Vai trò của diễn xướng dân gian trong đời sống người dân làng Triều Khúc

Diễn xướng dân gian là “linh hồn” của lễ hội truyền thống, đóng vai trò cốt lõi tái hiện lịch sử và tôn vinh bản sắc văn hóa địa phương, thỏa mãn nhu cầu tinh thần của cộng đồng, gắn kết và trao truyền di sản liên thế hệ. 

Các diễn xướng dân gian trong lễ hội làng Triều Khúc là những nghi thức được thiêng hóa, khắc họa đời sống tâm linh của nhân dân. Các diễn xướng đều được người dân thực hiện một cách hoàn hảo nhất để cầu mong thần linh phù hộ cho dân làng khang vật thịnh, bách nghệ tinh thông.

Các trình diễn trong lễ hội cũng là hoạt động giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử và đạo lý uống nước nhớ nguồn thông qua các câu chuyện kể, các điệu múa và trò diễn dân gian. Điệu múa “Con đĩ đánh bồng”, chạy cờ tái hiện sự kiện Phùng Hưng luyện quân đánh giặc; múa rồng, múa sênh tiền để tưởng nhớ công ơn các bậc tiền nhân, tổ tiên đã phù trợ cho dân làng. Quá trình trao truyền di sản cũng làm tăng thêm sự gắn kết giữa các thế hệ, giúp cộng đồng tự hào, gìn giữ và lan tỏa di sản văn hóa đó.

Ngoài thỏa mãn các nhu cầu tâm linh, sinh hoạt văn hóa của nhân dân và vui chơi, giải trí, các diễn xướng dân gian còn mang giá trị kinh tế, trở thành “đặc sản” thu hút du khách, tạo nguồn lực cho phát triển du lịch văn hóa - làng nghề, góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội địa phương.

Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị các diễn xướng dân gian trong lễ hội làng Triều Khúc hiện nay

Thực trạng

Sự hồi sinh và phát triển của các diễn xướng dân gian trong lễ hội làng Triều Khúc đã cho thấy nỗ lực to lớn của cộng đồng và cơ quan chức năng trong bảo tồn di sản. Tiêu biểu như điệu múa trống bồng. Điệu múa này đã từng tồn tại hơn 1.000 năm, đến giai đoạn 1945-1954 bị gián đoạn bởi chiến tranh. Trong những năm 1960-1980, điệu múa được khôi phục nhưng rất ít người tham gia, do đó làng đã bỏ lệ người trống bồng phải là trai tân, vận động cả người đã lập gia đình tham gia duy trì. Đến thập niên 1990, điệu múa trống bống dần được hồi sinh, dần trở thành tiết mục trình diễn đặc sắc như hiện nay. Để có được thành tựu đó, phải kể đến sự đóng góp của dân làng, đặc biệt là cố nghệ nhân Triệu Đình Hồng và chính sách bảo tồn di sản của địa phương. Năm 2015, câu lạc bộ Trống bồng Triều Khúc được thành lập, trở thành nơi đào tạo và truyền dạy cho các thế hệ.

Không chỉ trình diễn trong lễ hội làng, múa trống bồng còn tham gia nhiều sự kiện chính trị, văn hóa ở địa phương và các tỉnh thành khác. Theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Tuyển (Đội trưởng đội Trống bồng, đội múa sênh tiền làng Triều Khúc) năm 2000, đội Trống bồng Triều Khúc biểu diễn nhân kỷ niệm 25 năm thống nhất đất nước tại Thành phố Hồ Chí Minh; năm 2010 đội biểu diễn dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Ngoài ra, đội còn được nhiều địa phương mờibiểu diễn, như Tuyên Quang, Hải Phòng, Thái Nguyên… Bên cạnh đó, đội Trống bồng thường được các làng lân cận mời biểu diễn trong lễ hội truyền thống, sự kiện văn hóa, khánh thành nhà thờ dòng họ… Mỗi năm đội Trống bồng Triều Khúc lưu diễn ngoài làng khoảng 50-60 lần. Ngoài ra, đội sênh tiền, đội múa rồng của làng cũng thường xuyên được mời trình diễn trong các lễ hội làng truyền thống, giỗ tế dòng họ, khai trương công ty…

