
Bối cảnh lịch sử và kiến trúc
Dinh thự Hoàng A Tưởng là một trong những dinh thự bề thế nhất thời kỳ Pháp thuộc, được xây dựng từ năm 1914 và hoàn thành vào năm 1921. Chủ nhân của dinh thự là Hoàng Yến T’Chao (người dân tộc Tày), bố đẻ của Hoàng A Tưởng. Dù là người dân tộc Tày, nhưng cha con ông lại cai trị một vùng rộng lớn có tới hơn 70% dân số là người Mông, do đó người dân bản địa vẫn quen gọi đây là dinh “vua Mèo”. Dinh thự được xây dựng trên một quả đồi rộng tại trung tâm thị trấn Bắc Hà với tổng diện tích hơn 10.000m2, thiết kế theo hình chữ nhật liên hoàn khép kín gồm 36 phòng. Dưới sự chỉ đạo thiết kế và thi công trực tiếp của hai kiến trúc sư người Pháp và người Trung Quốc, công trình mang phong cách kiến trúc Á - Âu kết hợp, thể hiện sự giao thoa văn hóa Đông - Tây rõ nét. Đây không chỉ là nơi ở, làm việc của thổ ti vùng biên ải trước năm 1945 mà còn mang chức năng như một pháo đài bảo vệ với hệ thống tường rào, lỗ châu mai và đường hầm thoát hiểm.
Vào cuối năm 2023, dinh thự bắt đầu được trùng tu, tôn tạo từ nguồn kinh phí gần 12 tỷ đồng với mục tiêu “giữ gìn tối đa yếu tố gốc” nhằm bảo tồn công trình bền vững gắn với phát huy giá trị di tích. Sau trùng tu, dinh thự khoác lên mình màu sơn chủ đạo là trắng sữa, điểm xuyết màu gạch đỏ và màu xanh ghi ở chân tường. Đặc biệt, không gian bên trong đã được sắp đặt lại một cách có hệ thống. Nếu như tầng 1 là nơi trưng bày các hiện vật tái hiện đời sống sinh hoạt của gia đình thổ ti quyền lực, thì toàn bộ gian chính của tầng 2 được sử dụng làm không gian giới thiệu vật dụng, trang phục và văn hóa của đồng bào các dân tộc sinh sống trên địa bàn xã Bắc Hà. Sự chuyển đổi công năng này đã tạo ra một “bảo tàng sống”, đưa du khách đi từ câu chuyện lịch sử của một gia tộc đến bức tranh văn hóa toàn cảnh của vùng đất đa dân tộc.

Không gian giới thiệu văn hóa cộng đồng các dân tộc Bắc Hà
Bắc Hà là địa bàn cư trú của 14 cộng đồng dân tộc. Mỗi dân tộc mang một nét văn hóa đặc trưng riêng, cùng chung sống và tạo nên một bức tranh đa màu sắc. Việc giới thiệu không gian văn hóa này tại dinh thự Hoàng A Tưởng được thực hiện qua các hình thức trưng bày vật thể và diễn giải phi vật thể, tập trung vào ba yếu tố: trang phục truyền thống, nghề thủ công (quy trình làm thổ cẩm, làm hương) và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Nghệ thuật tạo hình và sắc màu trang phục truyền thống được thể hiện qua trang phục truyền thống của các dân tộc vùng cao Bắc Hà, với vẻ đẹp văn hóa bản địa rõ nét. Trong không gian trưng bày, du khách có thể nhận diện bản sắc từng tộc người thông qua nghệ thuật tạo hình trang trí, cách sử dụng hoa văn, họa tiết và sắc màu trên trang phục. Nổi bật nhất và cầu kỳ nhất là váy áo thổ cẩm của phụ nữ dân tộc Mông, Dao, Phù Lá. Những bộ trang phục này thường được thêu thùa hoàn toàn bằng tay, đòi hỏi thời gian hàng tháng trời để hoàn thiện. Đối với người Mông (chủ yếu là nhóm Mông Hoa), trang phục truyền thống của họ sử dụng màu đỏ làm màu sắc chủ đạo, tạo ấn tượng thị giác rất nổi bật. Đặc trưng cơ bản là chiếc váy hoa xòe rộng, bán kính có thể lên tới 1,2m. Các họa tiết đính kèm mang tính biểu tượng cao như hoa văn xoáy chôn ốc và nốt thêu hình chữ thập, được tạo ra từ kỹ thuật thêu và ghép vải khéo léo. Nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Mông Hoa ở Bắc Hà đã được Bộ VHTTDL đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2021.
