3. Kết quả và thảo luận

Xu hướng trong quản trị điểm đến du lịch

Do tính tổng hợp, kinh tế du lịch liên đới và chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội. Để phát triển bền vững, cần phải nắm được xu hướng và yêu cầu của quản trị hiện đại các điểm đến du lịch ở Việt Nam:

Quản trị điểm đến theo hướng phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu

Việt Nam là một trong các quốc gia đang chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (mực nước biển dâng, thiên tai). Nhiều điểm đến du lịch có hệ sinh thái mỏng manh, dễ bị biến đổi, bị phá vỡ môi sinh... Những môi trường sinh thái này cần được bảo vệ trong quá trình khai thác thông qua hoạt động quản trị kinh doanh hợp lý. Cần tích hợp kinh tế du lịch vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của từng vùng, từng địa phương. Có khung pháp lý rõ ràng về phát triển du lịch xanh, du lịch bền vững trên cơ sở bắt buộc đánh giá tác động môi trường; tính sức chứa điểm đến, giới hạn sức chịu tải du lịch của các điểm đến cũng như dự phòng các tình huống rủi ro, khủng hoảng có thể xảy ra...

Quản trị điểm đến dựa trên bản sắc văn hóa của địa phương, dân tộc tạo ra thế mạnh, sức hấp dẫn từ sự khác biệt của văn hóa Việt Nam

Trong kinh doanh du lịch, bản sắc văn hóa không chỉ là tài nguyên mà còn là lợi thế cạnh tranh bền vững, không dễ sao chép. Cần chuyên nghiệp hóa việc thiết kế và xây dựng sản phẩm du lịch dựa trên các tài nguyên di sản văn hóa bản địa tạo nên loại hình kinh tế di sản ở các địa phương. Kết nối tốt giữa cơ quan quản lý văn hóa - du lịch với các doanh nghiệp du lịch kinh doanh trên địa bàn.

 Quản trị điểm đến bằng chuyển đổi số thông minh trên cơ sở phát triển khoa học công nghệ hiện đại, phù hợp

Phát triển du lịch thông minh trong không gian các điểm đến du lịch; quản lý dòng khách; phân tích hành vi tiêu dùng; dự báo xu hướng phát triển của thị trường dựa trên các thống kê du lịch kết hợp trực tiếp và trực tuyến. Điều mà quản lý kiểu truyền thống, “quản trị thô mộc” không thể làm được. Trong đó, ba trụ cột cốt lõi trong quản trị điểm đến du lịch hiện đại bao gồm sinh thái, văn hóa và công nghệ.

Lý thuyết ba phải trong quản trị điểm đến du lịch

Ba xu hướng, yêu cầu quản trị hiện đại các điểm đến du lịch nêu trên là sự thể hiện, biểu hiện cụ thể của Lý thuyết ba phải (1) - lý thuyết về phát triển bền vững trong quản trị điểm đến du lịch ở các địa phương. Lý thuyết này không chỉ là cách chơi chữ thông minh trong văn hóa - ngôn ngữ Việt Nam mà còn chỉ ra ba nhiệm vụ căn bản trong kinh doanh điểm đến du lịch để phát triển du lịch xanh. Nội hàm Lý thuyết ba phải bao quát và cân bằng được ba trụ cột cốt lõi trong quản trị điểm đến du lịch hiện đại: sinh thái - văn hóa - công nghệ, bao gồm: phải bảo vệ không gian, cảnh quan, môi trường tự nhiên; Phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; phải phát triển khoa học công nghệ hiện đại.

Ba nội dung, yêu cầu trên chính là lý thuyết về phát triển bền vững của các điểm đến du lịch, đó là phát triển du lịch xanh. Lý thuyết ba phải cũng chính là mục tiêu, nhiệm vụ của toàn bộ nền kinh tế trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Từng mục tiêu, nhiệm vụ phải được cụ thể hóa bằng các hành động phù hợp, đồng bộ, có tính hệ thống. Dịch vụ du lịch linh hoạt, thích ứng, mang tính khả biến để phù hợp với thực tế xã hội, với nhu cầu của du khách… Trong khi mục tiêu phát triển bền vững của kinh tế du lịch mang tính bất biến; cho nên cần điều tiết dịch vụ để tính khả biến trở thành bất biến. Công tác quản trị điểm đến du lịch phải bám sát và triển khai cụ thể Lý thuyết ba phải vào thực tế, như sau:

Phải bảo vệ không gian cảnh quan, môi trường tự nhiên

Đây là nền tảng của phát triển du lịch bền vững. Quản trị điểm đến du lịch phải gắn với tư duy quản trị sinh thái (ecological management). Tư duy quản trị sinh thái là cách “tiếp cận phòng thủ chủ động” trước những nguy cơ biến đổi khí hậu và tình trạng quá tải du lịch hiện nay (overtourism). Để làm được điều này cần tính toán sức chứa điểm đến, sức chịu tải du lịch; xây dựng quy hoạch điểm đến khoa học, hợp lý. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng du lịch của điểm đến hợp lý để không phá vỡ không gian, cảnh quan môi trường. Có các giải pháp bảo vệ môi trường nghiêm ngặt; thu gom, xử lý rác thải, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ nhân viên, cộng đồng bản địa và đội ngũ du khách...

Phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Văn hóa chính là “cái hồn” của điểm đến, ấn tượng và sự khác biệt của bản sắc văn hóa là lợi thế cạnh tranh của điểm đến không thể sao chép. Quản trị điểm đến du lịch trên cơ sở bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc chính là động thái tích cực, chủ động trong phát triển du lịch gắn với cộng đồng phát triển bền vững. Đây là những động thái tích cực, chủ động, cụ thể để “Biến di sản thành tài sản”, “Biến văn hóa thành hàng hóa” trong Lý thuyết Lục biến (2) (Dương Văn Sáu, 2025, tr.138) của khoa học văn hóa du lịch.

Phải phát triển khoa học công nghệ hiện đại

Trong nền kinh tế số, không có công nghệ, công tác quản trị điểm đến sẽ rơi vào tình trạng hoạt động thủ công, cảm tính, không hiệu quả; không đáp ứng yêu cầu thời đại, bị bỏ quên bên rìa của sự phát triển trong xã hội hiện đại. Quản trị điểm đến du lịch cần phải gắn với tư duy chuyển đổi số điểm đến; sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích thị trường, các dữ liệu du khách; áp dụng công nghệ thực tế ảo - thực tế tăng cường trong quá trình trải nghiệm của du khách. Đầu tư các trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến áp dụng trong hoạt động của các dịch vụ phục vụ khách du lịch trong không gian điểm đến du lịch là tất yếu khách quan.

Lý thuyết ba phải hay là Lý thuyết 3P trong thuật ngữ quốc tế

Lý thuyết ba phải trong quản trị điểm đến du lịch là một cách chơi chữ thông minh trong ngôn ngữ tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, 1999, tr.35). Về nội dung, lý thuyết này nếu được chuyển sang ngôn ngữ tiếng Anh sẽ là Lý thuyết 3P trong quản trị điểm đến du lịch hiện đại (Protect - Preserve - Progress). Lý thuyết này chứa đựng tiềm năng khoa học và thực tiễn phát triển cao, vì gắn bảo vệ môi trường với bản sắc văn hóa và chuyển đổi số - là ba trụ cột lớn trong du lịch hiện đại. Lý thuyết này có thể áp dụng cho nhiều loại điểm đến du lịch ở Việt Nam và quốc tế. Tên gọi Lý thuyết 3P là cách nói theo thuật ngữ tiếng Anh mang nội dung hoàn toàn tương đồng với Lý thuyết ba phải, đều thể hiện nội dung đúng đắn, cần thiết, mang tính khái quát, dễ nhớ, dễ tiếp cận với cộng đồng học thuật quốc tế.

