Nhà văn Hoàng Quảng Uyên (ảnh NVCC)
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên (ảnh NVCC)

Nhắc đến những gương mặt thơ tiêu biểu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, người ta thường nhắc đến tên tuổi Tố Hữu, Hồng Nguyên, Hữu Loan, Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Chính Hữu… với những thi phẩm nổi danh: Việt Bắc, Nhớ, Màu tím hoa sim, Tây tiến, Đất nước, Bên kia sông Đuống, Đồng chí… Riêng Tố Hữu còn có cả một thi tập với rất nhiều tác phẩm từng đi vào sách giáo khoa môn Văn các cấp, in sâu trong trí nhớ nhiều thế hệ học trò, độc giả. Thế nhưng, cũng còn có một gương mặt thơ rất đáng chú ý của giai đoạn này là Cầm Giang qua những công phu tìm tòi của nhà văn Hoàng Quảng Uyên. Nói cách khác, những nỗ lực của Hoàng Quảng Uyên đã vẽ lại “bản đồ” thơ kháng chiến chống thực dân Pháp qua tác phẩm Ẩn số Cầm Giang.

Vậy Cầm Giang là ai? Hoàng Quảng Uyên đã công phu tìm tòi như thế nào? Nếu lần giở cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại in lần thứ 4 (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010), ta chỉ biết các thông tin khái quát: Cầm Giang có tên khai sinh là Lê Gia Hợp, sinh ngày 2/5/1931; quê quán thôn Nguyệt Viên, phường Nguyệt Viên, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi ông mất (ngày 29/6/1989), được Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam công nhận là hội viên theo quyết định số 241/QĐ-HV ngày 11/5/2010.

Về văn nghiệp, ông có các bài thơ nổi tiếng: Núi Mường Hung, dòng sông Mã; Em tắm; Mộ bên đường; Nhớ vợ; Em là con gái Châu Yên… Tác phẩm chính đã xuất bản: Thành rồng, thành hổ (tập thơ); Gió núi biên phòng (truyện thơ); Rừng trắng hoa ban (tập thơ); Nà Phiêu đánh Mỹ (3 tập, truyện thơ)…

Thông tin như vậy rõ ràng chưa đủ. Bạn đọc, người yêu thơ cảm thấy hẫng hụt, chưa thỏa mãn, nhiều chi tiết mới là phần ngọn, chưa phải gốc vấn đề.

Với Ẩn số Cầm Giang, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã bỏ nhiều công sức, tâm huyết dò đến “ngọn nguồn lạch sông” của những gì vẫn gọi là ẩn số để khám phá, giải mã đường đời và đóng góp về thơ của một thi nhân.

Từ năm 1998, khi còn là phóng viên tuần báo Văn nghệ, Hoàng Quảng Uyên biết nơi ở của nhà thơ Cầm Giang trong hơn hai mươi năm cuối đời là xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ (trước kia là xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc), cách Hà Nội chừng 50km. Không biết bao nhiêu lần Hoàng Quảng Uyên đã đi về nơi này. Sách vở, tư liệu thi nhân gửi lại với thời gian trên căn gác nhỏ lúc bấy giờ phần nào bị hao hụt do biến động của thời tiết và mối mọt tấn công nhưng những gì còn lại cũng đủ giúp Hoàng Quảng Uyên tìm lời giải cho các ẩn số, phục dựng lại “một đời người, một đời thơ”.

Cầm Giang hoàn toàn là một cái tên Thái Tây Bắc nhưng đó lại là bút danh của một người Kinh quê Thanh Hóa “trăm phần trăm”: Lê Gia Hợp từng có thời gian là bộ đội Cụ Hồ từ trước năm 1950 đến năm 1958, sau đó là 10 năm ở Mỏ Cẩm rồi về lại đất Khách Nhi, xã Vĩnh Phú, Phú Thọ hơn 20 năm cuối đời. Chính khoảng thời gian trong quân ngũ, theo Hoàng Quảng Uyên, ông được điều lên Tây Bắc, cử đi học lớp y tá về phục vụ tại Sư đoàn 335. Cuộc sống sôi động, tình quân dân thắm thiết, những điệu hát, điệu múa Tây Bắc… đã làm cho hồn thơ Cầm Giang thăng hoa, bay bổng. Thơ Cầm Giang nở rộ (từ 1951 đến 1958). Trong khoảng thời gian này, thơ ông đạt đỉnh cao. Những bài dịch, sưu tầm và sáng tác được tập hợp in trong hai tập thơ đặc sắc: Thành rồng, thành hổ (Nxb Phổ thông, 1957) và Rừng trắng hoa ban (Nxb Văn học, 1961). Ngoài ra, có thể kể thêm Gió núi biên phòng (Nxb Quân đội nhân dân, 1958). Đó là một hiện tượng thơ lúc bấy giờ.

