò người phụ nữ trong đời sống tinh thần của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời, đây cũng là biểu hiện tiêu biểu cho sự bản địa hóa Phật giáo trong quá trình du nhập và phát triển ở Việt Nam.
Lễ hội vùng Dâu
Một trong những hoạt động văn hóa tôn giáo - tín ngưỡng liên quan đến trung tâm Phật giáo Dâu - Luy Lâu đó là lễ hội vùng Dâu được tổ chức hằng năm vào ngày mùng 8-4 (âm lịch). Đây cũng là không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng gắn với hệ thống chùa thờ Tứ Pháp ở khu vực Thuận Thành xưa. Trung tâm của lễ hội là chùa Dâu, đồng thời kết nối với các di tích trong hệ thống Tứ Pháp như chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn và chùa Tổ. Không gian lễ hội trải rộng trên nhiều làng xã thuộc vùng Dâu - Luy Lâu, phản ánh tính liên kết cộng đồng và tính vùng rõ nét của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp. Trong hệ thống lễ hội vùng Dâu, lễ hội chùa Dâu giữ vai trò trung tâm và tiêu biểu nhất. Đây là lễ hội lớn của cả tổng Khương Tự xưa, do 12 làng trong tổng trực tiếp tổ chức. Hội được mở trong bốn ngày, từ mùng 6 đến mùng 9-4 âm lịch, trong đó mùng 8 là ngày chính hội. Lễ hội gắn chặt với tín ngưỡng cầu mưa thuận gió hòa của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vào ngày hội, kiệu của các Nữ thần Pháp Vũ từ chùa Đậu, tượng Pháp Lôi từ chùa Tướng, tượng Pháp Điện từ chùa Dàn tụ về chùa Dâu, rồi cùng kiệu Pháp Vân đi đến chùa Tổ thăm mẹ Man Nương… Đặc biệt, tục rước Pháp Vân từ chùa Dâu cùng sự tham gia của các làng trong vùng thể hiện rõ mối liên kết giữa các trung tâm thờ tự Tứ Pháp. Ngoài phần lễ trang nghiêm là phần hội với nhiều trò chơi, trò diễn dân gian như múa rồng, đấu vật, cờ người, hát chèo, hát trống quân… Trong đó, nổi bật nhất là trò thi “cướp nước” giữa hai bà Pháp Vũ và Pháp Lôi. Đúng giờ Ngọ ngày chính hội, sau khi kiệu của bốn bà được an vị tại chùa Dâu, hai đội rước của làng Đại Tự (rước Pháp Vũ) và làng Thanh Tương (rước Pháp Lôi) đồng thời khiêng kiệu chạy ra tam quan chùa. Đội nào đưa kiệu tới trước sẽ được coi là “được nước” và thắng cuộc. Theo quan niệm dân gian, nếu bà Pháp Lôi thắng thì năm đó mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi; nếu bà Pháp Vũ thắng thì đồng ruộng dễ phát sinh sâu bệnh, việc làm ăn gặp khó khăn. Trò “cướp nước” vì thế trở thành nghi lễ đặc sắc nhất của hội Dâu, phản ánh rõ tín ngưỡng nông nghiệp cầu mưa của cư dân địa phương.
Ngoài lễ hội chính ngày mùng 8-4 (âm lịch), vùng Dâu còn có lễ hội ngày mùng 7 tháng Giêng, tương truyền là ngày sinh của Phật Mẫu Man Nương. Trong lễ hội này diễn ra nhiều hoạt động diễn xướng dân gian, tiêu biểu là hội thi làm bánh dày nổi tiếng ở làng Dâu. Để chuẩn bị cho hội thi, các giáp trong làng từ trước đó đã chọn ruộng tốt để cấy nếp, đến ngày hội thì tổ chức giã bánh, làm bánh và rước bánh ra chùa lễ Phật, dự thi. Hội thi không chỉ phản ánh tín ngưỡng thờ Phật Mẫu Man Nương mà còn thể hiện tinh thần cộng đồng và nét văn hóa nông nghiệp truyền thống của cư dân vùng Dâu.
Bên cạnh lễ hội thường niên, vùng Dâu - Luy Lâu còn lưu giữ tục cầu đảo mỗi khi xảy ra hạn hán. Theo lời kể của người dân địa phương, khi trời hạn kéo dài, cư dân 12 làng thuộc tổng Khương Tự xưa sẽ tổ chức lễ cầu đảo với nhiều nghi thức khác nhau. Người dân mang lễ vật, kết hợp gõ thanh la, não bạt, chiêng, trống đi khắp các làng để xua đuổi tà ma, thần trùng; đồng thời cắm cờ ngoài đồng nhằm thanh tẩy không gian và cầu mong mưa thuận gió hòa. Những nghi lễ này phản ánh rõ dấu ấn của tín ngưỡng nông nghiệp cổ truyền trong đời sống cư dân vùng Dâu - Luy Lâu.
