1. Yêu cầu mới là phải tạo ra giá trị cụ thể

Sau 1 năm 6 tháng triển khai, Nghị quyết 57 đã tạo ra một chuyển động quan trọng trong nhận thức và hành động của toàn hệ thống chính trị. Điều dễ nhận thấy nhất là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là những khái niệm xa lạ, không còn bị nhìn như công việc riêng của một vài bộ, ngành chuyên môn, một số viện nghiên cứu, trường đại học hay doanh nghiệp công nghệ. Nó đã trở thành một chương trình hành động mang tầm quốc gia, gắn với từng lĩnh vực, từng địa phương, từng cấp chính quyền, từng doanh nghiệp và từng người dân.

Những kết quả được nêu tại hội nghị cho thấy nền móng ban đầu đã được hình thành. Hạ tầng số tiếp tục được đầu tư; 5G phủ sóng rộng khắp; cáp quang kết nối đến toàn bộ xã, phường; Cổng Dịch vụ công quốc gia tích hợp hàng nghìn thủ tục; dữ liệu dân cư quốc gia được hoàn thiện; VNeID với hơn 71 triệu tài khoản định danh được kích hoạt, từng bước chuyển từ ứng dụng định danh sang nền tảng tích hợp các tiện ích thiết yếu cho người dân. Ở chiều sâu hơn, Việt Nam đã xác định 10 công nghệ chiến lược, 30 sản phẩm công nghệ chiến lược và 27 bài toán lớn quốc gia. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã bước đầu làm chủ công nghệ, có sản phẩm đưa ra thị trường, có sản phẩm xuất khẩu ra khu vực và thế giới.

1511 12 52 38.jpg
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham quan không gian trưng bày sản phẩm khoa học công nghệ, trong khuôn khổ Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (13/1/2025) - Ảnh: TTXVN

Điều đáng mừng là Nghị quyết 57 không chỉ chuyển động ở tầm vĩ mô, mà đã bắt đầu hiện diện trong những câu chuyện rất cụ thể của đời sống. Khoa học công nghệ có mặt trong con tôm ở Cà Mau, cánh đồng ở Vĩnh Long, dữ liệu giám sát sâu bệnh ở Đồng Tháp, sản phẩm OCOP ở Quảng Trị, quản lý di sản và phát triển du lịch ở Ninh Bình, Tuyên Quang. Nó cũng có mặt trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm, trong chuỗi cung ứng nông sản, trong thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, trong bệnh viện, trường học, chính quyền cấp xã.

Chính cách nhìn ấy làm cho Nghị quyết 57 trở nên gần gũi, thiết thực và có sức lan tỏa. Khoa học công nghệ không phải điều gì quá cao xa. Đổi mới sáng tạo không phải khẩu hiệu trang trọng chỉ dùng trong các văn kiện. Chuyển đổi số không chỉ là phần mềm, máy tính, trung tâm dữ liệu hay những giao diện hành chính hiện đại. Tất cả phải được đo bằng một câu hỏi rất giản dị: người dân được lợi gì, doanh nghiệp lớn lên như thế nào, địa phương tăng năng suất ra sao, quốc gia có thêm năng lực gì?

Đây chính là thông điệp rất quan trọng trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Nghị quyết 57 đã qua giai đoạn tạo nền móng, giai đoạn tới phải tập trung tạo ra kết quả. Không thể bằng lòng với việc “đã ban hành văn bản”, “đã tổ chức hội nghị”, “đã thành lập ban chỉ đạo”, “đã xây dựng kế hoạch”. Những việc đó là cần thiết, nhưng chưa đủ. Một nhiệm vụ chỉ thực sự hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, có dữ liệu kiểm chứng, có người dùng thực tế và có hiệu quả đếm được.

