

“Đất có ấm, người có phúc thì ong mới về”
Giữa lòng Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải (Thái Nguyên), có một ngôi nhà hình lục lăng nằm trên đỉnh đồi cao nhất. Người dân nơi đây gọi đó là Nhà ong Pháp - Tày.
Người Tày quan niệm rằng: “Đất có ấm, người có phúc thì ong mới về”. Với đồng bào dân tộc Tày, con ong không đơn thuần là một loài côn trùng cho mật mà còn là một thực thể văn hóa, một “sứ giả” mang thông điệp của trời đất, loài ong là biểu tượng của sự chăm chỉ, kỷ luật và tính cộng đồng cao nhất. Vì vậy, nghề nuôi ong của người Tày thấm đẫm ý nghĩa giáo dục cộng đồng. Ông Trần Huy Khoa, người trực tiếp quản lý Nhà ong Pháp - Tày chỉ cho tôi: “Hãy nhìn vào một tổ ong: mỗi thành viên từ ong chúa, ong thợ đến ong đực đều có vai trò riêng biệt nhưng luôn vận hành nhịp nhàng vì lợi ích chung. Khi tổ ong bị đe dọa, cả đàn sẵn sàng đồng lòng bảo vệ “giang sơn” của mình. Đó cũng là là hình ảnh phản chiếu của bản làng người Tày, nơi tinh thần cộng đồng được đặt lên trên hết.”
Trong giáo dục truyền thống của người Tày, hình ảnh tổ ong thường được các bậc cao niên dùng để dạy bảo con cháu, rằng: “Con người phải sống như loài ong, biết gom góp nhặt nhạnh từ những thứ nhỏ nhất để làm nên mật ngọt cho đời, và phải biết nương tựa vào nhau để vượt qua bão tố”. Nuôi ong, vì thế, còn là cách để người Tày thực hành lối sống hòa hợp với thiên nhiên. Họ hiểu quy luật của rừng, biết mùa nào hoa nở, hướng nào gió thổi để đặt tổ.
Mật ong trong văn hóa Tày còn được ví như “sứ giả gieo duyên”. Giọt mật tinh túy từ hoa rừng không chỉ là vị thuốc quý chữa bệnh, làm đẹp da hay bồi bổ sức khỏe mà còn là vật phẩm kết nối các mối quan hệ xã hội. Khi có khách quý đến chơi nhà, người Tày thường pha trà với mật ong để mời, như một cách bày tỏ lòng hiếu khách.

Bà Nguyễn Thị Thanh Hải, Trưởng làng Thái Hải - người phụ nữ đã dành cả đời để giữ gìn hồn cốt của dân tộc Tày - kể lại rằng, những ngày đầu khi làng mới hình thành, trong một buổi làm việc, bà bỗng phát hiện một tổ ong mật nhỏ xuất hiện ngay dưới gầm bàn của mình. Thay vì xua đuổi, bà Hải chỉ nhẹ nhàng chuyển sang ngồi làm việc ở một chiếc bàn khác. Vài ngày sau, đàn ong lại “di cư” theo, tiếp tục đóng tổ ngay dưới chân chiếc bàn mới của bà. Trong tâm thức của người Tày, đây không phải sự trùng hợp. Đó là việc “ong tìm người”, một sự khẳng định rằng mảnh đất này đã thực sự trở nên ấm áp, an lành đến mức loài ong - vốn rất nhạy cảm với không khí và thời tiết - đã chọn gửi gắm niềm tin.
Tin vào thông điệp của tự nhiên, bà Hải quyết định phát triển nghề nuôi ong cho làng. Trọng trách này được giao cho ông Trần Huy Khoa, một người con của bản làng vốn tính tỉ mỉ và yêu thiên nhiên. Từ những tổ ong tự nhiên ban đầu, ông Khoa đã dày công nhân giống, học hỏi cách đóng thùng gỗ, cách bảo vệ ong khỏi kẻ thù tự nhiên để nhân đàn. Từ 2 tổ, rồi 5 tổ, 10 tổ… tiếng rì rào của đàn ong bắt đầu trở thành một phần âm thanh đặc trưng của bản làng Thái Hải.
Ông Trần Huy Khoa rủ rỉ, ở Thái Hải ong được coi là bạn, là thành viên đặc biệt của làng. Ông và bà con chỉ dựng tổ, bảo vệ rừng, để ong tự do bay về - như trở về nhà. Và mỗi mùa mật đến là một mùa tri ân. Người trong bản cảm ơn ong đã tin mà về, cảm ơn rừng đã nuôi dưỡng. Còn bầy ong trả ơn con người biết giữ gìn và sống hài hòa bằng mật ngọt. Ông bảo rằng, với những người dân ở nơi đây, “làm mật” không phải là “lấy mật”, mà là “chia sẻ với ong một phần của sự sống.”


