Đặc điểm của tư duy đồng dao

Căn cứ vào đặc điểm nội dung - nghệ thuật đồng dao, chúng tôi xác định tư duy đồng dao có những đặc điểm cơ bản như sau:

Tư duy đồng dao là tư duy trẻ thơ, điểm nổi bật của phương thức tư duy này là sự ngây thơ, hồn nhiên, ngộ nghĩnh. Chủ thể đồng dao là trẻ em, chúng có nhu cầu tự làm giàu cuộc sống tinh thần, tự thể hiện, tự bộc lộ mình. Tư duy đồng dao biểu hiện cách cảm, cách nhìn, cách nghĩ và sáng tạo của trẻ thơ - một cộng đồng văn học có thể vừa tự sáng tác vừa trải nghiệm, vừa thưởng thức, lắng nghe tiếng vọng tâm hồn con trẻ.

Nói đến tư duy đồng dao cũng chính là nói đến cách cảm nhận và biểu hiện thế giới đặc biệt. Đó là cái nhìn trong trẻo, thánh thiện, không chút vẩn đục về cuộc sống xung quanh. Nó thể hiện tâm hồn vô tư của trẻ em. Nội dung và ý nghĩa xã hội sâu sắc thường ít có ở đồng dao, nếu có “cũng rất nhẹ nhàng, thoáng qua như mây bay gió thoảng mà thôi” (Hoàng Tiến Tựu, 1990, tr.146). Chẳng hạn, một số bài như Kéo cưa lừa xẻ, Ba bà đi bán lợn con, Con kiến mà leo cành đa... mang tính chất hóm hỉnh, thể hiện tư duy hồn nhiên của trẻ. Hình ảnh ông thợ về bú tí mẹ, bà bán lợn lon ton chạy đi chạy về hay con kiến leo vào leo ra rất gần gũi với cách nhìn thế giới tinh nghịch của các em nhỏ. Điều này lý giải tại sao lời đồng dao có thể nội dung rời rạc, không hướng đến một ý nghĩa cụ thể nào nhưng lại được trẻ nhớ và yêu thích.

Tư duy trực cảm là cơ sở của tư duy đồng dao, nhiều bài đồng dao không có đề tài tập trung như gặp đâu nói đó. Trẻ em vẫn thích thú vì nó hợp với trí lực của các em, không bắt các em tư duy như người lớn. Đồng dao tiếp thu ấn tượng về ngoại vật chứ không bằng khái niệm trừu tượng. Nói cách khác, đồng dao cảm nhận thế giới chủ yếu từ trực quan, trực giác, phần lớn trình bày theo phương thức liệt kê, dừng lại ở những nét bề ngoài dễ nhớ, dễ phân biệt. Trong nhiều bài đồng dao, các sự vật, hiện tượng được kể tên một cách vui vẻ, giúp trẻ nhận biết và ghi nhớ tên sự vật, hiện tượng dễ dàng và nhẹ nhàng. Ví dụ: Đòn gánh có mấu/ Củ ấu có sừng/ Bánh chưng có lá/ Con cá có vây.... Với tư duy trực cảm, đồng dao nhìn thế giới khách quan bằng cái nhìn đầy kỳ thú, hấp dẫn với nhiều sắc màu, dáng vẻ. Vì kinh nghiệm sống và vốn trải nghiệm còn ít ỏi, trẻ em nhìn mọi thứ như thể lần đầu tiên. Có thể nói, “năng lực ngạc nhiên” trước thế giới muôn màu muôn vẻ chính là năng lực riêng của trẻ em. Về hoa, có hàng trăm loài, loài nào cũng có màu sắc, dáng vẻ riêng: Vác bóng mà soi/ Là hoa bông giếng/ Hay bay hay liệng/ Là hoa chim chim/ Xuống nước mà chìm/ Là hoa bông đá.... Về trái, đủ cả hương vị bốn mùa, nào là đu đủ, dứa, ngô, nào là bưởi, chanh, ổi, quít… Cách tri nhận về quả/ trái cũng khá độc đáo: Trong ruột ọc ạch/ Là trái dừa xiêm/ Ở khắp xóm giềng/ Là trái bí rọ? Mẹ sai đi chợ/ Vốn thiệt trái dâu…”. Về rau, đây là mùi vị Ăn hơi tanh tanh/ Là rau diếp cá/.../ Ăn cay như ớt/ Vốn thiệt rau răm... Đây là những tên rau liên hệ với thói xấu của con người: Thú ở hỗn hào/ Là rau ngành ngạnh/ Trong lòng bất chính/ Vốn thiệt tâm lang...