Vẫn theo Hoàng Quảng Uyên, Tây Bắc rộng lớn vào những năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” có rất nhiều bộ đội lên đóng chốt, xây dựng các nông trường và bảo vệ đất biên cương. Mối quan hệ quân dân như cá với nước mà trước đây chưa từng có. Con người Tây Bắc trong hòa bình, xây dựng đất nước đã ngời lên những phẩm chất mới. Tất cả những điều đó đã mời gọi và sẵn sàng đón tiếp các văn nghệ sĩ đến sáng tác. Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Khải… đã có những trang văn, câu thơ thật hay về Tây Bắc. Bởi “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc/ Khi lòng ta đã hóa những con tàu/ Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát/ Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu?” (Chế Lan Viên). Ngoài những văn nghệ sĩ trên, thật may ở đó chúng ta còn có một Cầm Giang đang dồi dào bút lực. Thi phẩm Núi Mường Hung, dòng sông Mã in trong tập Thành rồng, thành hổ của ông có những lời thơ thật hay, sau đó trở thành ca từ vô cùng đẹp trong bài hát Tình ca Tây Bắc: Em là búp bông trắng/ Anh là ngọn lửa vàng/ Thi nhau lớn đẹp nương/ Tỏa mùi thơm cùng chim hót/ Em cứ về nhà trước/ Đợi anh ở bên khuông/Anh làm no lòng mường/ Em làm vui ấm bản (…) Anh là rừng thẳm/ Em là suối sâu/ Cây rừng anh làm cầu/ Bắc ngang lên dòng suối…

Cũng trong tập Thành rồng, thành hổ, có hai bài thơ vô cùng độc đáo, đặc sắc là Em tắm: Sao anh lại rình/ Trộm xem em tắm/ Da của em ngần trắng/ Da của ái, của êm/ Tay của em lấm lem/ Tay của than của bụi/ Tay của rừng của núi/ Tay của đất của nương/ Em tắm xong lại sạch/ Vẫn ngát thơm hoa rừng/ Da của em trắng ngần/ Là của anh tất cả/ Không phải người xa lạ/ Việc gì mà trộm xem!/ Em tắm suối giữa mường/ Tắm trong mối yêu thương/ Có anh đang đứng giữ/ Chớ để Tây đến mường! và bài Nhớ vợ: Tôi nhớ vợ tôi lắm/ Xin được về hai ngày/ Nhà tôi ở Mường Lay/ Có con sông Nậm Rốm/ Ngày kia tôi sẽ đến/ Lại cầm súng được ngay/ Tôi càng bắn trúng Tây/ Vì tay có hơi vợ/ Cho tôi đi, đừng sợ/ Tôi không chết được đâu/ Vì vợ tôi lúc nào/ Cũng mong chồng mạnh khỏe/ Cho tôi đi anh nhé/ Về ôm vợ hai đêm/ Vợ tôi nó sẽ khen/ Chồng em nên người giỏi/ Ngày kia tôi về tới/ Được đi đánh cái đồn/ Hay được đi chống càn/ Là thế nào cũng thắng/ Nếu có được trên tặng/ Cho một cái bằng khen/ Tôi sẽ rọc đôi liền/ Gửi cho vợ một nửa.

Một thi tập của Cầm Giang thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và tác phẩm Ẩn số Cầm Giang
Một thi tập của Cầm Giang thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và tác phẩm Ẩn số Cầm Giang

