Từ khóa: văn hóa Việt Nam; con người Việt Nam; chuyển đổi số quốc gia; Văn kiện Đại hội XIV; Nghị quyết số 80-NQ/TW.

Abstract: This article analyzes the requirements for building Vietnamese culture and people in the period of national digital transformation in the spirit of the Documents of the 14th National Party Congress and the Politburo’s Resolution No.80-NQ/TW on the development of Vietnamese culture. It clarifies the role of culture and people as the spiritual foundation, endogenous resource, important driving force, and regulatory mechanism for rapid and sustainable development. At the same time, it argues that digital transformation not only changes technology and governance, but also restructures the cultural environment as well as the modes of creating, disseminating, and receiving values. On the basis of identifying emerging opportunities and challenges in the digital space, the article proposes groups of solutions concerning institutions, digital communication, cultural infrastructure and data, the development of digital skills, and the cultivation of value systems and standards for Vietnamese people in the new era.

Keywords: Vietnamese culture; Vietnamese people; national digital transformation; Documents of the 14th National Party Congress; Resolution No.80-NQ/TW.

toan canh lop hoc.jpeg
Ảnh tư liệu minh họa: Hạnh Chi

Chuyển đổi số quốc gia hiện là tiến trình chiến lược tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống, không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, giao tiếp mà còn biến đổi sâu sắc môi trường văn hóa và các chuẩn mực ứng xử của xã hội. Định hướng cho bước phát triển này, cả Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW đều thống nhất một quan điểm cốt lõi: sự bứt phá của đất nước trong kỷ nguyên mới phải được thúc đẩy đồng thời bởi sức mạnh công nghệ và sức mạnh văn hóa. Trong mối quan hệ hữu cơ đó, nếu khoa học công nghệ và chuyển đổi số đóng vai trò là động lực trung tâm thì văn hóa và con người chính là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh vững chắc, giữ vị trí chủ thể và là mục tiêu xuyên suốt của toàn bộ tiến trình phát triển.

1. Cơ sở lý luận và chính trị của việc xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số quốc gia

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng luôn nhất quán coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Bước sang giai đoạn hiện nay, khi cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số tác động mạnh mẽ, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, mà còn phải hình thành năng lực thích ứng văn hóa trong môi trường số, phát triển con người Việt Nam có bản lĩnh, trách nhiệm, năng lực sáng tạo và kỹ năng phù hợp với xã hội số.

Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh bối cảnh thế giới biến đổi nhanh, phức tạp, khó lường; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với mọi lĩnh vực của đời sống. Trong bối cảnh ấy, phát triển đất nước không thể chỉ dựa vào tài nguyên hay lao động giản đơn, mà phải dựa vào tri thức, thể chế, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Điều đó càng cho thấy vai trò của văn hóa và con người: văn hóa tạo nên chiều sâu giá trị cho phát triển, còn con người là chủ thể sáng tạo, tiếp nhận và vận hành thành tựu của chuyển đổi số.

Nghị quyết số 80-NQ/TW cụ thể hóa bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng khi yêu cầu phát triển toàn diện văn hóa, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Nghị quyết cũng nhấn mạnh phải xử lý hài hòa các mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, đời sống thực và không gian số, dữ liệu mở và an ninh, chủ quyền văn hóa số. Như vậy, xây dựng văn hóa, con người trong thời kỳ chuyển đổi số không phải là một nhiệm vụ bổ sung, mà là nội dung cấu thành của chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

2. Cơ hội và thách thức của chuyển đổi số đối với văn hóa, con người Việt Nam

Trước hết, chuyển đổi số mở ra cơ hội lớn cho bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Nhờ công nghệ số, các di sản vật thể và phi vật thể có thể được số hóa, lưu trữ lâu dài, tái hiện sinh động và phổ biến rộng rãi hơn tới công chúng. Những công nghệ như quét 3D, thực tế ảo, thực tế tăng cường, dữ liệu lớn hay trí tuệ nhân tạo cho phép tái hiện di tích, hiện vật, lễ hội, nghệ thuật truyền thống theo cách trực quan, hấp dẫn, giúp mở rộng khả năng tiếp cận, nhất là đối với thế hệ trẻ.