Với phụ nữ người Dao Đỏ, y phục của họ lại tạo điểm nhấn qua hệ thống hoa văn đa dạng như chữ vạn, cây thông, hình chim, con người, động vật và lá cây. Điểm độc đáo trong kỹ thuật thủ công của người Dao Đỏ là họ hoàn toàn không thêu theo các mẫu vẽ sẵn. Dựa vào trí nhớ truyền nối, người phụ nữ thêu từ mặt trái của tấm vải để các hình mẫu hoa văn nổi sắc nét lên mặt phải.

Bên cạnh sự rực rỡ của nhóm Mông, Dao, trang phục của phụ nữ các dân tộc Dáy, Tày, Nùng, La Chí lại mang vẻ đẹp giản dị, theo tiêu chí “ăn chắc, mặc bền”. Trang phục của người Tày đơn giản hơn với một sắc chàm nguyên bản. Điểm nhấn làm nên vẻ thướt tha, mềm mại cho các cô gái Tày chính là tà áo dài kết hợp cùng chiếc thắt lưng màu xanh hoặc màu hồng. Người phụ nữ dân tộc Nùng Dín tự may trang phục bằng vải nhuộm chàm có màu tím than. Điểm nhận diện của họ là các đường nét hoa văn cách điệu được làm bằng kim loại bạc. Về cách đội khăn, phụ nữ Nùng Dín thường quấn hai lớp khăn trên đầu tạo thành hình múi mô phỏng hình dáng hai chiếc sừng trâu. Cách tạo hình này bắt nguồn từ quan niệm truyền thống sâu sắc của người Nùng Dín, coi “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Không gian trưng bày ảnh và trang phục các dân tộc này còn là một hoạt động thiết thực nằm trong khuôn khổ Festival cao nguyên trắng Bắc Hà, được tổ chức trải dài suốt 4 mùa trong năm,
Để du khách không chỉ nhìn ngắm sản phẩm cuối cùng mà còn hiểu được nguồn gốc, không gian dinh thự đã tái hiện trực quan quy trình sản xuất thổ cẩm của đồng bào dân tộc Mông. Thổ cẩm người Mông không đơn thuần là hàng hóa thủ công mà còn là kết tinh của văn hóa và sự khéo léo. Hành trình làm ra một tấm vải bắt đầu từ cây lanh, một loài cây gắn bó mật thiết với đời sống đồng bào Mông. Quá trình xử lý nguyên liệu thô bao gồm nhiều công đoạn vật lý: khi lanh trưởng thành, người dân tiến hành thu hoạch, tước sợi và xe sợi. Sợi lanh sau đó được mang ngâm và luộc chung với nước tro bếp. Để sợi vải mềm và trơn bóng hơn, người phụ nữ Mông dùng đá lăn qua lăn lại nhiều lần trước khi đưa sợi lên khung dệt truyền thống.
Về nghệ thuật tạo hoa văn trên nền vải, người Mông áp dụng hai kỹ thuật chính. Cách thứ nhất là dùng sáp ong để vẽ lên vải trước khi đem nhuộm chàm, nhằm giữ lại những đường nét hoa văn độc đáo không bị ăn màu. Cách thứ hai là nhuộm chàm toàn bộ tấm vải trước, sau đó mới dùng chỉ màu rực rỡ để thêu họa tiết lên trên. Từng tấm thổ cẩm ra đời từ bàn tay tỉ mỉ của người thợ chính là một tác phẩm nghệ thuật, mang ý nghĩa tâm linh và kể câu chuyện về thiên nhiên, con người Bắc Hà.