Để phát triển lực lượng kế cận, bên cạnh việc truyền dạy tại cộng đồng, các diễn xướng dân gian của làng cũng được đưa vào trong trường học. Điều này làm cho di sản được lan tỏa và phát huy giá trị, góp phần nâng cao tình yêu, trách nhiệm của lớp trẻ với di sản cộng đồng. Hiện nay, lực lượng tham gia các đội diễn xướng dân gian làng Triều Khúc khá đông và trẻ: đội Trống bồng có 40 thành viên nam, từ 8-50 tuổi; đội sênh tiền có 15 thành viên nữ, từ 12-18 tuổi; đội múa rồng có 40-45 thành viên nam; đội Chạy cờ luôn duy trì trên 40 thành viên nam (Thu Hằng, 2020, 31 tháng 1). Lớp trẻ được chọn tham gia trình diễn diễn xướng đều cảm thấy tự hào chứ không thấy “ngại”, “xấu hổ” như trước nữa.

Hoạt động bảo tồn, phát huy nghệ thuật diễn xướng dân gian làng Triều Khúc còn được hỗ trợ từ chính sách của thành phố và hoạt động của Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội. Với mục tiêu hồi sinh và phát triển nghệ thuật múa cổ Thăng Long - Hà Nội, năm 2005 Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội đã triển khai đề án Khảo sát, nghiên cứu, sưu tầm di sản múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội. Kết quả, Hội đã phát hiện, nghiên cứu, sưu tầm được hơn 50 điệu múa cổ và phục dựng, ghi hình được tám điệu (2), tổ chức 4 liên hoan múa cổ truyền vào các năm 2007, 2008, 2009 và 2013. Từ năm 2015-2020, Hội tổ chức hai đợt trình diễn tám điệu múa cổ, mỗi đợt có hơn 800 nghệ nhân tham gia (An Nhi, 2024, 23 tháng 6). Năm 2024, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt đề án Sưu tầm, bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội, tổ chức biểu diễn trong các không gian sáng tạo công cộng, trong đó có múa trống bồng Triều Khúc. Điệu múa này cũng được biểu diễn chào mừng Ngày Di sản văn hóa Việt Nam năm 2024; tại Festival Thăng Long - Hà Nội (2025). Sắp tới, Hội sẽ nghiên cứu, sưu tầm, lập bản đồ di sản múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội; tập trung truyền dạy và biểu diễn; liên kết với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội xây dựng Đề án Giáo dục nghệ thuật múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội trong học đường; liên kết với Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam thực hiện Đề án Di sản múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội: một sản phẩm độc đáo của du lịch văn hóa. Các hoạt động này góp phần lan tỏa diễn xướng dân gian Hà Nội nói chung, diễn xướng dân gian làng Triều Khúc nói riêng đến với nhân dân và du khách.

Mặc dù được phục hồi và phát triển nhưng diễn xướng dân gian làng Triều Khúc vẫn có dấu hiệu mai một và đối diện với thách thức trên một số phương diện, như:

Sự thu hẹp đối tượng truyền dạy: làng Triều Khúc có lệ không truyền điệu múa trống bồng, múa chạy cờ cho người ngoài làng. Vài năm gần đây, múa trống bồng, chạy cờ tạm thời dừng hoạt động truyền dạy trong trường học. Điều này sẽ giữ được tính nguyên bản của diễn xướng nhưng cũng là nguyên nhân hạn chế sự phát triển của lực lượng kế cận.