Tư duy này có ý nghĩa rất lớn đối với đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện chính sách. Trong nhiều năm, chúng ta không thiếu nghị quyết đúng, chủ trương đúng, định hướng đúng. Điều còn thiếu là khả năng chuyển hóa những chủ trương ấy thành năng lực thực tiễn, thành sản phẩm cụ thể, thành giá trị phát triển. Vì vậy, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu “chuyển mạnh từ xây dựng cơ chế sang tạo ra sản phẩm, từ hoàn thành nhiệm vụ sang tạo ra giá trị”, đó không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật trong triển khai Nghị quyết 57, mà còn là một chuẩn mực mới của quản trị quốc gia.

Chuẩn mực ấy buộc chúng ta phải thay đổi cách nghĩ về kết quả. Kết quả không phải là số lượng văn bản được ban hành. Kết quả không phải là số cuộc họp được tổ chức. Kết quả càng không phải là những báo cáo đẹp về quy trình. Kết quả phải là công nghệ được làm chủ, dữ liệu được kết nối, thủ tục được cắt giảm, chi phí xã hội được tiết kiệm, năng suất được nâng lên, doanh nghiệp có thêm năng lực cạnh tranh, người dân được phục vụ tốt hơn, đất nước có thêm động lực tăng trưởng.

Nói cách khác, Nghị quyết 57 đang đặt ra yêu cầu hình thành một văn hóa thực thi mới: nói ít hơn bằng khẩu hiệu, làm nhiều hơn bằng sản phẩm; báo cáo ít hơn bằng thành tích hình thức, chứng minh nhiều hơn bằng dữ liệu; vận động ít hơn bằng phong trào, thuyết phục nhiều hơn bằng hiệu quả thực tế.

2. Điểm nghẽn lớn nhất là thực thi

Một trong những điểm sâu sắc nhất của bài phát biểu là sự thẳng thắn khi nhìn vào các hạn chế, điểm nghẽn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ rằng, dù chủ trương đã rõ, thể chế từng bước hoàn thiện, nguồn lực đã được bố trí, quyết tâm chính trị rất cao, khí thế hành động được khơi dậy, nhưng kết quả thực tế vẫn chưa tương xứng. Nghị quyết 57 chưa tạo được nhiều sản phẩm cụ thể, chưa đóng góp rõ nét vào tăng trưởng năng suất và năng lực quản trị quốc gia.

Điều đáng suy nghĩ là cùng một mặt bằng thể chế, cùng một cơ chế, cùng một chính sách, nhưng có nơi làm được, có nơi chưa làm được. Có địa phương đã biến khoa học công nghệ thành công cụ giải quyết những bài toán rất cụ thể của mình. Có doanh nghiệp đã dám đầu tư nghiên cứu phát triển, dám làm chủ công nghệ, dám đưa sản phẩm Việt ra thị trường. Nhưng cũng có nơi vẫn lúng túng, chờ đợi, chưa biết bắt đầu từ đâu, chưa biết dùng nguồn lực như thế nào, thậm chí có tiền nhưng không giải ngân được, có cơ hội nhưng không chuyển hóa được thành kết quả.

Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn thấp là một cảnh báo rất nghiêm túc. Chúng ta nói nhiều đến thiếu nguồn lực, nhưng nguồn lực hiện có lại chưa được sử dụng hiệu quả. Chúng ta mong muốn bứt phá, nhưng có nơi lại chậm trong triển khai. Chúng ta kỳ vọng công nghệ trở thành động lực tăng trưởng, nhưng nhiều nhiệm vụ vẫn dừng lại ở quản lý hành chính, chưa đi sâu vào sản xuất, kinh doanh, nhà máy, công trường, hợp tác xã, ngành nghề cụ thể.

Từ đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ ra một điểm nghẽn căn bản: điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là khâu thực thi, tổ chức thực hiện. Nói đến cùng, thực thi là con người, là cán bộ, là trách nhiệm của người đứng đầu.

Đây là một nhận định rất đáng suy nghĩ. Bởi trong kỷ nguyên mới, năng lực cạnh tranh của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên, vốn đầu tư hay quy mô thị trường, mà còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực thực thi của bộ máy. Một chính sách đúng nhưng thực thi yếu thì không thể tạo ra kết quả. Một cơ chế mở nhưng cán bộ không dám làm, không biết làm, không chịu trách nhiệm thì cơ chế ấy cũng khó phát huy tác dụng. Một nghị quyết có tầm nhìn chiến lược nhưng không được cụ thể hóa bằng kế hoạch rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ sản phẩm thì sẽ khó đi vào cuộc sống.

