Nền kinh tế thuê bao và những thay đổi với thị trường điện ảnh

Công điện 38/CĐ-TTg ngày 5/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về “Tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ” đã thay đổi hoàn toàn thị trường điện ảnh và truyền hình trực tuyến tại Việt Nam. Từ thói quen kéo dài nhiều năm là tìm kiếm các đường dẫn trái phép trên mạng để thưởng thức nội dung miễn phí, giờ đây, người dùng sẽ phải quen dần với việc trả phí hằng tháng cho các nền tảng phát trực tuyến. Những dịch vụ trả phí hằng tháng như vậy tạo nên một thị trường mang tên “nền kinh tế thuê bao”.

Ngày càng nhiều người dùng chuyển sang các nền tảng trả phí với các gói dịch vụ hợp lý
Ngày càng nhiều người dùng chuyển sang các nền tảng trả phí với các gói dịch vụ hợp lý

Thanh lọc thị trường phim trực tuyến tại Việt Nam

Chỉ tính riêng trong khoảng thời gian từ ngày 5/5 đến 30/5/2026, cả nước đã phát hiện 2.036 vụ có dấu hiệu vi phạm, xử lý hành chính đối với 1.616 vụ việc, thu về tổng số tiền xử phạt lên đến 17,9 tỉ đồng. 1.600 tổ chức, cá nhân đã bị xử lý theo quy định pháp luật. Trên không gian mạng, các cơ quan chức năng ngăn chặn truy cập tổng cộng 1.073 website vi phạm. Sự sụp đổ của các đế chế nội dung lậu này được thể hiện rõ qua việc có 263 website phim lậu bị chặn. Đồng thời, 612 trang truyền hình trái phép cũng bị đóng cửa. Ngoài ra, cơ quan chức năng còn đánh sập 177 website truyện lậu, ngăn chặn 21 website bán hàng giả, hàng lậu.

Bộ Công an đã trực tiếp phát hiện, điều tra và xác minh 148 vụ việc, ngăn chặn hơn 1.000 trang web vi phạm bản quyền. Đáng chú ý, chiến dịch này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng về mặt tư pháp khi chuyển sang xử lý hình sự, với 44 vụ án đã được khởi tố liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể hơn, 43 vụ án đã được phê duyệt quyết định khởi tố. Quá trình tố tụng ghi nhận 5 vụ án đã được truy tố. Đồng thời, 4 vụ được tòa án thụ lý và đưa ra xét xử.

Sự dịch chuyển thói quen của người dùng sang nền kinh tế thuê bao

Nền kinh tế thuê bao (Subscription Economy) là mô hình kinh doanh trong đó người tiêu dùng trả một khoản phí định kỳ (hằng tuần, hằng tháng, hoặc hằng năm) để được quyền truy cập và sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ, thay vì mua đứt bán đoạn hoặc mua gói dùng vĩnh viễn. Đây không phải mô hình mới ở Việt Nam, vốn đã tồn tại dưới dạng hóa đơn internet, truyền hình, thuê bao điện thoại… trả phí hằng tháng. Tuy vậy, việc các nhà phát hành phim trực tuyến áp dụng mô hình này sẽ giúp họ có nguồn thu ổn định, đồng thời giữ chân người dùng và duy trì hệ thống vận hành.

Khi các nguồn cung cấp nội dung lậu ồ ạt bị cắt đứt và đánh sập, hàng triệu người dùng internet tại Việt Nam không còn lựa chọn ngoài việc bắt đầu trích hầu bao chi trả cho các dịch vụ chính thống. Việc xem phim bản quyền trên các nền tảng trả phí chất lượng cao không còn bị đại đa số coi là một sự lãng phí tiền bạc vô ích, mà dần trở thành một thói quen giải trí mới.