Thứ hai, chuyển đổi số làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Xuất bản điện tử, bảo tàng số, thư viện số, sân khấu trực tuyến, nền tảng sáng tạo nội dung và các loại hình công nghiệp văn hóa (CNVH) số đang từng bước hình thành một hệ sinh thái mới. Điều này tạo điều kiện cho các chủ thể sáng tạo tiếp cận công chúng rộng hơn, giảm chi phí trung gian, phát triển các mô hình kinh doanh văn hóa mới và thúc đẩy CNVH trở thành một động lực tăng trưởng. Vì vậy, Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh mục tiêu hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp CNVH, cụm sáng tạo và tổ hợp sáng tạo văn hóa dựa trên nền tảng công nghệ cao.

Thứ ba, không gian số mở ra khả năng quảng bá mạnh mẽ hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới. Các nền tảng số, mạng xã hội, sản phẩm đa phương tiện, du lịch thông minh và nội dung sáng tạo nếu được đầu tư bài bản có thể trở thành công cụ hiệu quả để lan tỏa bản sắc văn hóa, lịch sử và hình ảnh Việt Nam, qua đó tăng cường sức mạnh mềm quốc gia.

Tuy nhiên, cùng với cơ hội là những thách thức rất đáng chú ý. Trước hết là nguy cơ xung đột giá trị, lệch chuẩn và phai nhạt bản sắc trong môi trường số. Các nền tảng xuyên biên giới mang theo nhiều trào lưu, lối sống, ngôn ngữ và thị hiếu văn hóa khác nhau. Nếu thiếu năng lực chọn lọc và thiếu nội lực văn hóa, các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa có thể lấn át những giá trị tích cực của dân tộc, làm suy giảm sự gắn bó của một bộ phận người dân, nhất là giới trẻ, với truyền thống và di sản văn hóa.

Thách thức tiếp theo là sự gia tăng của thông tin xấu độc, tin giả, bạo lực ngôn từ, hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ và các biểu hiện thương mại hóa cực đoan trên không gian mạng. Khi thông tin được truyền đi nhanh hơn khả năng kiểm chứng, môi trường văn hóa số rất dễ bị lẫn lộn giữa đúng và sai, giữa cái đẹp và cái phản cảm, giữa sáng tạo chân chính và hành vi lợi dụng công nghệ để trục lợi. Điều đó tác động trực tiếp đến lòng tin xã hội, đến chuẩn mực ứng xử và chất lượng đời sống tinh thần của cộng đồng.

Ngoài ra, khoảng cách số và sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa vẫn là thách thức hiện hữu. Không phải mọi vùng miền, mọi nhóm xã hội đều có điều kiện tiếp cận đồng đều với hạ tầng số, thiết bị số, kỹ năng số và tài nguyên văn hóa số. Nếu không có chính sách phù hợp, chuyển đổi số có thể làm gia tăng chênh lệch trong tiếp cận thông tin, giáo dục và thụ hưởng văn hóa. Đồng thời, không gian số cũng đặt ra thách thức trực tiếp đối với việc xây dựng con người Việt Nam khi nó có thể làm gia tăng lối sống thực dụng, tâm lý đám đông, thói quen tiếp nhận thông tin ngắn, nông, thiếu phản biện và giảm giao tiếp trực tiếp.

3. Nội dung trọng tâm của xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số quốc gia

Xây dựng môi trường văn hóa số và môi trường thông tin số lành mạnh

Một trong những yêu cầu nổi bật của Nghị quyết số 80-NQ/TW là xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số. Điều đó cho thấy môi trường văn hóa số không chỉ là nơi tiếp nhận thông tin, mà là không gian xã hội đặc thù, nơi diễn ra quá trình giao tiếp, ảnh hưởng và hình thành thói quen, chuẩn mực hành vi. Xây dựng môi trường ấy là kiến tạo một hệ sinh thái trong đó các giá trị đúng đắn được lan tỏa, còn hành vi phản văn hóa, thông tin độc hại bị ngăn chặn hiệu quả.

Để làm được điều đó, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, quy tắc ứng xử và cơ chế quản lý không gian mạng theo hướng vừa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và tự do sáng tạo, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền con người, an ninh văn hóa và thuần phong mỹ tục. Song song với quản lý bằng pháp luật là nâng cao năng lực của báo chí, xuất bản, thiết chế văn hóa và các nền tảng số trong phát hiện, xử lý thông tin sai lệch, nội dung xấu độc và các hành vi xâm phạm giá trị văn hóa.