Vì vậy, yêu cầu người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, trực tiếp chỉ đạo, trực tiếp kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Nghị quyết 57 là yêu cầu hoàn toàn đúng đắn. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số không thể bị khoán trắng cho bộ phận chuyên môn. Đây phải là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Người đứng đầu trong giai đoạn này không thể chỉ biết chỉ đạo chung chung. Phải hiểu công nghệ ở mức cần thiết để ra quyết định đúng. Phải hiểu dữ liệu để tổ chức quản trị hiện đại. Phải hiểu đổi mới sáng tạo để tạo không gian cho cái mới. Phải hiểu doanh nghiệp để tháo gỡ vướng mắc thực tế. Phải hiểu người dân để thiết kế dịch vụ công thuận tiện, nhân văn. Phải hiểu địa phương mình có lợi thế gì, điểm nghẽn gì, bài toán phát triển nào cần ưu tiên giải quyết.

Từ đây, bài phát biểu đặt ra một yêu cầu rất mới về đánh giá cán bộ: kết quả thực hiện Nghị quyết 57 phải trở thành tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ. Đây là một thông điệp có tính đột phá. Bởi nếu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới, thì năng lực lãnh đạo lĩnh vực này phải trở thành một tiêu chuẩn của cán bộ trong giai đoạn mới.

Cán bộ thời kỳ mới không chỉ cần phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, năng lực quản lý hành chính, mà còn cần tư duy số, tư duy dữ liệu, tư duy đổi mới, khả năng tổ chức thực thi, khả năng hợp tác công - tư, khả năng làm việc với chuyên gia, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng. Nếu không chuẩn bị đội ngũ cán bộ như vậy, chúng ta sẽ rất khó biến Nghị quyết 57 thành động lực phát triển thực sự.

Một điểm nữa rất đáng chú ý là yêu cầu khuyến khích, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đổi mới sáng tạo luôn gắn với rủi ro. Không có môi trường thể chế đủ an toàn cho thử nghiệm, không có cơ chế bảo vệ cán bộ dám làm, không có cách đánh giá công bằng giữa sai sót do sáng tạo và sai phạm do vụ lợi, thì rất khó tạo được đột phá. Nhưng ngược lại, cũng không thể lấy danh nghĩa đổi mới để né tránh kỷ luật, làm hình thức, làm chậm trễ, gây lãng phí nguồn lực.

Do đó, thông điệp của bài phát biểu là một thông điệp rất cân bằng: phải mạnh mẽ đổi mới, nhưng phải đo bằng kết quả; phải khuyến khích sáng tạo, nhưng phải gắn với trách nhiệm; phải phân cấp, phân quyền, nhưng phải kiểm tra, giám sát; phải tạo điều kiện cho cái mới, nhưng không buông lỏng kỷ luật thực thi.

3. Từ chuyển đổi số đến năng lực quốc gia

Nghị quyết 57 không chỉ là một nghị quyết về công nghệ. Sâu xa hơn, đó là nghị quyết về năng lực phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới. Bởi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng góp phần thay đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tạo ra ngành nghề mới, sản phẩm mới, thị trường mới, năng lực tự chủ mới và vị thế mới của đất nước.

Vì vậy, bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt trọng tâm rất rõ vào bốn chủ thể hành động: Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp, đại học - viện nghiên cứu, cùng với nền tảng xuyên suốt là nguồn nhân lực.

Trước hết, các bộ, ngành Trung ương phải chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Quản lý nhà nước là cần thiết, nhưng trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ gay gắt, nếu chỉ quản lý bằng thủ tục, quy trình, cấp phép, thanh tra, kiểm tra thì chưa đủ. Trung ương phải chủ động ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn, kiến trúc tổng thể; tháo gỡ điểm nghẽn; hướng dẫn, hỗ trợ, đồng hành với địa phương; không để mỗi nơi tự mày mò, mỗi nơi một cách, đầu tư phân tán, trùng lặp, thiếu kết nối.

