Hội thảo diễn ra trong bối cảnh chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, làm thay đổi sâu sắc phương thức sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa trên toàn cầu. Đây cũng là dịp cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội, hướng tới mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia.

Trong phát biểu khai mạc, TS Nguyễn Anh Vũ – Tổng Biên tập Báo Văn hóa, Trưởng Ban Tổ chức hội thảo nhấn mạnh, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng trước biến động nhanh của thời đại số. Trong bối cảnh đó, văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là nền tảng phát triển, nguồn lực nội sinh quan trọng và sức mạnh mềm quốc gia, góp phần hình thành bản lĩnh, khát vọng và năng lực sáng tạo của con người Việt Nam.

Theo TS Nguyễn Anh Vũ, hội thảo không chỉ nhằm quán triệt tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW mà còn hướng tới đánh giá thực trạng, nhận diện cơ hội, thách thức và đề xuất giải pháp phát triển công nghiệp văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Các nội dung trọng tâm gồm đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam, phân tích cơ hội bứt phá trong kỷ nguyên số và đề xuất các giải pháp phát triển trong thời gian tới.

Hoàn thiện thể chế, phát triển hệ sinh thái và nguồn lực công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số

TS Nguyễn Anh Vũ cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo phát triển, xây dựng khung pháp lý linh hoạt phù hợp với đặc thù các ngành sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và các mô hình khởi nghiệp văn hóa. Cùng với đó là phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa gồm không gian sáng tạo, trung tâm sản xuất, nền tảng phân phối, thị trường bản quyền và hệ thống dữ liệu. Công nghiệp văn hóa chỉ có thể phát triển bền vững khi các yếu tố này được kết nối đồng bộ.

Ong Anh Vu.jpg
TS Nguyễn Anh Vũ - Tổng biên tập Báo Văn hóa  phát biểu khai mạc và đề dẫn   -  Ảnh: BTC 

Một giải pháp then chốt khác là phát triển nguồn nhân lực sáng tạo, kết hợp giữa chuyên môn nghệ thuật, năng lực công nghệ, tư duy thị trường và khả năng hội nhập quốc tế. Đồng thời cần có chính sách thu hút nhân tài, khuyến khích đổi mới sáng tạo và hỗ trợ khởi nghiệp trong lĩnh vực văn hóa. Bên cạnh đó là thúc đẩy hợp tác công - tư, huy động nguồn lực xã hội, xây dựng các quỹ hỗ trợ sáng tạo và trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa; lựa chọn một số lĩnh vực mũi nhọn để đầu tư trọng điểm, gắn với phát triển du lịch và ngoại giao văn hóa nhằm đưa các sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.

Trình bày tham luận về triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW - Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số, ông Lê Minh Tuấn – Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ VHTTDL) khẳng định nghị quyết đã đặt công nghiệp văn hóa vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “hành chính – sự nghiệp” sang “kinh tế sáng tạo – thị trường văn hóa”.

Theo Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, đóng góp khoảng 7% GDP, tạo việc làm cho khoảng 6% lực lượng lao động và hình thành 5–10 thương hiệu quốc gia trong các ngành trọng điểm.

Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, blockchain, thực tế ảo và các nền tảng phân phối nội dung xuyên biên giới đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Vì vậy, Việt Nam cần gắn phát triển công nghiệp văn hóa với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng nền kinh tế tri thức.

Ong Tuan.jpg
Ông Lê Minh Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả trình bày tham luận  - Ảnh: BTC 

Kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc cho thấy các ngành nội dung số như game, âm nhạc số, phim trực tuyến, hoạt hình, truyện tranh và xuất bản số đang tạo ra giá trị kinh tế rất lớn. Điều đó cho thấy công nghiệp văn hóa số đang trở thành động lực tăng trưởng quan trọng trên phạm vi toàn cầu.

Theo ông Lê Minh Tuấn, công nghệ số đóng vai trò then chốt trong việc thay đổi phương thức sản xuất, phân phối và mở rộng thị trường văn hóa toàn cầu; đồng thời góp phần lưu trữ, bảo tồn và tái sinh giá trị văn hóa, thúc đẩy ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia.

Để phát triển công nghiệp văn hóa số, cần tập trung vào phát triển hạ tầng công nghệ, xây dựng nền tảng phân phối nội dung trong nước; số hóa di sản và dữ liệu văn hóa; đào tạo nhân lực liên ngành văn hóa – công nghệ – kinh tế; xác định ngành mũi nhọn có lợi thế cạnh tranh; hoàn thiện khung pháp lý về bản quyền và đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu sản phẩm văn hóa.