Tuy nhiên, quản lý bằng quy định là cần nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là xây dựng sức đề kháng văn hóa trong xã hội thông qua giáo dục, truyền thông và nêu gương. Gia đình, nhà trường, tổ chức đoàn thể và cộng đồng cần phối hợp định hướng thói quen sử dụng công nghệ, kỹ năng tiếp nhận thông tin, văn hóa tranh luận và ý thức trách nhiệm trên mạng. Khi chuẩn mực tôn trọng sự thật, tôn trọng người khác, không kích động bạo lực, không phát tán thông tin sai lệch được thực hành phổ biến, không gian số mới thực sự trở thành môi trường nuôi dưỡng con người.

Xây dựng con người Việt Nam thời đại số trên nền tảng hệ giá trị và chuẩn mực văn hóa

Nếu chuyển đổi số là quá trình đổi mới phương thức phát triển, thì ở tầng sâu hơn đó còn là quá trình đổi mới con người: đổi mới nhận thức, tư duy, năng lực thích ứng và hành vi xã hội. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định chuẩn mực con người Việt Nam gồm yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Trong điều kiện chuyển đổi số, những chuẩn mực ấy cần được cụ thể hóa thành năng lực ứng xử văn minh trên môi trường mạng, năng lực tiếp nhận thông tin có chọn lọc, khả năng làm chủ công nghệ và tinh thần sáng tạo, cống hiến.

Yêu nước trong thời đại số không chỉ là tình cảm đối với Tổ quốc, mà còn là ý thức bảo vệ hình ảnh quốc gia, chủ quyền số và chủ quyền văn hóa số. Trung thực gắn với thái độ tôn trọng sự thật, kiểm chứng thông tin, không phát tán nội dung sai lệch. Trách nhiệm thể hiện trong lời nói, hành vi, chia sẻ và tương tác trên môi trường mạng. Sáng tạo trở thành yêu cầu phổ quát đối với mỗi công dân trong học tập, lao động và tham gia đời sống văn hóa. Như vậy, xây dựng con người Việt Nam thời đại số phải kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục tri thức, kỹ năng với bồi dưỡng đạo đức, lối sống và bản lĩnh văn hóa.

Nhà trường cần chú trọng hơn đến giáo dục công dân số, đạo đức số, kỹ năng truyền thông, kỹ năng phản biện và kỹ năng tự bảo vệ trong môi trường mạng. Gia đình tiếp tục giữ vai trò nền tảng trong hình thành nhân cách, lối sống và thói quen sử dụng công nghệ lành mạnh. Các cơ quan truyền thông, thiết chế văn hóa và tổ chức chính trị - xã hội phải chủ động tạo dựng những hình mẫu tích cực, nhân rộng gương người tốt, việc tốt, thực hành văn hóa đẹp trong xã hội số. Đồng thời, phát triển con người trong thời kỳ chuyển đổi số cũng phải gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó, kỹ năng số cần được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với trách nhiệm xã hội và nền tảng nhân văn.

Phát huy chuyển đổi số trong bảo tồn, lan tỏa và sáng tạo giá trị văn hóa

Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra mục tiêu chuẩn hóa và số hóa toàn diện di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao; phát triển hạ tầng số; tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ mới trong sản xuất, phân phối, tiêu dùng và quản lý văn hóa; xây dựng các thiết chế như văn hóa số, bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số. Đây là định hướng có ý nghĩa chiến lược, bởi nó cho phép văn hóa truyền thống hiện diện sống động trong không gian số và tham gia trực tiếp vào giáo dục, truyền thông, du lịch, công nghiệp sáng tạo.

Trong thực tiễn, số hóa di sản không chỉ nhằm lưu trữ dữ liệu, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để công chúng tiếp cận di sản theo những cách mới. Một hiện vật được số hóa 3D, một di tích được tái hiện bằng thực tế ảo, một làn điệu dân ca được đưa lên nền tảng số kèm thuyết minh và bản đồ số đều có thể nâng cao khả năng tiếp cận, tăng tính tương tác và khơi dậy hứng thú đối với văn hóa dân tộc. Khi di sản được tích hợp vào nền tảng học tập, du lịch thông minh, truyền thông số và công nghiệp giải trí, giá trị của di sản được nhân lên, đồng thời ý thức bảo tồn trong cộng đồng cũng được củng cố.

Phát huy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa cũng phải gắn với phát triển CNVH và thị trường nội dung số mang bản sắc Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về giá trị, hình ảnh, bản quyền và sức mạnh mềm, Việt Nam không thể chỉ là người tiêu dùng nội dung trên các nền tảng số, mà phải trở thành chủ thể sáng tạo. Điều này đòi hỏi đầu tư cho nguồn nhân lực sáng tạo, hạ tầng số, cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ, chính sách đặt hàng tác phẩm có giá trị và hỗ trợ doanh nghiệp văn hóa tiếp cận công nghệ mới.