Toàn bộ hệ thống lễ hội và nghi lễ ở vùng Dâu không chỉ phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân địa phương mà còn cho thấy sự hòa quyện chặt chẽ giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian nông nghiệp trong lịch sử văn hóa vùng Kinh Bắc. So với các trung tâm thờ Tứ Pháp khác như Văn Lâm (Hưng Yên) hay Gia Lâm (Hà Nội), lễ hội vùng Dâu có quy mô lớn, tính liên kết vùng rõ nét và còn bảo lưu được tương đối đầy đủ các nghi thức cổ truyền, các nghi lễ và hoạt động lễ hội có sự kết nối giữa nhiều chùa và cộng đồng cư dân trong cùng một không gian tín ngưỡng. Đây là nét đặc trưng nổi bật của trung tâm Tứ Pháp vùng Dâu.
Hiện nay, ngoài vùng Dâu - Luy Lâu, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp còn hiện diện ở nhiều địa phương khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Tại Hưng Yên, tiêu biểu có chùa Thái Lạc thờ Pháp Vân; tại Hà Nội có Chùa Đậu thờ Pháp Vũ và Chùa Nành thờ Pháp Vân; tại Hà Nam (Ninh Bình ngày nay) có chùa Bà Đanh thờ Pháp Vân và chùa Đặng Xá thờ Pháp Lôi… Tuy nhiên, so với các địa phương này, vùng Dâu - Luy Lâu vẫn được xem là trung tâm gốc, nơi bảo lưu rõ nét nhất hệ thống di tích, truyền thuyết, nghi lễ và lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Tứ Pháp của người Việt.
3.2. Thảo luận
Trung tâm Dâu - Luy Lâu và sự lan tỏa của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp
Có thể nhận thấy rằng, vùng Dâu - Luy Lâu được xem là nơi phát tích của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp, đồng thời là trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của Việt Nam có những nét đặc trưng riêng so với trung tâm khác, nhưng nếu so sánh với các địa phương như Hưng Yên, Ninh Bình hay Hà Nội thì số lượng di tích thờ Tứ Pháp tại trung tâm Dâu lại ít hơn hẳn. Điều này cho thấy quá trình lan tỏa của tín ngưỡng Tứ Pháp không chỉ phụ thuộc vào nơi khởi phát mà còn gắn chặt với điều kiện sinh thái và môi trường cư trú của cư dân nông nghiệp. Thực tế cho thấy, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp phát triển mạnh ở các vùng đồng bằng trũng, nơi sản xuất nông nghiệp lúa nước giữ vai trò chủ đạo và đời sống cư dân phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như mưa, nước, sấm, chớp. Chính vì vậy, tại các khu vực đồng bằng ven sông ở Hưng Yên, Ninh Bình hay Hà Nội, tín ngưỡng này được cộng đồng tiếp nhận, duy trì và mở rộng hệ thống di tích thờ tự. Ngược lại, ở khu vực trung du phía Bắc như Bắc Giang cũ, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp xuất hiện khá hạn chế. Hiện nay, chỉ còn đình Hậu ở xã Hiệp Hòa là di tích tiêu biểu thờ Pháp Lôi. Điều đó cho thấy môi trường sinh thái trung du, nơi cây lúa nước không phải yếu tố kinh tế chủ đạo như ở đồng bằng, đã ảnh hưởng đáng kể đến mức độ lan tỏa của tín ngưỡng Tứ Pháp. Đây cũng là minh chứng cho mối quan hệ chặt chẽ giữa tín ngưỡng dân gian với điều kiện tự nhiên và phương thức sinh kế của cư dân.
Giá trị đặc trưng của trung tâm Dâu - Luy Lâu
Mặc dù số lượng di tích không nhiều, nhưng vùng Dâu - Luy Lâu vẫn giữ vai trò trung tâm gốc của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp và bảo lưu nhiều lớp văn hóa cổ xưa. Các truyền thuyết về Man Nương, Khâu Đà La, Phật Thạch Quang cùng hệ thống chùa Tứ Pháp đã cung cấp những tư liệu quan trọng giúp nhận diện quá trình hình thành tín ngưỡng trong sự giao lưu và tiếp biến giữa Phật giáo với tín ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp Việt cổ. Điểm đặc sắc của vùng Dâu không chỉ nằm ở hệ thống di tích mà còn ở cấu trúc không gian tín ngưỡng mang tính liên kết vùng, nơi các chùa Tứ Pháp, chùa Tổ và cộng đồng cư dân tạo thành một chỉnh thể văn hóa thống nhất. Điều đó cho thấy tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ở vùng Dâu - Luy Lâu không đơn thuần là hoạt động tôn giáo mà còn phản ánh lịch sử hình thành bản sắc văn hóa vùng Kinh Bắc.
