Tóm tắt: Bài viết tiếp cận trường hợp bãi Cồn Tiên từ góc nhìn nhân học về tri thức bản địa và di sản văn hóa phi vật thể, nhằm làm rõ cách cộng đồng cư dân ven biển duy trì, thực hành và tái tạo vốn hiểu biết địa phương trong quá trình mưu sinh và thích ứng với môi trường đất ngập nước. Trên cơ sở tư liệu điền dã dân tộc học, bài viết cho thấy tri thức về lịch con nước, chu kỳ vầng trăng, độ mặn, mùa vụ không chỉ là những kinh nghiệm sản xuất đơn lẻ mà cấu thành một hệ thống tri thức thực hành được tích lũy, truyền dạy và kiểm nghiệm qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và suy thoái môi trường ven biển ngày càng trở nên nghiêm trọng, hệ tri thức này tiếp tục được vận dụng linh hoạt trong các hoạt động sinh kế, đặc biệt là mô hình vườn ươm cây bần ở bãi triều. Từ đó, các tác giả lập luận rằng tri thức bản địa của cư dân Đồng Châu có thể được nhìn nhận như một dạng văn hóa sống, tích lũy qua quá trình lao động thường nhật, được biểu đạt thông qua năng lực đọc môi trường tự nhiên. Các tri thức sinh thái của cộng đồng không ngừng được tái tạo và thích ứng và làm nên một nguồn lực văn hóa quan trọng cho bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước và phát triển sinh kế bền vững ven biển.
Tóm tắt: Bài viết tập trung luận giải hệ thống lý thuyết bổ trợ trong nghiên cứu sự chuyển dịch của nghệ thuật Xòe Thái từ không gian dân gian sang môi trường biểu diễn chuyên nghiệp. Thông qua phương pháp tiếp cận liên ngành, tác giả vận dụng đồng bộ lý thuyết nghệ thuật học, triết học văn hóa và lý thuyết các bên liên quan để phân tích quá trình biến đổi, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc chuyên nghiệp hóa Xòe Thái không chỉ là sự nâng tầm về kỹ thuật hình thể và dàn dựng sân khấu mà còn là quá trình kế thừa có chọn lọc các giá trị cốt lõi để thích ứng với đời sống đương đại. Đồng thời, bài viết khẳng định vai trò phối hợp giữa các chủ thể quản lý và nghệ sĩ trong việc định vị Xòe Thái như một biểu tượng văn hóa đặc thù, góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia và thực hiện hiệu quả đường lối phát triển văn hóa của Đảng.
Tóm tắt: Bài viết phân tích giá trị, thực trạng bảo tồn di sản Tết Khu Cù Tê - nghi lễ truyền thống đặc sắc của người La Chí ở Xín Mần (Tuyên Quang) - nghi lễ phản ánh sâu sắc đời sống tín ngưỡng, tri thức bản địa và bản sắc văn hóa tộc người. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi xã hội, việc thực hành Tết Khu Cù Tê đang đứng trước nhiều thách thức: nguy cơ mai một nghi lễ, suy giảm số người tham dự, hạn chế trong công tác lưu trữ và truyền dạy... Dựa trên tư liệu điền dã và khảo sát thực tế, kết hợp với định hướng ứng dụng công nghệ số, tác giả đề xuất các giải pháp bảo tồn Tết Khu Cù Tê trong thời đại số nhằm giữ gìn giá trị truyền thống và lan tỏa giá trị di sản bằng phương thức hiện đại.
Tóm tắt: Bài viết nhấn mạnh vai trò của tín ngưỡng thờ Mẫu như một di sản văn hóa phi vật thể sống động, gắn liền với đời sống tâm linh, nghệ thuật và bản sắc cộng đồng người Việt. Trong bối cảnh sáp nhập tỉnh Bắc Giang vào Bắc Ninh, bài viết đề xuất định vị lại không gian thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu như một hệ di sản liên vùng. Trên cơ sở hồ sơ UNESCO, Luật Di sản văn hóa và kết quả thực tiễn, tác giả kiến nghị mô hình bảo vệ di sản kết hợp giữa hành lang pháp lý, nguồn lực học thuật và cộng đồng chủ thể. Từ đó, tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ được lưu giữ mà còn phát huy giá trị trong quản lý văn hóa địa phương, xây dựng bản sắc tỉnh Bắc Ninh mới. Bài viết đóng góp một cách tiếp cận tích hợp - liên ngành và liên vùng - vào chiến lược bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam trong bối cảnh hành chính và xã hội mới.
Ngày 6-1-2026, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Văn Hùng đã ký ban hành các quyết định về việc đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể.
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu khai thác các lễ hội tiêu biểu của tỉnh Đồng Tháp hiện nay dưới góc nhìn du lịch xanh và phát triển bền vững, qua việc nhận diện các giá trị văn hóa, kinh tế, xã hội và môi trường của lễ hội, đồng thời, chỉ ra những hạn chế hiện nay như thương mại hóa, ô nhiễm rác thải và sự tham gia cộng đồng vào lễ hội. Từ đó, bài viết đề xuất hướng “xanh hóa” lễ hội thông qua phát triển sản phẩm gắn với tài nguyên bản địa, quy hoạch không gian hợp lý, tăng cường đồng quản trị lễ hội, quản lý môi trường sạch, truyền thông giáo dục ý thức xanh, góp phần hài hòa giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Đồng Tháp hiện nay.