Nghệ thuật nuôi ong - Tri thức bản địa hòa quyện cùng khoa học
Bước ngoặt lớn nhất của nghề nuôi ong tại đây đến vào năm 2017, khi làng Thái Hải đón một vị khách đặc biệt từ phương Tây - ông Michel Feintrenie. Tại nước Pháp xa xôi, ông Michel được mệnh danh là “Vua ong”. Ông sở hữu một ngôi làng nuôi tới 3.000 tổ ong và có khả năng giao tiếp kỳ diệu với loài vật này. Người ta kể rằng, ông có thể đứng giữa hàng vạn con ong, để chúng đậu kín người mà không hề bị đốt.
Khi đến Thái Hải, ông Michel bàng hoàng trước khung cảnh thanh bình và cách người Tày đối xử với thiên nhiên. Trong ba tuần lưu trú, ông dành phần lớn thời gian để quan sát những đàn ong nhộn nhịp đi lấy mật hoa rừng. Ông Michel nói với bà Hải bằng tất cả sự chân thành: “Ong ở đây rất đặc biệt, chúng mang năng lượng của sự bình yên. Chúng đã nói với tôi rằng đây là nhà của chúng và tôi cũng muốn đây là nhà của mình.”
Mối duyên nợ ấy đã khai sinh ra Nhà ong Pháp - Tày. Ông Michel đề xuất một thiết kế đặc biệt: ngôi nhà hình lục lăng. Hình dáng này vừa mô phỏng cấu trúc tổ ong bền vững nhất trong tự nhiên, vừa gợi nhớ đến hình dáng của bản đồ nước Pháp (vốn được gọi là L’Hexagone - Hình lục lăng). Ngôi nhà được đặt trên đỉnh đồi cao nhất, nơi hội tụ linh khí, đón những tia nắng đầu tiên của ngày mới. Kể từ đó, nghề nuôi ong tại Thái Hải vươn tầm chuyên nghiệp. Mỗi khi có dịp trở lại Việt Nam, “Vua ong” Michel lại cùng ông Khoa lên đồi, tỉ mẩn kiểm tra từng cầu ong, truyền dạy những kỹ thuật tiên tiến của châu Âu nhưng vẫn tôn trọng tối đa tri thức bản địa của người Tày. Ngôi nhà lục lăng giờ đây không chỉ là nơi sản xuất mật, mà là biểu tượng của tình hữu nghị và sự trân trọng giá trị văn hóa giữa hai dân tộc cách nhau nửa vòng trái đất.
Ông Trần Huy Khoa chia sẻ rằng nuôi ong tại Việt Nam là một “cuộc chơi” đầy thách thức, khác hẳn với khí hậu ôn đới ở Pháp. “Ở châu Âu, thời tiết lạnh nhưng ổn định, ong có thể nghỉ ngơi lâu. Còn ở ta, thời tiết khắc nghiệt, lúc nắng nóng gay gắt, lúc nồm ẩm, lúc lại rét đậm rét hại. Nguồn hoa rừng cũng thay đổi theo từng mùa, buộc mình phải hiểu ong như hiểu chính con cái mình” - ông Khoa tâm sự.
Ông Khoa học được cách “đọc” tâm trạng của ong chúa để điều tiết việc chia đàn, cách giữ ấm cho thùng ong bằng vật liệu tự nhiên của bản làng. Khó khăn nhất là vào mùa Đông, khi hoa rừng khan hiếm, đàn ong dễ bị đói và “bốc bay” (bỏ tổ đi tìm nơi khác). Nếu như nhiều nơi dùng đường để nuôi ong qua mùa lạnh, thì ở Thái Hải, để giữ được chất lượng mật tinh khiết, ông Khoa đã học hỏi và sáng tạo ra một “thực đơn” đặc biệt cho ong: bột đậu tương rang thơm nức, trộn cùng lòng đỏ trứng gà, sữa chua và một chút bia. Hỗn hợp này giúp ong dễ tiêu hóa, tăng sức đề kháng mà vẫn giữ được bản tính tự nhiên. Sản phẩm mật ong Thái Hải vì thế mang một chất lượng vượt trội: vàng óng, thơm mùi hoa rừng tổng hợp (từ hoa keo, hoa nhãn đến các loài hoa dại không tên), vị ngọt thanh đặc trưng và tuyệt đối không có dư lượng đường công nghiệp.
Quy trình khai thác mật tại Thái Hải cũng vô cùng nhân văn. Dân làng chỉ lấy mật vào mùa hoa rộ nhất (từ tháng 2 đến tháng 5), và luôn để lại một lượng mật đủ lớn để ong “dự trữ”. Họ quan niệm mật ong là “lộc trời”, mà lộc thì không nên hưởng tận!

