Hát chèo đường trên Vịnh Hạ Long là lối hát đối đáp, thường là hát tập thể giữa nam và nữ.jpg
Hát chèo đường trên Vịnh Hạ Long là lối hát đối đáp, thường là hát tập thể giữa nam và nữ

Hát chèo đường thuộc loại hình diễn xướng dân gian, thể hiện nét đặc sắc riêng của ngư dân Hạ Long, một hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày, nhất là các dịp lễ hội. Sở dĩ có tên gọi “chèo đường” bởi nó xuất phát từ động tác di chuyển khi hát. Hát chèo đường của dân chài (còn gọi hát gái hay hát đố, hát giảng) thực chất là loại hình hát đối đáp, giao duyên trong lúc chèo thuyền di chuyển trên mặt vịnh Hạ Long.

Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Tống Khắc Hài - Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Quảng Ninh, trong cuốn sách “Ca dao dân ca của dân chài trên Vịnh Hạ Long” (Nxb Hội Nhà văn ấn hành năm 2016) của mình, từng nhận xét: Ở Vịnh Hạ Long, ngư dân cứ nối đời sống lênh đênh trên những con thuyền nhỏ, mọi thành viên đều tham gia sản xuất, bé thì gỡ cá, lớn lên một chút thì kéo lưới, thả câu... Mỗi con thuyền là một ngôi nhà, với không gian sống tách biệt. Từ cuộc sống lênh đênh ấy, đã hình thành nên văn hóa của dân chài, trong đó có hát giao duyên rất độc đáo. Hát giao duyên với họ như một phương cách khẳng định sự tồn tại của mình. Hay cũng có thể nói, chính những lời ca tiếng hát đã kéo những con thuyền xích lại gần nhau... Thuyền này hát gọi, thuyền kia trả lời. Có khi chỉ cùng một luồng lạch khi đi hành nghề, vừa chèo vừa hát. Phải chăng vì thế mà có tên hát chèo đường?”.

Không gian diễn xướng của các cuộc hát rất rộng mở, diễn ra trên biển, giữa các thuyền với nhau bằng giọng hát mềm mại, mênh mang mà không kém phần sâu lắng. Cuộc sống của ngư dân xưa nổi trôi theo sóng nước và câu hát cũng bồng bềnh trên mặt vịnh Hạ Long. Vẫn theo nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài, tính trữ tình trong câu hát giao duyên của ngư dân Hạ Long còn “thăng hoa” bởi vẻ đẹp của thiên nhiên vịnh Hạ Long. Chính những nét đẹp thơ mộng của vịnh Hạ Long đã góp thêm cảm hứng trong câu hát và cho người hát. Ở phương diện khác, những câu hát đã góp phần tô điểm thêm cho vẻ đẹp không gian vịnh Hạ Long. Chẳng thế mà nơi đây đã 2 lần được UNESCO công nhận giá trị địa chất, địa mạo, cảnh quan thẩm mỹ và giá trị văn hóa.

Môi trường sống của ngư dân Hạ Long rất yên lành, không nhiều sóng to gió lớn. Có lẽ vậy nên dân ca trên Vịnh không giống như hò biển ở những vùng gặp nhiều thử thách khắc nghiệt từ thiên nhiên, không có những âm điệu kiểu “dô huề dô”. Bà con thờ thần sông, thần biển, thờ mẫu Thoải phủ (mẫu Thủy cung), thờ các vị tướng có công với dân, với nước. Lối sống và tín ngưỡng bản xứ cũng êm đềm chứ không dữ dội: không có lễ mở cửa biển ào ạt, không có tục thờ cá Ông như ngư dân miền Trung, miền Nam. Do vậy, hát giao duyên trên vịnh Hạ Long cũng không “mạnh mẽ” như dân ca Nam Trung Bộ, Nam Bộ.

Nhìn chung, ca từ (lời hát) có nội dung phong phú, chứa đựng kho tàng tri thức dân gian, phong tục tập quán và lễ hội của cư dân sông nước. Sắc thái biểu cảm của lời ca cũng đa dạng với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Người hát như trải lòng mình với sóng nước mênh mông, hát để kết bạn, nên duyên vợ chồng. Một cuộc hát thường bắt đầu từ hai con thuyền, sau xúm lại thành từng nhóm thuyền chia hai bên nam, nữ. Có những cuộc hát kéo dài đến tàn trăng, tàn đêm chưa muốn dứt.