Cùng với cỏ cây, hoa trái là sinh vật trên rừng, dưới biển tựa như “bộ sưu tập” với nhiều tên quen nhưng cũng nhiều tên lạ. Lời đồng dao không phải chỉ kể tên mà có nhiều mối liên hệ hoặc máy móc hoặc hữu cơ, có khi từ tên cá mà nghĩ đến hành xử của con người: Dỗ mãi không nghe/ Là con cá ngạnh/ Đi đường phải tránh/ Là con cá mương... Sống động nhất là “làng chim”: Hay la hay hát/ Là con bồ chao/ Hay bay bổ nhào/ Là con bói cá... Các em vui chơi thì chim chóc cũng vui chơi, các em tập đánh trận thì cũng hình dung chim tụ hội lại thành quân ngũ chỉnh tề xung trận: Tùng, tùng, tùng.../ Đánh ba tiếng trống/ Sắp quân cho chỉnh/ Phượng hoàng thống lĩnh/ Bạch hạc diệp đồng/ Bên phải thời chim/ Bên trái thời sếu...

Đồng dao thể hiện nhãn quan bè bạn thân thiện, với tâm hồn trong sáng và trí tuệ non nớt đang ở giai đoạn đầu của việc nhận thức thế giới, các em có khả năng kỳ lạ trong việc nhập thân vào mọi đối tượng miêu tả đến mức như đang cùng sống, cùng cảm thông với chúng. Nhìn con chích chòe đang hót, các em hát: Chích chòe chích chòe/ Mày hót tao nghe/ Mày ru tao ngủ/ Tao ngủ cho say!.... Bắt được con cào cào, các em muốn sai khiến nó: Cào cào giã gạo tao xem/ Tao may áo đỏ, áo đen cho mày. Ngay cả trăng, sao dù cao vời vợi nhưng vẫn có những sợi dây vô hình gắn bó với sinh hoạt của những đứa trẻ dưới mặt đất. Các em gọi ông sao xuống chơi cho “có bầu có bạn” rồi rủ ông sao đi ẵm em, đánh cá, vo gạo, múc nước, ăn cơm. Bất ngờ hơn, các em nghe được cả tiếng ông sao ăn khoai “nhai tóp tép”, ông cũng biết “ghép với rau”. Ông trăng cũng vậy, ông cũng được mời xuống, cùng tham gia vào hoạt động của các em một cách vui vẻ: Ông trẳng ông trăng/ Xuống chơi với tôi/ Có bầu có bạn... Vũ trụ huyền bí, cao siêu, nhiều điều bí ẩn, khó lí giải ngay đối với người lớn nhưng với trẻ thơ lại rất giản dị, thân tình, gần gũi.

Đồng dao gắn với trò chơi, thỏa mãn nhu cầu vui chơi và tổ chức trò chơi cho trẻ. Không chỉ là một yếu tố của trò chơi, bản thân đồng dao cũng là trò chơi. Đồng dao sinh ra trước hết để phục vụ nhu cầu vui chơi ca hát, nhu cầu thư giãn của trẻ, ví dụ như các bài Chuyền thẻ, Nu na nu nống, Chồng nụ chồng hoa... Mặt khác, đồng dao gắn với trò chơi còn giúp trẻ có tính kỷ luật, tinh thần tập thể, dễ hòa đồng. Đó cũng là cơ hội để trẻ giao lưu, chia sẻ niềm vui và kinh nghiệm. Đây chính là sự khác biệt giữa đồng dao - trò chơi dân gian với nhiều trò chơi hiện nay của trẻ. Đồng dao gắn bó mật thiết với trò chơi, tạo hưng phấn cho cuộc chơi. Nếu thiếu lời đồng dao, trò chơi khó có thể tiến hành được.