Giá trị kinh tế bền vững và tương lai của nghề nuôi ong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Nhìn rộng ra từ mô hình Thái Hải, nghề nuôi ong đang chứng minh là một hướng đi hiệu quả cho công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững tại các vùng dân tộc thiểu số. Việt Nam hiện có hơn 1,2 triệu đàn ong, tập trung chủ yếu tại các khu vực có diện tích rừng tự nhiên và vườn cây ăn quả lớn như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên... Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, nghề nuôi ong không chỉ là hoạt động sản xuất mà còn là sự kết tinh của tri thức bản địa trong việc thích nghi với môi trường sống.
Tại các tỉnh như Lai Châu, nơi có tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 51,5%, hay Cao Bằng và Hà Giang, địa hình núi cao đã tạo nên những nguồn mật đặc hữu. Đặc biệt, trên vùng cao nguyên đá Hà Giang, hoa bạc hà đã tạo nên loại “vàng lỏng” quý giá, trong khi tại vùng rừng nguyên sinh Ngọc Linh (Kon Tum, Quảng Nam), loài ong hút mật từ sâm Ngọc Linh và các cây dược liệu đã cho ra đời loại mật ong đắng có giá trị y học cao. Nếu người Mông coi mật ong bạc hà là sản vật của đá tai mèo, người Bru-Vân Kiều dùng sáp ong làm vật trang trí linh thiêng, thì người Xê Đăng lại có kỹ nghệ “dụ” ong rừng về làm tổ trong thân cây mục. Những phương thức này không chỉ khai thác giá trị kinh tế mà còn góp phần duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường thông qua quá trình thụ phấn tự nhiên.
Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, nghề nuôi ong đang trực tiếp giúp bà con dân tộc thiểu số xóa đói giảm nghèo hiệu quả. Tại Sơn La, nghề nuôi ong mang lại giá trị ước tính 230 - 250 tỷ đồng mỗi năm. Tại Quảng Bình, những người phụ nữ Bru-Vân Kiều đã biến mật ong Trường Sơn thành sản phẩm OCOP 3 sao, mang lại thu nhập hàng chục triệu đồng/người/năm - một con số ấn tượng ở vùng biên giới khó khăn. Còn tại Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai, nghề nuôi ong “vốn ít, lãi khá” đang được thanh niên địa phương chú trọng phát triển để làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương.
Sự chuyển dịch từ phương thức nuôi thủ công sang chuyên nghiệp đang được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các chính sách cấp địa phương và trung ương. Nghị quyết 30A của Chính phủ hay Nghị quyết 07/2021 của HĐND tỉnh Lai Châu về phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung là những minh chứng điển hình. Theo đó, nhà nước không chỉ hỗ trợ về vốn mà còn phối hợp với các đơn vị như Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ong Quốc gia để tập huấn kỹ thuật chăm sóc, phòng bệnh cho bà con.
Nghề nuôi ong hiện nay không còn dừng lại ở quy mô hộ gia đình tự cung tự cấp mà đã hướng tới xây dựng thương hiệu địa phương. Việc đưa mật ong vào chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo ra nguồn lực kinh tế mới, nâng cao giá trị cạnh tranh trên thị trường. Bằng cách kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống và công nghệ hiện đại, các thế hệ trẻ đang biến những sản vật đặc trưng của đại ngàn thành các sản phẩm hàng hóa có giá trị cao, góp phần chuyển đổi phương thức sản xuất tại địa phương theo hướng bền vững và chuyên nghiệp hóa.
Còn tại những làng du lịch cộng đồng như Thái Hải, nghề nuôi ong không chỉ nhằm mục đích thương mại mà Nhà ong Pháp - Tày còn đóng vai trò như một bảo tàng văn hóa thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Du khách đến đây được cảm nhận những nét văn hóa độc đáo của dân tộc Tày. Trẻ em được học về sự cần mẫn của loài ong, từ đó thấm nhuần bài học về lòng trung thành và tình yêu lao động.

LÊ MINH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 641, tháng 4-2026