Lễ hội vùng Dâu - Luy Lâu và sự dung hòa tín ngưỡng - tôn giáo
Lễ hội vùng Dâu là sự tái hiện sinh động quá trình hình thành trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam, đồng thời phản ánh sự dung hòa giữa tín ngưỡng dân gian với Phật giáo trong đời sống của cư dân bản địa. Các nghi thức rước Tứ Pháp, cầu đảo, “cướp nước” hay tục thăm mẹ Man Nương… đều mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng cầu nước, cầu mùa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Thông qua lễ hội, có thể thấy các vị thần tự nhiên như mây, mưa, sấm, chớp đã được “Phật hóa” nhưng vẫn giữ vai trò là những vị thần bảo hộ cộng đồng. Điều đó phản ánh quá trình tiếp biến văn hóa mềm dẻo của người Việt khi tiếp nhận Phật giáo từ bên ngoài nhưng không loại bỏ tín ngưỡng bản địa. Mặt khác, lễ hội vùng Dâu cũng cho thấy ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên, các hệ tư tưởng và tôn giáo ngoại nhập như Phật giáo, Nho giáo khi vào Việt Nam đã có sự thích nghi và dung hòa với văn hóa dân gian bản địa. Chính quá trình dung hợp này đã tạo nên sắc thái riêng của văn hóa tín ngưỡng Việt Nam trong lịch sử.
Bản sắc văn hóa vùng Dâu - Luy Lâu trong đời sống tín ngưỡng người Việt
Từ hệ thống di tích, nghi lễ và lễ hội ở vùng Dâu - Luy Lâu có thể thấy tín ngưỡng thờ Tứ Pháp đã tồn tại lâu bền trong đời sống cư dân vùng văn hóa Kinh Bắc. Sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ Tứ Pháp với Phật giáo không chỉ tạo nên một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng đặc thù mà còn hình thành một bản sắc văn hóa riêng của vùng Dâu. Trong khi đó, ở nhiều địa phương khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ, sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian lại biểu hiện dưới những dạng thức khác nhau. Các di tích như chùa Keo (Ninh Bình), chùa Thầy hay chùa Bối Khê (Hà Nội) phản ánh mô hình “tiền Phật, hậu Thánh”, tức kết hợp thờ Phật với thờ các vị thần, thánh dân gian. So với mô hình này, hệ thống chùa Tứ Pháp ở vùng Dâu thể hiện rõ hơn quá trình “Phật hóa” các nữ thần tự nhiên, qua đó tạo nên sắc thái riêng biệt của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp trong đời sống văn hóa người Việt.
4. Kết luận
Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp là một hiện tượng văn hóa - tín ngưỡng đặc sắc của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, phản ánh quá trình con người ứng xử với tự nhiên trong môi trường sản xuất lúa nước. Sự tồn tại lâu bền của tín ngưỡng này qua nhiều giai đoạn lịch sử cho thấy, đây là một nhu cầu văn hóa, tâm linh khách quan của cộng đồng cư dân Việt cổ, đồng thời là minh chứng cho sức sống bền vững của tín ngưỡng dân gian trong đời sống xã hội Việt Nam.
Trong tiến trình hình thành và phát triển, cộng đồng cư dân giữ vai trò chủ thể trong việc tiếp nhận, sáng tạo và duy trì các giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp. Thông qua hệ thống truyền thuyết, di tích, nghi lễ và lễ hội, cư dân vùng Dâu - Luy Lâu đã tạo nên một không gian văn hóa tín ngưỡng mang đậm dấu ấn bản địa, đồng thời thể hiện sự dung hợp linh hoạt giữa tín ngưỡng dân gian với Phật giáo du nhập từ bên ngoài.
Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ở vùng Dâu - Luy Lâu vừa mang những đặc trưng phổ quát của tín ngưỡng Tứ Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ, vừa lưu giữ nhiều yếu tố riêng biệt của trung tâm khởi phát như hệ thống chùa Tứ Pháp, truyền thuyết Man Nương - Khâu Đà La, tục thờ Phật Thạch Quang và các nghi lễ cầu nước trong hội Dâu. Những giá trị ấy góp phần tạo nên bản sắc văn hóa riêng của vùng Dâu - Luy Lâu trong không gian văn hóa Kinh Bắc.
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, việc bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Tứ Pháp cần được đặt trong mối liên kết giữa trung tâm Dâu - Luy Lâu với các trung tâm lan tỏa ở Hưng Yên, Hà Nội, Ninh Bình và các địa phương khác của đồng bằng Bắc Bộ. Điều quan trọng là tránh sự đứt gãy không gian văn hóa và mạch truyền thống tín ngưỡng giữa các vùng. Trong quá trình đó, cộng đồng cư dân với vai trò là chủ thể văn hóa vẫn giữ vị trí quyết định trong việc bảo lưu, thực hành và trao truyền các giá trị của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp trong đời sống xã hội.
____________________
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Hữu Toàn. (2004). Một số sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng ở vùng Dâu. Tạp chí Di sản Văn hóa. Số 7.
2. Nguyễn Thị Thanh Mai. (2025). Tư liệu khảo sát, điền dã của tác giả.
3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh. (2012). Lý lịch di tích Kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt: Chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ Pháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tài liệu lưu hành nội bộ.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 2/6/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 13/6/2026; Ngày duyệt đăng: 27/6/2026.
NCS NGUYỄN THỊ THANH MAI
Nguồn: Tạp chí VHNT số 648, tháng 7/2026