Không chỉ gắn với trò chơi, bản thân đồng dao với tính chất là “lời nói vần” thực ra cũng là một trò chơi ngôn ngữ: trò chơi gieo vần, tạo nhịp. Chính vì thế, nhiều bài đồng dao có nội dung tản mạn, cảm giác như đang sắp vần bẻ chữ, có những bài diễn xướng không gắn với trò chơi nhưng nhờ sự nâng đỡ của vần, nhịp nên đọc lên vẫn vui và hóm “được các em từ xưa đến nay thích thú, hơn cả những bài có nội dung tròn trĩnh” (Nguyễn Thúy Loan - Đặng Diệu Trang - Nguyễn Huy Hồng - Trần Hoàng, 1997, tr.719). Nhìn từ góc độ này, phải chăng tính trò chơi của đồng dao đã thể hiện một yêu cầu tự do trong nghệ thuật, trong tư duy sáng tác?

Đồng dao tái hiện cuộc sống và thế giới bằng cách nói vần vè, giản dị, không cầu kỳ, hoa mỹ. Tư duy đồng dao mang tính ngẫu hứng, bất định, linh hoạt, tự do thông qua tưởng tượng, liên tưởng phong phú. Tưởng tượng đồng dao là tưởng tượng “nhân linh hóa” hồn nhiên, sáng tạo, gần gũi với tâm lý trẻ em. Đồng dao đã cấp cho mọi đối tượng hành động, cảm xúc, hồn nhiên kéo chúng vào hiện thực cuộc sống hàng ngày. Điều này hoàn toàn phù hợp với cách cảm nhận thế giới “vạn vật bằng hữu” và lòng tin ngây thơ của trẻ khi hướng về thế giới khách quan. Các em tin rằng hết thảy vạn vật đều có thể trò chuyện, giao cảm, hòa đồng... Trẻ hòa nhập với thiên nhiên, lắng nghe tiếng gọi của cỏ cây, hoa lá. Các em tin có ông Trời, bà Trời, ông Trăng, ông Sao, ông Sấm, ông Sét... Các em có thể trò chuyện cùng với trăng, sao, mời trăng, sao xuống cùng ở, cùng chơi. Ông Trăng, bà Trời cũng như con người, có thể kết hôn: Ông Trăng mà lấy bà Trời/ Tháng năm đi cưới, tháng mười đi cheo... Ông Sấm, ông Sét hung dữ: Ông sấm ông sét/ Ông hét đùng đùng/ Ông nổ lung tung/ Vỡ vung vỡ nồi... Loài vật được các em gọi bằng những cái tên ngộ nghĩnh: sên sển sền sên, con mẻo con meo, con gả con ga, con hổ con hô, con vỏi con voi... Với các em, con sên biết “lên công chúa”, con công “hay múa”, con rùa “đội nhà đi chơi”, con bống biết “khéo sảy khéo sàng”, con trâu, con nghé biết vâng lời mẹ: Mẹ gọi tiếng trước/ Cất cổ chạy mau/ Mẹ gọi tiếng sau/ Cất đầu mà chạy...

Tưởng tượng đồng dao dẫn dắt trẻ thơ tạo ra thế giới hòa nhập riêng, các em có thể đóng vai này, vai khác đầy thích thú. Hình thức này chúng ta có thể bắt gặp trong những bài đồng dao gắn với trò chơi vận động (dung dăng dung dẻ...), trò chơi mô phỏng (đi chợ, làm nhà...), trò chơi sáng tạo (xếp thuyền, đánh trận...). Chẳng hạn, khi trẻ hát “Ếp nhong nhong/ Ngựa ông đã về/ Cắt cỏ Bồ Đề/ Cho ngựa ông ăn” chính là trẻ đang tưởng tượng mình trong tư cách một vị tướng cưỡi ngựa đánh thắng giặc trở về.