Trong quản trị điểm đến du lịch, những khung lý thuyết có liên quan và được công nhận rộng rãi trong quản trị điểm đến/ du lịch bền vững cũng bắt đầu bằng chữ P là 3P: People, Planet, Profit/ Prosperity - Con người, hành tinh, lợi nhuận/ thịnh vượng, do John Elkington phổ biến từ 1994 (Elkington, J.,1994, tr.90-100). Đây còn được gọi là “Triple Bottom Line (TBL)” là khung ba trục kinh tế - xã hội - môi trường được trích dẫn rất rộng rãi trong nghiên cứu và thực hành bền vững. Các mô hình “three pillars of sustainability” (3 trụ cột của phát triển bền vững): môi trường - xã hội - kinh tế cũng được dùng nhiều trong phát triển du lịch bền vững, rất gần với quan điểm 3P. Mô hình cốt lõi này thể hiện sự thống nhất và được cụ thể hóa qua ba hàm ý hành động sau: Protect (Bảo vệ: nhấn mạnh hành động chủ động ngăn chặn sự xâm hại, xuống cấp của môi trường tự nhiên và xã hội khi phát triển du lịch), Preserve (Gìn giữ: hướng tới việc duy trì, bảo tồn lâu dài những giá trị của bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp), Progress (Phát triển: là bước tiến về phía trước, đổi mới, hiện đại hóa, vươn lên những tầm cao mới, đặc biệt trong khoa học, công nghệ), thể hiện sự thống nhất giữa ý nghĩa ngôn ngữ và triết lý phát triển.

4. Kết luận

Du lịch là những “cuộc chơi văn hóa” của con người. “Cuộc chơi” này trong xã hội hiện đại cần phải được xây dựng, phát triển trên ba trụ cột: sinh thái - văn hóa - công nghệ để định vị thương hiệu điểm đến; phát triển du lịch bền vững. Triển khai đồng bộ, chặt chẽ, đạt hiệu quả trên thực tế Lý thuyết ba phải (theo cách nói của người Việt) hay Lý thuyết 3P (theo cách nói của thuật ngữ quốc tế) trong hoạt động quản trị điểm đến hiện đại nêu trên, chắc chắn du lịch Việt Nam sẽ phát triển bền vững. Lý thuyết Ba phải mà chúng tôi đưa ra không phải là “ba phải” theo nghĩa tiêu cực trong tiếng Việt, mà chính là ba điều phải làm, phải giữ, phải phát triển để quản trị điểm đến một cách cân bằng. Từ đó tạo nên một tam giác phát triển với các nội dung: “bền vững - bản sắc - hiện đại”. Trong đó, bảo vệ môi trường là “gốc rễ”, giữ gìn văn hóa là “hồn cốt”, phát triển công nghệ là “động lực” của quá trình phát triển. Đây trở thành một trong những lý thuyết khoa học căn bản, mang tính cốt lõi trong hoạt động quản trị điểm đến du lịch hiện đại. Đó cũng chính là những thay đổi quan trọng trong tư duy và hành động của chúng ta trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

___________________________

1. Trong tiếng Việt, “ba phải” dùng “chỉ người không có hoặc không dám bộc lộ quan điểm, chính kiến riêng; nên hay thay đổi, dễ chấp nhận tất cả, bên nào cũng cho là phải, là đúng...”.

2. “Lục biến”, gồm: Biến di sản thành tài sản - Biến văn hóa thành hàng hóa - Biến tài nguyên thành tài chính - Biến môi trường thành thị trường - Biến nguồn lực thành động lực - Biến giá trị thành giá cả.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị. (2017). Nghị quyết 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

2. ICOMOS. (1999). Công ước quốc tế về du lịch văn hóa. Mexico.

3. Quốc hội. (2017). Luật số 09/2017/QH14, Luật Du lịch.

4. Quốc hội. (2024). Luật số 45/2024/QH15, Luật Di sản văn hóa.

5. Dương Văn Sáu. (2025). Giáo trình Văn hóa du lịch (Tái bản lần thứ ba có sửa chữa, bổ sung). Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

6.Nguyễn Như Ý (chủ biên). (1999). Đại từ điển tiếng Việt. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.

7. “Paris Agreement, FCCC/CP/2015/L.9/Rev.1” UNFCCC secretariat: Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (bản gốc ngày 12/12/2015).

8. Elkington, J. (1994). Towards the sustainable corporation: Win-win-win business strategies for sustainable development (Hướng tới doanh nghiệp bền vững: Chiến lược kinh doanh cùng có lợi cho sự phát triển bền vững). California Management Review. 36(2).

Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/4/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/4/2026; Ngày duyệt bài: 13/5/2026.

 

PGS. DƯƠNG VĂN SÁU

Nguồn: Tạp chí VHNT số 645, tháng 6-2026