Mở đầu cuộc hát bao giờ cũng là những lời chào hỏi, lời lẽ khiêm nhường, có phần nhún mình. Tiếp đến là những lời dò hỏi, tìm hiểu hoàn cảnh của bạn hát, chủ yếu là tìm được những người thật lòng mong kết bạn tình. Những câu hát dò hỏi này muôn màu muôn vẻ, từ xa đến gần, từ gián tiếp đến trực tiếp.

Sau đó, đôi bên phải trải qua một cuộc hát thử tài bằng những bài hát đố hát giảng, đủ các kiến thức trên trời dưới biển, từ thiên văn, địa lý đến vạn vật, sách vở, điển tích. Sau phần hát thử tài với hàng loạt bài hát đố - hát giảng, trai gái mới thật sự xích lại gần nhau. Khi đã cầm được bàn tay, đôi bên thường trao gửi khăn, nón để giữ lại những gì gần gũi, thân thiết nhất của người yêu. Kết thúc cuộc hát đối là phần hát chia tay, giã bạn ra về… chan chứa yêu thương. Cũng không thiếu cuộc chia tay đầy tiếc nuối bởi không phải tất cả đều nên vợ nên chồng.

Nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Hưu trong một lần truyền dạy hát giao duyên cho lớp trẻ.jpg
Nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Hưu trong một lần truyền dạy hát giao duyên cho lớp trẻ

Về định danh, hát chèo đường có nhiều tên gọi như: Hát ví, hát véo. Có người gọi “hát gái” vì căn cứ vào nội dung tìm bạn gái để giao duyên; người lại gọi là hát đố và hát giảng. Cũng có nhà nghiên cứu đưa ra thuật ngữ “hò biển” bởi mở đầu các câu hát là tiếng “ơ hò”. Tuy nhiên, “hò biển” trên vịnh Hạ Long chậm rãi, mênh mang, tha thiết gợi cảnh, gợi tình, đúng là tiếng gọi của tình yêu đôi lứa chứ không mạnh mẽ như hò sông Mã (Thanh Hóa). Bài ca sau đây đã nhiều lần được dàn dựng theo lối sân khấu hóa là một ví dụ: “Ơ hò…! Trên mây sa, dưới hòn Gà Chọi/ Anh hát câu này anh gọi nàng ra/ Những lời nàng hát đêm qua/ Hôm nay hát nữa cho ta hát cùng/ Hát cho con gái có chồng/ Con trai có vợ, nạ dòng có con. Ơ hò…”.

Hơn chục năm trước, người viết bài này có dịp được cụ Nguyễn Văn Hưu ở làng chài Cửa Vạn cho xem một tập bài hát mà cụ dày công ghi chép lại. Cụ Hưu tự hào kể rằng, thời trai trẻ, cụ từng đem những bài hát này cùng đám thanh niên sang vùng biển Vân Đồn hay làng đảo Hà Nam để hát đối tìm bạn tình. Có khi gặp bạn tri kỷ, mọi người cùng hát đến thâu đêm.

Không chỉ là những lời ca đằm thắm về tình yêu trai gái, hát giao duyên còn thể hiện tình yêu nghề, yêu biển cả, yêu quê hương của những người ngư dân xưa: “Quê hương sơn thuỷ hữu tình/ Hội hè vui vẻ cảnh tình vui tươi/ Dập dìu trai gái chơi bời/ Trước thời chơi hội sau thời chơi xuân/ Hội long vân tương phùng kỳ ngộ/ Gặp em đây than thở mấy lời/ May thay cá nước duyên giời/ Xui cho anh gặp được người cố tri”.

Vì tính chất gắn bó chặt chẽ với nghề biển và không gian biển nên hát giao duyên là một hình thức sinh hoạt cộng đồng riêng biệt ở vùng biển Quảng Ninh - địa điểm diễn ra thường là trên những chiếc thuyền nan. Ngày xưa, người làng chài đi thuyền thường mượn câu hát để chào hỏi nhau, đố vui nhau để cùng xua đi cái mệt nhọc của việc đánh cá trên biển.

Đôi khi chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi sau những giờ buông lưới vất vả. Cũng có khi là lúc chờ đợi ngày giờ ra khơi... Giữa vùng non nước biếc xanh, thuyền này hát, thuyền kia đáp lời. Cứ thế, những người dân vùng biển gắn kết, gần gũi với nhau tạo thành một cộng đồng chặt chẽ: “Thuyền anh trong Vịnh mới ra/ Thuyền em ở dưới Vạn Hoa mới về/ Song song đôi chiếc thuyền kề/ Chiếc đi Bãi Cháy, chiếc về Tuần Châu/ Hẹn chàng sáng sớm hôm sau/ Có lên em đón Bồ Nâu, hang Luồn?”.