Gắn liền với tưởng tượng là liên tưởng. Liên tưởng đồng dao mang đậm sự tự do, phóng khoáng, đầy ngẫu hứng, làm nên sự “lạ hóa”. Đặc điểm này thể hiện rõ trên phương diện tạo lập hình ảnh. Trong đồng dao, các hình ảnh đặt cạnh nhau quan hệ khá lỏng lẻo. Tuy chúng cùng đặt chung trong một chuỗi ngôn từ nhưng mỗi hình ảnh có khả năng tách riêng, tồn tại độc lập. Ví dụ lời đồng dao: Chồng lộng chồng cà/ Mày xoa hoa khế/ Khế ngâm, khế chua/ Cột đình cột chùa/ Nhà vua mới làm/ Cây cam, cây quít/ Cây mít, cây hồng. Dung dăng dung dẻ/ Dắt trẻ đi chơi/ Đến ngõ nhà trời/ Lạy cậu lạy mợ/ Cho cháu về quê/ Cho dê đi học/Cho cóc ở nhà/ Cho gà bới bếp...”.

Tách một hình ảnh bất kỳ, ví dụ Cột đình cột chùa, khó có thể tìm thấy mối quan hệ giữa hình ảnh này với các hình ảnh đứng bên cạnh như khế ngâm, khế chua hay cây cam, cây quít cũng như với các hình ảnh, chi tiết khác hoặc sự việc Dắt trẻ đi chơi dường như chẳng có quan hệ gì đến cháu về quê, dê đi học, cóc ở nhà và các hình ảnh, chi tiết trong bài. Qua đó, có thể thấy rằng liên tưởng ngẫu hứng khiến hình ảnh trong đồng dao có tính “độc diễn” (chữ dùng của Triều Nguyên). Chính tính chất “độc diễn” này đã tạo nên sự vô tư, trong sáng cho đồng dao, phản ánh tư duy “nhảy cóc” tự do, phóng khoáng của trẻ.

Liên tưởng đồng dao dựa trên cơ chế liên tưởng về mặt âm thanh, bất chấp quan hệ ý nghĩa để tạo nên cấu trúc độc đáo. Logic của đồng dao khước từ mọi sự can thiệp của lý trí. Ví dụ: Chặt cây dừa/ Chừa cây mận/ Cây bần thận/ Cây bí đao/ Cây nào cao/ Cây nào thấp.../ Mồng tơi chín đỏ/ Con thỏ nhảy qua. Nghiến ngu nga/ Ngà ngu nghiện/ Chồng thầy kiện/ Vợ thuyền chài/ Ngài đánh trống/ Ngài đánh phách/ Quách cu lơ/ Cu lơ ông xã...

Thật khó để đi tìm cái lý cho sự xuất hiện của các câu hát trong một bài đồng dao trên. Lời đồng dao dường như không nương vào nghĩa mà nương vào vần. Từ “chặt cây dừa” nảy sinh “chừa cây mận”, từ “mồng tơi chín đỏ” kéo theo “con thỏ nhảy qua”... Hay những câu Nghiến ngu nga/ Ngà ngu nghiện thoạt nghe không có nghĩa nhưng lại là những câu dẫn vần vè, tạo cảm giác vui vẻ, nhằm gây hứng thú cho trẻ em.

Ở một số nhóm đồng dao, có thể tìm thấy giữa các hình ảnh có quan hệ liên tưởng cùng trường sự vật. Tiêu biểu như nhóm đồng dao dưới dạng vè sự vật, cung cấp kiến thức về các loài cá, các loại chim, các loại quả... Sự liên tưởng này mang đến cái nhìn mới lạ về thế giới tự nhiên quen thuộc kết hợp với cách thức liệt kê sóng đôi, phù hợp với tư duy nhận thức còn giản đơn của trẻ. Ví dụ: Nghe vẻ nghe ve/ Vè các loài cá/ Cá kình, cá ngạc/ Cá nác, cá dưa/ Cá voi, cá ngựa/ Cá rựa, cá đao - trường các loại cá. Hay nghịch hay tếu/ Là chú chìa vôi/ Hay chao đớp mồi/ Là con chèo bẻo/ Tính hay mách lẻo/ Bác khách trước nhà - trường các loại chim.