Gắn xây dựng văn hóa, con người với công tác tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện nghị quyết

Một điểm mới của Nghị quyết số 80-NQ/TW là nhấn mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và truyền thông chính sách, trong đó báo chí, xuất bản giữ vai trò nòng cốt, còn truyền thông số giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Trong điều kiện xã hội số, chủ trương của Đảng chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được chuyển tải bằng ngôn ngữ, hình thức và công nghệ phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin mới của công chúng. Bởi vậy, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số, đồng thời cũng là một nội dung của công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW.

Các cơ quan báo chí, xuất bản, hệ thống thông tin cơ sở, cổng thông tin điện tử, các nền tảng số của bộ, ngành, địa phương và hệ sinh thái truyền thông mới cần chủ động chuyển tải tinh thần của các văn kiện thành thông điệp rõ ràng, thiết thực và có khả năng định hướng hành động. Truyền thông số không chỉ dừng ở việc cung cấp thông tin, mà phải góp phần tạo đồng thuận xã hội, khơi dậy niềm tin, khát vọng phát triển và trách nhiệm tham gia của người dân, doanh nghiệp, văn nghệ sĩ, trí thức và đội ngũ cán bộ. Khi công tác tuyên truyền được tổ chức theo logic của truyền thông hiện đại, lấy người dân làm trung tâm, thì quá trình thực hiện nghị quyết mới có thể thấm sâu vào đời sống xã hội.

4. Một số giải pháp chủ yếu

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về phát triển văn hóa trong điều kiện chuyển đổi số. Cần thể chế hóa đầy đủ tinh thần của Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW thành các chương trình, đề án, bộ chỉ số và cơ chế phối hợp liên ngành. Trong mọi chiến lược và chương trình chuyển đổi số quốc gia, cần đặt ra yêu cầu đánh giá tác động văn hóa - xã hội, gắn chuyển đổi số với xây dựng môi trường văn hóa, phát triển con người và bảo vệ chủ quyền văn hóa số. Đồng thời, khẩn trương hoàn thiện các quy định về dữ liệu văn hóa, bản quyền số, bảo vệ tài sản trí tuệ, hợp tác công - tư trong lĩnh vực văn hóa và cơ chế hỗ trợ sáng tạo các sản phẩm văn hóa số có chất lượng cao.

Thứ hai, phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và thiết chế văn hóa số. Cần ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản, lễ hội, nghệ thuật và đời sống văn hóa; đẩy mạnh số hóa bảo tàng, thư viện, phim tư liệu, tác phẩm nghệ thuật có giá trị; tăng cường kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương. Cùng với đó là phát triển các mô hình bảo tàng số, thư viện số, nền tảng học tập văn hóa trực tuyến và các không gian trưng bày số thân thiện với mọi lứa tuổi, đặc biệt quan tâm khả năng tiếp cận của đồng bào ở vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng số văn hóa. Cần đổi mới nội dung giáo dục và đào tạo theo hướng tích hợp kỹ năng số với giáo dục giá trị, đạo đức, văn hóa, kỹ năng sống và kỹ năng nghề nghiệp. Hệ thống các trường văn hóa, nghệ thuật, báo chí, truyền thông, quản lý văn hóa cần cập nhật chương trình đào tạo về dữ liệu số, công nghệ số, truyền thông số, sở hữu trí tuệ và quản trị thiết chế số. Đồng thời, cần triển khai các chương trình phổ cập kỹ năng số cho người dân nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi số diễn ra bao trùm, nhân văn và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Thứ tư, xây dựng và lan tỏa hệ giá trị, chuẩn mực con người Việt Nam phù hợp với môi trường số. Các giá trị yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo cần được cụ thể hóa trong giáo dục, truyền thông, hoạt động văn hóa - nghệ thuật và trong sinh hoạt cộng đồng. Cần đẩy mạnh giáo dục công dân số, đạo đức số, văn hóa ứng xử trên mạng; xây dựng bộ tiêu chí, bộ quy tắc ứng xử trong không gian số; tăng cường các chiến dịch truyền thông nhằm cổ vũ lối sống đẹp, tinh thần thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội.