Trong tham luận “Hoàn thiện thể chế phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số”, PGS,TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, nhấn mạnh rằng nhận thức toàn cầu về văn hóa đã thay đổi căn bản: văn hóa không chỉ là lĩnh vực bảo tồn mà còn là nguồn lực phát triển tạo giá trị gia tăng, việc làm và sức mạnh mềm quốc gia.

Sự phát triển của AI, dữ liệu lớn và nền tảng số đang tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Hoạt động sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng ngày càng dịch chuyển mạnh lên môi trường số, mở ra cơ hội lớn cho điện ảnh số, âm nhạc số, game, thiết kế số và nội dung sáng tạo.

Tại Việt Nam, quá trình hoàn thiện thể chế từ sau Nghị quyết 33-NQ/TW đã từng bước chuyển từ mô hình quản lý sang kiến tạo môi trường sáng tạo, phát triển thị trường văn hóa và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Các chương trình chuyển đổi số quốc gia, chương trình mục tiêu phát triển văn hóa và các đề án thành phố sáng tạo đã góp phần mở rộng không gian phát triển.

PGS TS Thu Phuong.jpg
PGS,TS Nguyễn Thị Thu Phương trình bày tham luận về hoàn thiện thể chế phát triển các ngành công nghiệp văn hóa  - Ảnh: BTC 

Tuy nhiên, thách thức lớn hiện nay là khoảng cách giữa tốc độ biến đổi của môi trường sáng tạo số và khả năng thích ứng của hệ thống quản trị truyền thống. Vì vậy, việc triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW cần chuyển từ tư duy hỗ trợ đơn thuần sang xây dựng thể chế có khả năng kiến tạo và dẫn dắt hệ sinh thái sáng tạo.

Bà Phương nhấn mạnh, hoàn thiện thể chế phát triển công nghiệp văn hóa phải được đặt trong tổng thể quá trình hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia thời kỳ mới. Năng lực cạnh tranh văn hóa không chỉ được quyết định bởi tài nguyên di sản hay quy mô thị trường mà còn bởi khả năng tạo lập môi trường thuận lợi để sáng tạo trở thành động lực phát triển, góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên số.

Để đạt mục tiêu, bà Phương đề xuất cần cụ thể hóa cơ chế tài chính, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, đổi mới cơ chế đặt hàng theo hiệu quả đầu ra, tăng cường quản trị liên ngành và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Đồng thời, cần phát triển hệ sinh thái sáng tạo tại địa phương, xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa và hệ thống chỉ số đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, hoạch định chính sách và thu hút đầu tư cho các ngành công nghiệp văn hóa. 

Đổi mới đào tạo, phát triển nhân lực và phát triển công nghiệp văn hóa của TP.HCM 

Trong tham luận về đào tạo nhân lực, TS Trịnh Đăng Khoa – Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Văn hóa TP.HCM nhấn mạnh, đổi mới đào tạo là điều kiện tiên quyết để vận hành hiệu quả hệ sinh thái sáng tạo, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Việc chuyển từ mô hình “quản lý” sang “quản trị” vì vậy mang ý nghĩa chiến lược, quyết định chất lượng phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.

Ts Khoa.jpg
TS Trịnh Đăng Khoa đề xuất những giải pháp về đổi mới đào tạo nhân lực văn hóa nghệ thuật  - Ảnh: BTC 

Theo ông những năm qua, hệ thống đào tạo nhân lực văn hóa ở Việt Nam đã có bước phát triển nhất định, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ phục vụ quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, nguồn nhân lực vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Chương trình đào tạo còn nặng về tư duy hành chính, chủ yếu tập trung vào thực thi chính sách, trong khi thiếu các nội dung về quản trị hệ sinh thái sáng tạo và chuỗi giá trị văn hóa. Bên cạnh đó, năng lực kết nối giữa sáng tạo – thị trường – công nghệ còn hạn chế; kỹ năng chuyển đổi số và khai thác dữ liệu văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Đặc biệt, sự liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp văn hóa và không gian sáng tạo còn lỏng lẻo, làm giảm khả năng thực hành và thích ứng nghề nghiệp của người học.