Trong đồng dao còn xuất hiện một dạng liên tưởng khá thú vị là liên tưởng ngược, có nội dung đánh tráo đặc điểm về hoạt động, tính chất của hai sự vật cạnh nhau. Liên tưởng ngược không chỉ tạo hiệu quả thẩm mĩ khiến người tiếp nhận cảm thấy thích thú, sảng khoái mà còn là một hướng kích thích trí tuệ rất cần cho trẻ, nhất là trẻ ở độ tuổi thiếu niên. Ví dụ: Cứng như xôi/ Mềm như đá/ Thơm như cá/ Tanh như hương/ Tối như gương/ Sáng như mực/ Mùa đông nóng nực/ Mùa hè rét run. Thẳng như lưng tôm/ Cong như cán cuốc/ Thơm nhất là cú/ Hôi nhất là hương/ Đặc như ống bương/ Rỗng như ruột gỗ...

Bên cạnh liên tưởng ngược, đồng dao cũng sử dụng liên tưởng tương đồng, hai hình ảnh đặt cạnh nhau được nối bằng từ so sánh “như”: Thả đỉa ba ba/ Chớ bắt đàn bà/ Phải tội đàn ông/ Cơm trắng như bông/ Gạo tiền như nước. Nu na nu nống/ Hồ rộng sông dài/ Chân ai rửa khéo/ Trắng trẻo như tiên...

Như vậy, liên tưởng đồng dao là một thao tác tư duy phổ biến trong quá trình nhận thức được biểu hiện dưới các hình thức thật đa dạng, tạo nên những kết hợp hình ảnh mới mẻ. Dù theo hình thức nào, cũng có thể thấy rằng liên tưởng đồng dao mang đậm tính tự do, ngẫu hứng, mối liên hệ nhiều khi tưởng xa xôi, mơ hồ, không có cơ sở nhưng thực chất lại chân thật, hợp lý với logic tư duy của trẻ. Nó thể hiện cách cảm nhận vạn vật và con người hồn nhiên, nhí nhảnh, vô tư, đúng với tâm lí trẻ thơ.

4. Kết luận

Tóm lại, tư duy đồng dao là phương thức tư duy gắn với một thể loại văn học, phản chiếu tâm hồn và trí tuệ thơ ngây tuổi nhỏ. Tư duy đồng dao có một số đặc điểm như: tư duy ngây thơ, hồn nhiên, ngộ nghĩnh; tư duy trực cảm hồn nhiên, trong trẻo, tư duy thể hiện nhãn quan bè bạn, tư duy mang tính ngẫu hứng, bất định, tự do, gắn với tính trò chơi. Đồng dao là hình thức thơ ca đầu tiên dành cho trẻ nên tư duy đồng dao có nhiều nét gần gũi với tư duy thơ hiện đại. Trẻ em - trong tư thế người nghệ sĩ đồng quê trong đồng dao chính là tiền thân của những nhà thơ trẻ em sau này.

____________________

Tài liệu tham khảo

1. Châu Minh Hùng, Lê Nhật Ký. (2007). Chuyên đề “Hệ thống thể loại văn học cho thiếu nhi”. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án phát triển giáo viên tiểu học.

2. Hoàng Phê (chủ biên). (2014). Từ điển Tiếng Việt. Nhà xuất bản Đà Nẵng.

3. Hoàng Tiến Tựu. (1990). Giáo trình Văn học dân gian. (Tập 2). Nhà xuất bản Giáo dục.

4. Nguyễn Nghĩa Dân. (2006). Tìm hiểu về hệ thống đồng dao Việt Nam. Tạp chí Nguồn sáng dân gian. Số 1.

5. Nhiều tác giả. (2005). Thông báo Văn hóa dân gian 2005 (Kỷ yếu hội nghị khoa học, Viện nghiên cứu văn hóa tổ chức). Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

6. Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang, Nguyễn Huy Hồng, Trần Hoàng. (1997). Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.

7. Trần Đức Ngôn, Dương Thu Hương. (2008). Giáo trình Văn học thiếu nhi Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục.

8. Vũ Anh Tuấn (chủ biên), Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân Hương. (2012). Giáo trình Văn họcdân gian. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/3/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 18/4/2026; Ngày duyệt đăng: 28/4/2026.

 

TS TRẦN THỊ MINH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 645, tháng 6-2026