Đây là vấn đề rất quan trọng. Chuyển đổi số mà không có tiêu chuẩn chung sẽ dẫn đến cát cứ dữ liệu. Đổi mới sáng tạo mà không có cơ chế thử nghiệm sẽ thiếu không gian phát triển. Đầu tư công nghệ mà không có kiến trúc tổng thể sẽ gây lãng phí. Phân cấp mà không có hướng dẫn, hỗ trợ và giám sát sẽ làm địa phương lúng túng. Vì vậy, vai trò kiến tạo của Trung ương chính là tạo ra “đường ray” để các địa phương, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và người dân cùng chuyển động theo một hướng thống nhất.

Với địa phương, thông điệp cũng rất rõ: không thụ động chờ hướng dẫn, mà phải chủ động tổ chức thực hiện, sáng tạo trong phân cấp, phân quyền, chọn đúng trọng tâm, trọng điểm dựa trên điều kiện và lợi thế so sánh của mình. Không phải địa phương nào cũng làm tất cả công nghệ chiến lược, nhưng địa phương nào cũng phải biết ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào những vấn đề thiết thực nhất.

Một tỉnh có thế mạnh nông nghiệp phải biết dùng dữ liệu, tự động hóa, công nghệ sinh học, truy xuất nguồn gốc để nâng giá trị nông sản. Một địa phương có di sản phải biết dùng công nghệ số, AI, dữ liệu du lịch để bảo tồn, quảng bá và phát triển công nghiệp văn hóa. Một trung tâm đô thị phải biết dùng dữ liệu để quản lý giao thông, môi trường, y tế, giáo dục, an sinh. Một xã mới sau sắp xếp đơn vị hành chính phải biết dùng công nghệ để phục vụ người dân tốt hơn, quản trị cơ sở hiệu quả hơn, tạo ra niềm tin mới trong cộng đồng.

Địa phương trong giai đoạn mới không chỉ là nơi thực hiện chính sách, mà còn phải trở thành nơi sáng tạo chính sách, kiểm nghiệm chính sách và đóng góp vào quá trình hoàn thiện thể chế phát triển đất nước. Đây là cách nhìn rất đúng với tinh thần phân cấp, phân quyền hiện nay: Trung ương kiến tạo, địa phương chủ động, cơ sở năng động, doanh nghiệp sáng tạo, người dân thụ hưởng và tham gia.

Đối với doanh nghiệp, bài phát biểu đặt ra một vị trí trung tâm: doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, là nơi đặt hàng, tiếp nhận, ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế. Điều này rất quan trọng, bởi khoa học công nghệ sẽ khó tạo ra sức mạnh quốc gia nếu chỉ nằm trong phòng thí nghiệm, báo cáo nghiệm thu hay những chương trình hỗ trợ rời rạc. Công nghệ phải đi vào doanh nghiệp. Sáng tạo phải đi vào thị trường. Nghiên cứu phải gặp được nhu cầu thực tế. Nhà nước phải lắng nghe doanh nghiệp, tháo gỡ những vướng mắc cụ thể, không để các đề xuất tâm huyết trôi đi một cách vô vọng.

Đất nước muốn có ngành công nghiệp mới, công nghệ mới, thương hiệu công nghệ mạnh thì phải có doanh nghiệp đủ khát vọng, đủ năng lực, đủ bản lĩnh đi đầu. Các tập đoàn lớn, cả nhà nước và tư nhân, cần phát huy vai trò dẫn dắt trong làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ Việt Nam, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, hình thành các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có sức lan tỏa. Đồng thời, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cần được hỗ trợ để chuyển đổi số, nâng năng suất, tiếp cận công nghệ, dữ liệu và thị trường.