Cùng với dệt vải, nghề làm hương của đồng bào Mông cũng được giới thiệu chi tiết, cho thấy kỹ thuật chế tác từ nguyên liệu tự nhiên rất cầu kỳ. Nguyên liệu làm hương chủ yếu lấy từ thân một loại cây gỗ mục màu nâu đỏ gọi là “Móng tông”. Gỗ này được giã thật nhỏ mịn thành bột. Công đoạn chẻ tăm hương đòi hỏi sự lựa chọn kỹ lưỡng vật liệu từ cây vầu, cây mai hoặc cây tre có dóng dài và thẳng. Quá trình se hương hoàn toàn do phụ nữ đảm nhiệm. Họ xòe bó nan tre thành hình phễu, tung bột hương lên, sau đó chụm lại và nhúng vào thùng nước để tạo độ ướt. Quy trình vẩy nước và tung bột này phải được lặp lại đúng 5 lần để đảm bảo que hương tròn đều, trăm cây như một.
Bên cạnh sinh hoạt vật chất, đời sống tinh thần của 14 dân tộc Bắc Hà còn được phản ánh rõ nét qua phong tục thờ cúng tổ tiên. Không gian trưng bày giới thiệu các bài trí bàn thờ và những phong tục mang đậm nét văn hóa của các dân tộc La Chí (khảo sát qua gia đình họ Vương), dân tộc Tày ở Bắc Hà được phân chia thành 3 nhóm cư dân là Tày Nhằng (Tày đen), Tày Hối và Tày Liển. Mỗi nhóm có quy định về vị trí đặt bàn thờ tổ tiên khác nhau. Dân tộc Phù Lá (khảo sát qua gia đình họ Giàng), dân tộc Mông (khảo sát qua gia đình họ Ma), dân tộc Nùng (khảo sát qua gia đình họ Thàn ở Na Hối). Việc tái hiện không gian tâm linh của các đại diện gia đình dân tộc giúp người xem thấy được tính đa dạng, sự tôn kính cội nguồn và triết lý nông nghiệp sâu sắc của cư dân bản địa.


Khi du lịch song hành cùng bảo tồn văn hóa
Thông qua việc trưng bày và tái hiện các không gian văn hóa trên, có thể thấy cách làm của xã Bắc Hà rất sáng tạo. Di tích Dinh thự Hoàng A Tưởng giờ đây không chỉ là một công trình kiến trúc cổ hơn 100 năm tuổi, mà đã thực sự dung chứa “phần hồn” của vùng đất. Việc tích hợp các phòng trưng bày, không gian diễn giải lịch sử, không gian giới thiệu thổ cẩm, cùng các hoạt động thực hành văn hóa vào bên trong khuôn viên dinh thự đã thay đổi hoàn toàn trải nghiệm của du khách.
Du khách đến đây vừa được tham quan, tìm hiểu về giai đoạn lịch sử của Bắc Hà dưới sự cai trị của tầng lớp thổ ti, vừa được trực quan trải nghiệm nét văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số. Sự kết hợp này mang lại ý nghĩa giáo dục, làm cho các di sản phi vật thể như nghệ thuật dệt lanh, làm hương hay tín ngưỡng thờ cúng không bị mai một trong sách vở mà hiển hiện sống động ngay trong không gian thực tế. Việc sử dụng hình thức trực quan, hấp dẫn để tôn vinh bản sắc của 14 dân tộc anh em không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch bền vững mà còn khơi dậy lòng tự hào dân tộc cho chính người dân địa phương. Du lịch tạo ra nguồn lực để duy trì các thực hành văn hóa, trong khi văn hóa lại trở thành sản phẩm du lịch “lõi” độc đáo, tạo nên sức hút riêng có cho cao nguyên trắng.
Không gian giới thiệu cộng đồng các dân tộc Bắc Hà tại dinh thự Hoàng A Tưởng cho thấy một mô hình đặc sắc trong công tác quản lý và phát huy giá trị di sản. Từ kiến trúc cổ kính của một dòng tộc trong quá khứ, không gian ấy nay đã trở thành trung tâm hội tụ tinh hoa văn hóa của cả một cộng đồng dân cư rộng lớn. Bằng việc trưng bày chi tiết từ bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ sắc màu, kỹ thuật làm hương mộc mạc cho đến thế giới tâm linh đa dạng qua bàn thờ tổ tiên, Bắc Hà đã khẳng định triết lý phát triển đúng đắn: bảo tồn văn hóa chính là để văn hóa được sống, được trình diễn và được tiếp nối ngay trong lòng di sản.

NGÔ HỒNG VÂN - Ảnh: VŨ CƯỜNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 650, tháng 7-2026