 Cả hai bài thơ ban đầu đều ghi nhận Cầm Giang với tư cách “dịch giả”. Tuy nhiên, những tìm tòi công phu, tâm huyết của Hoàng Quảng Uyên đã cho chúng ta biết đó chỉ là thủ pháp “làm xiếc chữ nghĩa” của thi nhân mà thôi! Bởi mới 15 tuổi, năm 1946, nhà thơ của chúng ta đã làm liên lạc viên của bộ đội chủ lực Thanh Hóa, rồi cứu thương trung đoàn 9 (Khu IV)… nhưng ông lại xuất thân trong một gia đình địa chủ kháng chiến. Cho nên, để đoạn tuyệt với quá khứ, người thơ đã thay tên đổi họ, thay cả quê hương: từ anh chàng Lê Gia Hợp (Thanh Hóa) trở thành (Lương) Cầm Giang ở Tây Bắc. Hoàng Quảng Uyên đã tìm đến nhà “Thái học” có uy tín Nguyễn Khôi để được biết rằng: nếu hiểu bút danh Cầm Giang là họ Cầm, tên Giang thì đấy là một cái tên đặc Thái: Ở ngành Thái Đen, các họ Cầm, Bạc thường hay giữ các chức vị chảu mường - đó là một trong những họ quý tộc. Chọn một cái tên như vậy được rồi, có thể ký tên dưới các bài thơ có nội dung dân tộc được rồi nhưng để chắc ăn, Cầm Giang đã biến cái việc sáng tác thành việc sưu tầm và dịch. Bài Nhớ vợ được chú thích là: “Bài này sưu tập được ở Mường Cheng, bài thơ được ghi bằng bút chì trên bẹ nứa”. Còn trong bản thảo chép tay, sau được một số báo in theo kiểu song ngữ (một bên chữ Lào, một bên chữ Việt) thì được ghi chú: “Cầm Ui là ai? Ghi trên bẹ nứa chữ mờ gần hết”. Hoàng Quảng Uyên có cơ sở khi cho rằng: Động tác này của Cầm Giang vừa kín, vừa hở. Kín là ở chỗ “ghi trên bẹ nứa”, vậy thì bài thơ chắc là cổ lắm; “chữ mờ gần hết” để có ai yêu cầu xuất trình bản gốc thì có lý do chính đáng để từ chối và cũng để nếu ai truy tận cùng “Cầm Ui là ai?” thì cũng không có cớ để mà truy. “Tôi chỉ nhặt được bài thơ ghi trên bẹ nứa, còn Cầm Ui là ai, chính tôi cũng không được biết”. Vì vậy, đến tận bây giờ và mãi mãi về sau, không thể tìm ra một Cầm Vĩnh Ui, Bạc Văn Ùi vì làm gì có ông Ui, ông Ùi nào. Như thế là quá kín nhưng vẫn hở: thời điểm năm 1954 không quá hiếm giấy để một nhà thơ người Thái “ghi bằng bút chì trên bẹ nứa”. Lại nữa, “mờ gần hết” mà Cầm Giang phục chế lại toàn bộ thì cũng khó tin. Tuy vậy, cái kiểu chú thích úp úp, mở mở đó không làm ai nghi ngờ vì tên tác giả lẫn trong nhiều cái tên.

Bài Em tắm cũng vậy. Xuất phát từ tục tắm suối của người Thái mà gắn vào nội dung ca ngợi tình quân dân nên dễ lọt qua khâu biên tập, chứ “người trong một bản không việc gì phải trộm xem cả”!

Từ góc độ thi pháp thơ, Hoàng Quảng Uyên đồng tình với ý kiến của nhà “Thái học” Nguyễn Khôi rằng hai bài thơ Nhớ vợ và Em tắm là của Cầm Giang vì mấy lẽ:

“Về văn bản học thì thơ Thái thường là điệu hát “khắp” (quăm khắp). Thể “khắp bắc” câu dài 11-12 chữ, thể “khống khái” 5-6 chữ, những thể thơ này thường là “vần lưng”, được xen lẫn nhau rất tuyệt diệu. Thơ 5 chữ (như trong Nhớ vợ, Em tắm) thường là của dân Thanh - Nghệ (hò, hát dặm như Thăm lúa, Đêm nay Bác không ngủ…).

Giọng điệu (cách nói, diễn đạt) của ngôn ngữ thơ không phải của người Thái thời trước năm 1954 vì người Thái này cùng một giọng điệu, thể loại”.

Chúng tôi không dám nói qua Ẩn số Cầm Giang, đời người và đời thơ của một thi nhân đã được khám phá, giải mã hoàn toàn nhưng với việc giải được phương trình: Cầm Giang = Cầm Vĩnh Ui + Bạc Văn ùi, Hoàng Quảng Uyên đã vẽ lại “bản đồ” thơ kháng chiến chống thực dân Pháp. Cầm Giang rất xứng đáng được vinh danh (tuy muộn màng) với những đóng góp cho thơ thời kỳ này, vì cả hai bài thơ Em tắm, Nhớ vợ đều được ghi nhận là những thi phẩm độc đáo, đặc sắc không chỉ của một giai đoạn mà còn có tên trong những tuyển tập thơ hay của thế kỷ XX.

PHẠM VÕ THANH HÀ

Nguồn: Tạp chí VHNT số 653, tháng 8/2026