Thứ năm, phát triển mạnh truyền thông số để tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện hiệu quả Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW. Công tác tuyên truyền không thể dừng ở lối truyền đạt một chiều, mà phải đổi mới mạnh mẽ cả nội dung, hình thức, ngôn ngữ và công nghệ. Cần xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, sản phẩm video, đồ họa, podcast, tọa đàm số, bài giảng số, triển lãm số và các chiến dịch truyền thông đa nền tảng để lan tỏa tinh thần của các văn kiện. Việc truyền thông cần phân tầng công chúng, hướng tới cán bộ lãnh đạo, đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ sĩ, doanh nghiệp, thanh niên, học sinh, sinh viên và cộng đồng dân cư với những thông điệp, hình thức tiếp cận phù hợp.

Thứ sáu, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nghiệp và các tổ chức chính trị - xã hội. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa; doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp CNVH, là động lực quan trọng của hệ sinh thái văn hóa. Vì vậy, các chính sách phát triển văn hóa số phải hướng tới khuyến khích sáng tạo từ cơ sở, hỗ trợ các mô hình khởi nghiệp văn hóa, mở rộng hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường, nhà khoa học, nghệ sĩ, doanh nghiệp công nghệ và công chúng. Chỉ khi huy động được sức mạnh tổng hợp ấy, văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ của chuyển đổi số quốc gia.

5. Kết luận

Xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số quốc gia là yêu cầu khách quan của phát triển, đồng thời là nội dung có ý nghĩa trực tiếp trong việc quán triệt và tổ chức thực hiện Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW. Nếu Văn kiện Đại hội XIV xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của phát triển đất nước trong giai đoạn mới, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt văn hóa, con người vào vị trí nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết của phát triển nhanh, bền vững. Sự kết hợp ấy cho thấy phát triển trong kỷ nguyên mới phải là sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh công nghệ với sức mạnh văn hóa, giữa tiến bộ vật chất với phát triển con người, giữa đổi mới sáng tạo với giữ gìn bản sắc dân tộc.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang tái cấu trúc sâu sắc môi trường văn hóa, phương thức truyền thông, cách thức sáng tạo và tiếp nhận giá trị, nhiệm vụ đặt ra là phải chủ động định hình một mô hình phát triển văn hóa số mang bản sắc Việt Nam, lấy con người làm trung tâm. Điều đó đòi hỏi xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, củng cố hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam, phát triển kỹ năng số gắn với đạo đức và trách nhiệm công dân, đẩy mạnh bảo tồn và sáng tạo văn hóa bằng công nghệ, đồng thời đổi mới mạnh mẽ truyền thông chính sách để chủ trương của Đảng thật sự thấm sâu vào đời sống xã hội.

Có thể khẳng định rằng, chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa bền vững khi được dẫn dắt bởi các giá trị văn hóa, khi mỗi người dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là người thụ hưởng văn hóa và khi bản sắc dân tộc được bảo tồn, phát huy trong môi trường số. Trên cơ sở đó, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số quốc gia không chỉ là một yêu cầu chuyên ngành của lĩnh vực văn hóa, mà là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển đất nước, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.

____________________

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2021). Quyết định số 3611/QĐ-BVHTTDL ngày 31/12/2021 ban hành Chương trình chuyển đổi số của ngành văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

3. Chính phủ. (2025). Nghị định số 308/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Di sản văn hóa.

4. Minh Hiền. (2025, 8 tháng 10). Chuyển đổi số - Thúc đẩy phát triển văn hóa. Báo điện tử Quảng Ninh.https://baoquangninh.vn/chuyen-doi-so-dong-luc-thuc-dayphat-trien-van-hoa-3378461.html

5. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2014). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Nhàxuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I, II). Nhà xuất bảnChính trị quốc gia Sự thật.

7. Hồ Chí Minh. (1997). Về văn hóa. Bảo tàng Hồ Chí Minh.

8. Chính phủ. (2021). Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóaViệt Nam giai đoạn 2021-2030.

9. Vũ Quỳnh Trang. (2023, 19 tháng 9). Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Báo Nhân Dân điện tử.https://nhandan.vn/chuyen-doi-so-trong-linh-vuc-van-hoapost773198.html

10. Nguyễn Phú Trọng. (2021). Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hộiXIII của Đảng.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 15/4/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 13/5/2026; Ngày duyệt đăng: 27/5/2026.

TS, NGUYỄN TIẾN THƯ

Nguồn: Tạp chí VHNT số 645, tháng 6-2026