Đối với các viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ nhà khoa học, thông điệp cũng rất thẳng thắn: phải gắn nghiên cứu với thực tiễn, lấy hiệu quả ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa làm thước đo quan trọng. Cần khắc phục tình trạng nghiên cứu xa rời đời sống, kết quả nằm trong ngăn kéo, không tìm được địa chỉ ứng dụng. Đại học trong kỷ nguyên mới không thể chỉ là nơi truyền thụ kiến thức, mà phải là không gian sáng tạo, thực nghiệm, khởi nghiệp, nơi tri thức được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ và năng lực cạnh tranh.

Đặc biệt, bài phát biểu đặt ra một vấn đề căn cơ: chuẩn bị nguồn nhân lực cho Nghị quyết 57 ngay từ năm học mới. Đây là tầm nhìn rất xa. Muốn 10 năm sau có đội ngũ cán bộ, kỹ sư, nhà khoa học, chuyên gia công nghệ, doanh nhân đổi mới sáng tạo thì hôm nay phải đặt câu hỏi học ngành gì, đào tạo ra sao, ưu tiên công nghệ nào, kết nối nhà trường với doanh nghiệp thế nào, bồi dưỡng kỹ năng số cho người lao động ra sao.

Nguồn nhân lực không tự nhiên có. Cạnh tranh quốc gia trong tương lai sẽ là cạnh tranh về con người có tri thức, kỹ năng, kỷ luật, bản lĩnh và khát vọng sáng tạo. Vì vậy, chuẩn bị nguồn nhân lực hôm nay chính là chuẩn bị năng lực cạnh tranh quốc gia ngày mai. Ngành Giáo dục, các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải rà soát chương trình đào tạo, ưu tiên công nghệ chiến lược, đẩy mạnh kỹ năng số, năng lực chuyển đổi, đổi mới sáng tạo, ứng dụng AI. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành Giáo dục, mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của doanh nghiệp, gia đình và xã hội.

Ở một chiều cạnh khác, bài phát biểu cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, an ninh dữ liệu và chủ quyền quốc gia. Đây là điều kiện không thể thiếu trong chuyển đổi số. Không thể đánh đổi an ninh lấy phát triển, nhưng cũng không thể vì lo ngại rủi ro mà làm chậm đổi mới sáng tạo. Cách tiếp cận đúng là an toàn, an ninh phải được thiết kế ngay từ đầu trong mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu, nền tảng số. Phát triển và an ninh không đối lập nhau; ngược lại, an ninh là điều kiện để phát triển bền vững, còn phát triển đúng hướng sẽ củng cố năng lực tự chủ và an ninh quốc gia.

Tất cả những yêu cầu ấy quy tụ vào một thông điệp lớn: Việt Nam không thể chậm trễ trong cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu. Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Ai không bắt kịp sẽ bị bỏ lại phía sau, và khoảng cách sẽ ngày càng xa. Vì vậy, thực hiện Nghị quyết 57 phải quyết tâm hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, nhưng quan trọng hơn là phải thực chất hơn nữa, hiệu quả hơn nữa.

Nhìn tổng thể, bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ là một chỉ đạo về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đó là một thông điệp về phương thức phát triển mới của đất nước: lấy khoa học công nghệ làm nền tảng, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực, lấy chuyển đổi số làm phương thức, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy con người làm chủ thể, lấy dữ liệu và sản phẩm cụ thể làm thước đo, lấy trách nhiệm thực thi làm điều kiện bảo đảm.

Nghị quyết 57 vì thế không chỉ mở ra một chương trình hành động, mà còn đặt ra một chuẩn mực phát triển mới. Chuẩn mực ấy đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi doanh nghiệp, mỗi trường đại học, mỗi cán bộ và mỗi người dân phải tự hỏi mình: chúng ta đã tạo ra sản phẩm gì, giá trị gì, năng lực gì cho đất nước?

Khi trả lời được câu hỏi đó bằng những kết quả cụ thể, bằng những công nghệ được làm chủ, bằng những dữ liệu được kết nối, bằng những doanh nghiệp lớn lên, bằng những địa phương phát triển năng động hơn, bằng những người dân được phục vụ tốt hơn, khi đó Nghị quyết 57 sẽ không chỉ là một nghị quyết đúng, trúng, kịp thời, mà sẽ trở thành một động lực thật sự đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hùng cường và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.