TS Trịnh Đăng Khoa đề xuất, cần chuyển từ mô hình “quản lý văn hóa” sang “quản trị văn hóa”, hướng tới đào tạo liên ngành giữa văn hóa, kinh tế, truyền thông và công nghệ. Nội dung đào tạo cần tập trung vào quản trị dự án văn hóa, phát triển sản phẩm, quản trị nội dung số và khai thác dữ liệu. Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong đào tạo, phát triển mô hình liên kết studio – lab – hub giữa nhà trường và doanh nghiệp, gắn đào tạo với thực tiễn sáng tạo, đồng thời bồi dưỡng và tái đào tạo đội ngũ hiện có để thích ứng yêu cầu mới.

Dưới góc độ quản lý nhà nước, bà Nguyễn Thị Thanh Thúy- Phó Giám đốc Sở VHTT TP.HCM đánh giá hệ thống 73 tham luận tại hội thảo là nguồn dữ liệu có giá trị thực tiễn cao, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho quá trình xây dựng chính sách phát triển công nghiệp văn hóa.

Thanh Thuy.jpg
Bà  Nguyễn Thị Thanh Thúy - Phó Giám đốc Sở VHTT TP.HCM khái quát về phát triển công nghiệp văn hóa của TP.HCM  - Ảnh: BTC 

Thông tin về việc triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW, bà cho biết TP.HCM đã ban hành chương trình hành động và kế hoạch thực hiện cụ thể. Các sở, ngành và toàn bộ hệ thống chính trị thành phố cũng xây dựng kế hoạch riêng nhằm bảo đảm triển khai đồng bộ nghị quyết trong bối cảnh phát triển mô hình siêu đô thị và chính quyền hai cấp.

Theo bà Thúy, TP.HCM đang sở hữu nhiều lợi thế nổi bật, đặc biệt trong lĩnh vực sáng tạo nội dung số như điện ảnh, truyền hình, trò chơi điện tử và các nền tảng số. Hệ sinh thái doanh nghiệp sáng tạo cùng cộng đồng người dùng số đông đảo tạo nền tảng thuận lợi để công nghiệp văn hóa bứt phá. Thành phố cũng đang thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, phát triển hạ tầng dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị đô thị, hướng tới mô hình đô thị thông minh, bền vững.

Tuy nhiên, công nghiệp văn hóa vẫn đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn về thể chế, dữ liệu và nguồn nhân lực. Đây là lĩnh vực liên ngành nhưng hiện chưa có một bộ luật thống nhất, đồng thời còn thiếu các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và quỹ đầu tư sáng tạo. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghiệp văn hóa cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu sự đồng bộ trong thu thập và quản lý dữ liệu.

Về hạ tầng, TP.HCM đang đẩy mạnh đầu tư các thiết chế văn hóa trọng điểm như Rạp xiếc đa năng Phú Thọ, đồng thời hướng tới xây dựng hệ thống phim trường đạt chuẩn quốc tế, trung tâm hậu kỳ điện ảnh và các tổ hợp tổ chức sự kiện quy mô lớn. Khu trung tâm hành chính và nhà hát lớn tại Thủ Thiêm cũng đã được khởi công, mở ra kỳ vọng về những thiết chế văn hóa mang tầm quốc tế. Bà Thúy nhấn mạnh sở hữu trí tuệ cần được xem là tài sản chiến lược của công nghiệp văn hóa, bởi đây là yếu tố quyết định giá trị và tính bền vững của các ngành công nghiệp nội dung. Đồng thời kiến nghị nghiên cứu đưa công nghiệp văn hóa vào hệ thống thống kê quốc gia nhằm tạo cơ sở cho công tác quản lý và hoạch định chính sách.

Van nghe chao mung.jpg
Một tiết mục văn nghệ tại Hội thảo   - Ảnh: BTC 

Hội thảo Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số cũng tổ chức hai phiên thảo luận chuyên sâu về “Khơi thông nguồn lực để phát triển công nghiệp văn hóa” và “Bứt phá phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số”. Khép lại hội thảo, các đại biểu thống nhất rằng phát triển công nghiệp văn hóa là lĩnh vực rộng lớn, đòi hỏi tiếp tục bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn thông qua các diễn đàn chuyên môn. Chỉ khi có cơ chế phù hợp, nguồn lực đủ mạnh và sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, giới sáng tạo và các cơ sở đào tạo, công nghiệp văn hóa mới có thể trở thành động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số.