Tương tự, trong rất nhiều bài hát khác, người nghe dễ dàng bắt gặp các nghệ nhân dân gian đã khéo léo đưa vào lời hát nhiều tên đất, tên làng của vùng quê - thể hiện bản sắc của một vùng non nước: “Em là con gái Hạ Giang/ Quê hương Giang - Trúc, xã là Thành Công/ Nhà ở tứ hướng bên sông/ Cha mẹ song thọ đang mong chờ người/ Nghề nghiệp làm cá biển khơi/ Quanh năm vất vả lưới chài nhọc thân”.

Dù là những câu hát giản dị, mộc mạc, không cần nhạc đệm nhưng nó chứa đựng hàm lượng tri thức lớn về cuộc sống, thiên nhiên, con người. Ở đó, tình cảm cá nhân đã hoà quyện chặt chẽ vào tình yêu quê hương. Hay nói cách khác, chính không gian biển cả, không gian của những con thuyền đã kéo nam nữ lại gần nhau, xui khiến họ nên duyên: “Thuyền nào mà véo mà von/ Trời còn chưa tối, đầu non trăng mờ/ Có lòng thì đợi thì chờ/ Có lòng nhớ bến, thương bờ thì neo/ Thuyền anh neo đã thả rồi/ Thương bờ nhớ bến đứng ngồi không yên/ Vì tình, vì nghĩa, vì duyên/ Ước gì chung một mạn thuyền đêm nay”.

Tuy nhiên, để được “chung một mạn thuyền” với bên nữ, bên nam còn phải trải qua nhiều thử thách. Không chỉ thử thách tài ứng đối, những phần hát đố, hát giảng và hát họa thể hiện rõ rất tình yêu quê hương. Lý do là bởi ở đó, các nghệ nhân đã rất khéo đưa vào lời hát nhiều tên đất, tên làng của vùng quê biển Hạ Long hay rộng hơn là quê hương Quảng Ninh xưa.

Từ nhiều năm trước, loại hình hát giao duyên đã để lại ấn tượng sâu sắc cho khách du lịch tham quan vịnh Hạ Long. Thế nhưng, thời gian qua, việc trình diễn hát giao duyên phục vụ khách du lịch bị gián đoạn. Những nghệ nhân hát giao duyên cũng ngày một thưa vắng vì lý do tuổi tác.

Để bảo tồn những nét độc đáo, đặc sắc đó, hát giao duyên từng được sưu tầm, lưu giữ thông qua Dự án “Phục dựng, bảo tồn và phát huy một số giá trị văn hóa dân gian của ngư dân làng chài Cửa Vạn (vịnh Hạ Long)”. Một đội hát giao duyên được thành lập. Những lớp tập huấn được tổ chức, triển khai tại Trung tâm Bảo tồn vịnh Hạ Long 2. Đã có một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu, sưu tầm - xuất bản sách về hát chèo đường như: Tác giả Vũ Thị Gái có sách “Ca dao dân ca vùng biển Quảng Ninh”, tác giả Tống Khắc Hài có cuốn “Ca dao dân ca của dân chài trên vịnh Hạ Long”; hai tác giả Cao Đức Bình - Hoàng Quốc Thái thì in chung công trình “Di sản văn hoá làng chài vịnh Hạ Long”; Nguyễn Quang Vinh có “Văn hóa dân gian vùng biển Quảng Ninh”.

Tuy nhiên, các cuốn sách nói trên hoặc chưa đề cập trực diện hoặc chưa đưa ra những giải pháp cụ thể để bảo tồn một loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc. Thêm nữa, trong công tác bảo tồn phát huy giá trị đặc sắc của hát giao duyên trên vịnh Hạ Long, có vẻ như mối liên hệ giữa các cơ quan, tổ chức và các nhà sưu tầm nghiên cứu chưa thật chặt chẽ. Từ tháng 3/2026, hát chèo đường/ giao duyên trên vịnh Hạ Long được khôi phục trở lại tại khu vực làng chài Cửa Vạn sau một thời gian tạm gián đoạn để rà soát, củng cố và hoàn thiện các điều kiện tổ chức. Đây là thông tin đáng chú ý, mở ra cơ hội mới cho việc bảo tồn và phát huy giá trị một di sản phi vật thể quý của quê hương Quảng Ninh.

Bài và ảnh: PHẠM HỌC

Nguồn: Tạp chí VHNT số 646, tháng 6-2026