Thay vì phải thao tác tìm kiếm các đường dẫn ẩn chứa đầy rủi ro mã độc, phải xem những đoạn quảng cáo cờ bạc độc hại, cá độ bóng đá phiền toái, người dùng được tận hưởng một không gian điện ảnh sạch tuyệt đối. Các nhà phát hành cung cấp chất lượng hình ảnh sắc nét, hệ thống âm thanh vòm không gian sống động và một giao diện thao tác mượt mà, không bao giờ bị gián đoạn giữa chừng với hệ thống máy chủ được đảm bảo. Hơn nữa, các gói dịch vụ trả phí còn có chức năng chia sẻ giữa nhiều người dùng, giúp giảm chi phí đáng kể.

Sự dịch chuyển thói quen này còn được cộng hưởng bởi nền văn hóa tiêu thụ nội dung lưu lượng lớn. Khán giả hiện đại không còn kiên nhẫn để chờ đợi từng tập phim nhỏ giọt được phát sóng định kỳ hằng tuần, và họ cũng không muốn mất thời gian tải từng tệp video khổng lồ về lưu trữ trong máy tính. Họ sẵn sàng mở hầu bao trả phí cố định hằng tháng để có đặc quyền cày xuyên đêm toàn bộ các bộ phim dài tập, các chương trình giải trí thực tế ngay khi chúng vừa được nhà sản xuất phát hành trọn bộ. Các nền tảng phát hành đã nắm bắt xuất sắc tâm lý này, cung cấp hàng loạt các gói cước đa dạng, tiện lợi và dễ tiếp cận với số đông người dùng.

Bộ phim Tiếng yêu này, anh có dịch được không? chiếu độc quyền trên Netflix đã thu hút lượng lớn người xem
Bộ phim Tiếng yêu này, anh có dịch được không? chiếu độc quyền trên Netflix đã thu hút lượng lớn người xem

Thách thức trong hệ sinh thái mới

Dẫu vậy, nền kinh tế thuê bao đã tạo ra một hệ sinh thái điện ảnh mới với nhiều thách thức cho những nền tảng cung cấp, nhà sản xuất nội dung và ngay cả những khán giả.

Đối với các nền tảng phát trực tuyến, áp lực lớn nhất là cuộc đua không hồi kết về nội dung độc quyền. Khi công nghệ phát sóng trực tuyến và chất lượng hình ảnh đã đạt đến mức bão hòa, yếu tố duy nhất có khả năng giữ chân người dùng chính là sức hút của các tác phẩm được chiếu độc quyền. Các nền tảng phải liên tục đổ những khoản ngân sách khổng lồ để đầu tư sản xuất hoặc mua đứt bản quyền những dự án điện ảnh bom tấn. Trong cuộc đua tốn kém này, các nền tảng nội địa phải đối diện với sự cạnh tranh gay gắt từ các đơn vị đa quốc gia như Netflix. Doanh thu của nền tảng phát trực tuyến này tại Việt Nam ước tính đạt khoảng 30 triệu USD mỗi năm với 1,13 triệu thuê bao trên toàn quốc, đứng thứ 2 về thị phần tại Việt Nam. Netflix cung cấp các gói dịch vụ có mức phí dao động từ 70.000 đồng/tháng (gói Di động) đến 260.000 đồng/tháng (gói Cao cấp), dễ dàng tiếp cận số đông người dùng tại Việt Nam. Ưu thế của nền tảng này đến từ kho nội dung đa dạng, từ các bộ phim dài tập đến điện ảnh của nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài ra nền tảng này còn cung cấp các bộ phim tài liệu, chương trình truyền hình thực tế và chương trình hoạt hình. Để giành lại thị phần, các nền tảng Việt Nam đã khôn ngoan lựa chọn đầu tư mạnh tay vào các chương trình truyền hình thực tế mang đậm bản sắc văn hóa đương đại. Sự thành công vang dội của các siêu dự án truyền hình như Anh trai say hi hoặc Anh trai vượt ngàn chông gai đã giúp các nền tảng nội địa lôi kéo về một lượng khổng lồ người dùng mới, quyết tâm tận dụng vị thế sân nhà. Từ 2024, FPT Play đã vượt qua Netflix để trở thành nền tảng phát trực tuyến phổ biến nhất tại Việt Nam với khoảng 39% thị phần. Nền tảng này tận dụng tuyệt đối ưu thế với các nội dung nội địa, đồng thời sở hữu bản quyền các giải đấu thể thao được đông đảo khán giả theo dõi như Ngoại hạng Anh, Vleague…