Số lượng nghệ nhân và người am hiểu về diễn xướng dân gian trong làng không nhiều, đặc biệt là những người có khả năng truyền dạy, tổ chức diễn xướng. Dù lượng người tham gia đông, nhưng trong làng hiện chỉ có nghệ nhân Nguyễn Hữu Tuyển truyền dạy múa trống bồng, múa sênh tiền; nghệ nhân Nguyễn Đình Chiến dạy múa rồng, múa lân. Vì thế, nguy cơ đứt gãy thế hệ luôn hiện hữu.

Những biến đổi về môi trường cũng là nguyên nhân làm mai một, biến đổi các diễn xướng dân gian của làng. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng, không gian tổ chức lễ hội bị thu hẹp, tỷ lệ người nhập cư tăng cao, sự thay đổi cơ cấu nghề nghiệp của người dân (chuyển đổi sinh kế từ nông nghiệp, thủ công sang công nghiệp, dịch vụ, cho thuê nhà trọ) cũng tạo áp lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa này.

Giải pháp bảo tồn, phát huy

Việc bảo tồn và phát huy giá trị các diễn xướng dân gian làng Triều Khúc không chỉ là nỗ lực của một số nghệ nhân tâm huyết mà đòi hỏi sự đồng thuận của cộng đồng, một khung chính sách và giải pháp đồng bộ ở các cấp, để các di sản văn hóa dân gian này được bảo tồn và lan tỏa mạnh mẽ, trở thành nguồn lực cho phát triển trong bối cảnh hiện nay. Các giải pháp được đề xuất như sau:

Tư liệu hóa và số hóa di sản: xây dựng hồ sơ khoa học, tư liệu hóa các diễn xướng đó bằng hình thức ghi hình, lập bản đồ số hóa không gian và di sản… Hoạt động này không chỉ lưu giữ và quảng bá được thuận lợi mà còn xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác giảng dạy, trao truyền và nghiên cứu.

Hỗ trợ nghệ nhân và hoạt động truyền dạy: di sản sẽ biến mất nếu không được nối truyền. Vì vậy, cần có chế độ đãi ngộ nghệ nhân, hỗ trợ kinh phí tập luyện, tổ chức các lớp truyền dạy tại làng. Cân nhắc việc mở rộng đối tượng truyền dạy các diễn xướng đặc thù (múa trống bồng, múa chạy cờ) cho người ngoài làng.

Bảo tồn và khôi phục không gian văn hóa của lễ hội, bao gồm môi trường sống - con người - quan hệ cộng đồng - văn hóa tâm linh. Xây dựng quy chế quản lý và tổ chức lễ hội theo hướng “cộng đồng làm chủ”.

Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị các diễn xướng dân gian. Thường xuyên tổ chức trình diễn trong các sự kiện cộng đồng, tăng cường truyền thông trên nền tảng số. Tổ chức các buổi trải nghiệm thực tế cho học sinh. Đưa di sản vào trường học để học sinh được “chạm”, được thử sức và sáng tạo cùng di sản.

Gắn kết các diễn xướng dân gian với phát triển du lịch. Triều Khúc là làng bách nghệ, cùng với các giá trị văn hóa đặc sắc trở thành nguồn lực cho phát triển du lịch cộng đồng, góp phần tạo thu nhập cho nhân dân, giữ gìn và tái tạo đời sống cho di sản năng động hơn. Tuy nhiên, để đáp ứng phát triển du lịch văn hóa, Triều Khúc cần quy hoạch, cải tạo, mở rộng về cơ sở vật chất, đặc biệt là giao thông và không gian cảnh quan công cộng.  

4. Kết luận

Diễn xướng dân gian trong lễ hội làng Triều Khúc là một chỉnh thể văn hóa đặc sắc, kết tinh giữa nghi lễ thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng với các diễn xướng độc đáo, như múa: “Con đĩ đánh bồng”, rồng lân, sênh tiền, chạy cờ… Đó không chỉ là sinh hoạt văn hóa nghệ thuật mà còn phản ánh ký ức lịch sử, tín ngưỡng và cấu trúc cộng đồng làng xã truyền thống.