Đối với các nhà sản xuất độc lập, các đạo diễn và biên kịch, nền kinh tế thuê bao mang đến áp lực về chất lượng sản phẩm, cụ thể là tư duy kịch bản và nhịp độ dựng phim. Trong kỷ nguyên số, quan trọng nhất là thu hút được sự chú ý và giữ chân khán giả. Họ có thể bấm nút bỏ qua, tua nhanh hoặc thoát hẳn khỏi bộ phim chỉ trong chớp mắt nếu cảm thấy tiết tấu bộ phim quá chậm rãi hoặc không đủ thu hút. Do đó, các nhà làm phim buộc phải tạo ra những tình huống kịch tính ngay từ những phút đầu tiên để khán giả tò mò. Nếu không giữ chân được người xem, tác phẩm sẽ lập tức bị thuật toán trí tuệ nhân tạo đánh giá thấp trên danh sách đề xuất và không có cơ hội tiếp cận người xem.

Cuối cùng, nền kinh tế thuê bao đặt ra những thách thức tác động trực tiếp đến túi tiền và khả năng quản lý tài chính cá nhân của khán giả. Vấn đề đầu tiên xuất phát từ sự phân mảnh bản quyền nội dung. Do mỗi nền tảng trực tuyến chỉ nắm giữ một số lượng phim ảnh hoặc chương trình nhất định, người dùng buộc phải mua cùng lúc nhiều gói dịch vụ khác nhau để đáp ứng nhu cầu giải trí đa dạng. Việc gia tăng số lượng hóa đơn hằng tháng này dẫn đến hiện tượng sự mệt mỏi khi đăng ký thuê bao (subscription fatigue), khiến người dùng cảm thấy quá tải và áp lực khi phải liên tục tính toán chi phí duy trì các nền tảng.

Vấn đề thứ hai là rủi ro từ các khoản trừ tiền tĩnh lặng - các các khoản thu dịch vụ mà người dùng không có nhận thức. Hầu hết các nền tảng phát trực tuyến hiện nay đều thiết lập cơ chế tự động gia hạn gói cước thông qua liên kết thẻ tín dụng hoặc ví điện tử. Rất nhiều người dùng có thói quen đăng ký gói dịch vụ để xem một bộ phim duy nhất hoặc trải nghiệm trong thời gian ngắn, nhưng sau đó quên hủy đăng ký. Hệ quả là hệ thống vẫn âm thầm trừ tiền định kỳ vào các tháng tiếp theo, tạo ra những khoản chi tiêu mà người dùng không hề nhận thức hoặc không kiểm soát được. Hai yếu tố này cộng dồn lại khiến chi phí thực tế dành cho dịch vụ phim ảnh cao hơn nhiều so với dự tính ban đầu, buộc khán giả phải chủ động rà soát và cắt giảm các gói thuê bao không mang lại giá trị sử dụng thường xuyên.

Nền kinh tế thuê bao đã thay đổi cách khán giả tiếp cận nội dung điện ảnh, đồng thời mang lại giá trị xứng đáng cho những nhà sáng tạo. Quy mô thị trường kinh tế thuê bao trên toàn thế giới đạt 490 tỷ USD năm 2024 và dự kiến cán mốc 2.100 tỷ USD vào năm 2034. Khi những web lậu bị xóa sổ, kỷ nguyên trả phí này tuy đặt ra những thách thức mới cho cả nhà sản xuất, nhà phát hành và cả khán giả, nhưng lại đưa các sản phẩm sáng tạo về với định giá hợp lý của chúng, tạo ra một sân chơi công bằng, minh bạch và cạnh tranh tích cực.

Sở hữu nội dung độc quyền là yếu tố cốt lõi để đơn vị phát hành nội dung thu hút khán giả
Sở hữu nội dung độc quyền là yếu tố cốt lõi để đơn vị phát hành nội dung thu hút khán giả

KIM NGỌC

Nguồn: Tạp chí VHNT số 647, tháng 6-2026

Tin cùng chuyên mục

Tracking