Trong bối cảnh hiện nay, các diễn xướng dân gian này đang đối mặt với nhiều thách thức như sự suy giảm đội ngũ nghệ nhân, sự gián đoạn trong hoạt động truyền dạy, không gian diễn xướng bị thu hẹp và biến đổi bởi tác động của quá trình đô thị hóa. Trước thực trạng đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị các diễn xướng dân gian làng Triều Khúc cần được triển khai đồng bộ theo hướng bảo tồn “sống”, đặt cộng đồng vào vị trí chủ thể, kết hợp tư liệu hóa, truyền dạy, quảng bá và hoàn thiện cơ chế. Việc gắn các diễn xướng dân gian với phát triển du lịch văn hóa theo hướng bền vững, thông qua xây dựng sản phẩm trải nghiệm, truyền thông số và phát triển sinh kế cộng đồng sẽ góp phần vừa bảo vệ giá trị di sản, vừa tạo động lực phát triển kinh tế địa phương.

____________________

1. 10 điệu múa cổ đất Thăng Long xưa, gồm: múa Con đĩ đánh bồng (lễ hội làng Triều Khúc); múa Đèn (lễ hội đền Đồng Nhân); múa Canh nông (làng Cư An); múa Chèo Tầu (xã Tân Hội); múa Chén (phường Yên Hòa); múa Chèo Cạn (phường Bưởi); múa Ải Lao (đền Phù Đổng); múa Giảo Long (Việt Hưng); múa Bài Bông (đền Đồng Nhân); múa Rắn lột (Việt Hưng).

2. Múa Ải Lao trong lễ hội làng Phù Đổng; múa Lễ chữ ở làng Chử Xá; múa Giảo Long ở làng Lệ Mật; múa Rắn lột ở làng Trường Lâm; múa Lục cúng ở chùa Đào Xuyên; múa Bài Bông ở làng Phú Nhiêu; múa Trống bồng ở làng Triều Khúc; múa Giải oan cắt kết ở chùa Quang Minh.

Tài liệu tham khảo

1. An Nhi. (2024, 23 tháng 6). Hồi sinh múa cổ Thăng Long - Hà Nội: Chung tay sưu tầm và lan tỏa. Báo Hà Nội Mới. https://hanoimoi.vn/hoi-sinh-mua-co-thang-long-hanoi-chung-tay-suu-tam-va-lan-toa-670009.html

2. Đỗ Ngọc Yến. (2012). Biến đổi của làng nghề truyền thống trong quá trình đô thị hóa (nghiên cứu trường hợp làng Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 4.

3. Giang Nguyên Bồi. (2024). Làng cổ Triều Khúc. Nhà xuất bản Lao động.

4. Lê Ngọc Canh. (2015). Múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.

5. Nguyễn Thúy Hường, Nguyễn Thị Phương Thảo. (2025). Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tại các tiểu vùng văn hóa Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa: Nghiên cứu trường hợp múa “con đĩ đánh bồng”. Kỷ yếu Hội thảo Giáo dục Hà Nội học qua tiểu vùng văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Nhà xuất bản Hà Nội.

6. Thu Hằng. (2020, 31 tháng 1). Đặc sắc điệu múa rồng làng Triều Khúc. Báo Hà Nội Mới. https://nhipsonghanoi. hanoimoi.vn/dac-sac-dieu-mua-rong-lang-trieu-khuc-627315.html

7. Trần Siêu. (2024, 11 tháng 5). Vùng đất “danh khoa thế mỹ” ba đời nối nhau đỗ đại khoa. Báo Giáo dục và Thời đại. https://giaoducthoidai.vn/vung-dat-danh-khoa-the-myba-doi-noi-nhau-do-dai-khoa-post682733.html

8. Viện Ngôn ngữ học. (2003). Từ điển Tiếng Việt. Nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học.

9. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo. (1997). Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/5/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/5/2026.

 

Ths ĐẶNG TRẦN HIẾU

Nguồn: Tạp chí VHNT số 645, tháng 6-2026