
Không chỉ vậy, niềm tự hào của bà ngoại tôi còn ở chỗ, bà là người phụ nữ duy nhất của cả họ được chọn để tham gia phục vụ phần nghi lễ trong những ngày hội Vía Bà Chúa xứ Núi Sam, mà đặc biệt quan trọng hơn, là tham gia trong đội 9 người phụ nữ được trực tiếp công việc “tắm” Bà. Bà tôi thường bảo, được Bà Chúa xứ “chọn”, vừa mừng nhưng cũng vừa lo. Mừng vì mình được phục vụ cho Bà thì ắt sẽ được phúc lộc nhưng cũng lo vì phải ráng giữ thân tâm tử tế để năm sau được chọn tiếp.
Với niềm tin ấy, năm nào bà ngoại tôi cũng chuẩn bị cho lễ tắm Bà Chúa xứ từ rất sớm, ít nhất cũng phải trước ba bốn tháng. Ngay từ năm trước, bà ngoại chờ mùa mưa đến, khi mưa đã “già” hơn, sạch “bụi trần” hơn thì bà cẩn trọng đặt những chiếc diệm lớn bằng gốm ở giữa sân rộng, không vướng bận tán cây. Bà cẩn trọng kê cho diệm gốm cao hơn mặt đất khoảng năm tấc, để khi nước mưa rơi xuống đất đã dơ thì không văng ngược vào trong diệm. Số nước này được lọc qua mấy lớp khăn, sau đó cất vào kiệu gốm để trong nhà, đậy kín không để có lăng quăng. Tôi vẫn nhớ hình ảnh hàng kiệu có hoa văn rồng phụng, phía sau nhà, đứng nghiêm trang như những pho tượng vàng sậm, uy nghiêm và chất chứa đầy những sự tích.
Để rồi, những trưa hè nằm bên bà ngoại, đứa cháu bốn tuổi thường hay hỏi, sự tò mò của cái tuổi hỏi những câu hỏi hồn nhiên nhưng đầy cắc cớ. Ví như, “sao mình không tắm cho Bà Chúa xứ mỗi ngày, như ngoại tắm cho con mà phải một năm mới tắm một lần?”. Hình như sau câu hỏi đó, bà ngoại có phần bất ngờ song không phải dạng thần thánh hóa mọi thứ, bà từ tốn nói, “Bà là thánh, đâu phải phàm trần như mình mà phải tắm mỗi ngày”. Thế nhưng, những câu hỏi của đứa trẻ thường không dễ kết ngang như vậy, nó sẽ hỏi tiếp rằng, “sao Bà là thánh vậy ngoại?”. Thế là bà ngoại phải kể lại câu chuyện dài và ly kỳ mà có khi đứa nhỏ đã nhớ song nó lâu lâu lại thèm nghe bà kể lại mới chịu…
Chuyện là, xưa kia có lần giặc đánh sang làng. Người dân sợ quá nên kéo lên núi trốn và phát hiện trên đỉnh núi Sam có một pho tượng đá bị bỏ hoang, rêu phong phủ kín. Trong lúc nguy nan, người dân đã van vái tượng có thiêng xin phù hộ. May mắn thay, lần đó mọi người trốn thoát an toàn. Riêng đám giặc khi đến đỉnh núi, thấy pho tượng đẹp và huyền bí nên nảy sinh lòng tham. Chúng tìm cách đem tượng đi nhưng không cách nào khiêng nổi nên đành phải bỏ lại giữa núi rừng. Tương truyền tên thủ lĩnh toán quân tức giận, đập gãy một cánh tay của tượng, bất giác hắn lăn đùng ra chết. Nghĩ là do tượng thiêng quở phạt nên đám giặc hoảng hốt, kéo nhau bỏ chạy. Lúc ấy, có người trong làng bỗng “lên đồng” xưng là Chúa Xứ Thánh Mẫu, dạy cho dân làng hãy đem tượng xuống núi, xây cất miếu mà thờ để được Bà phù hộ tránh khỏi giặc giã, thôn xóm an cư lạc nghiệp… Nghe theo lời Bà, dân làng huy động hàng trăm trai tráng lên núi thỉnh tượng nhưng không cách nào khiêng nổi. Lúc ấy, lại có người nằm mơ thấy Bà về mách bảo, phải có 9 cô gái đồng trinh lên thỉnh tượng thì mới được. Lạ thay, 9 cô gái nhấc tượng Bà lên một cách nhẹ nhàng. Khi đến chân núi Sam thì bỗng dưng tượng Bà nặng trĩu, không dịch chuyển được nữa. Các bô lão trong làng cho rằng, ý của Bà đã chọn nơi đây để an tọa. Cũng từ đó, miếu Bà được dựng lên, mới đầu bằng tre nứa, sau nhiều lần xây cất mới và trùng tu thì mới được khang trang như hôm nay.

Chuyện bà ngoại kể dìu dặt nên có khi chưa đến hết chuyện, đứa cháu đã ngủ khò nhưng thể nào mai này, khi thấy ông bà ngoại lúi húi cuốc mấy liếp vườn, rào chắn kỹ lưỡng để trồng bông, đứa cháu cũng hỏi: “nấu nước tắm bà cần bao nhiêu bông vậy ngoại?”. Bà sẽ vui mừng khi biết đứa cháu đã lớn khôn hơn, biết trân trọng truyền thống văn hóa, hỏi là để biết, để lưu nhớ. Bà sẽ liệt kê 9 loại bông thơm nấu nước tắm là: huệ đỏ, huệ trắng, cúc vàng, đồng tiền, hoa phượng, hoa điệp, hoa hồng, hoa lài và sen.
Để rồi không lâu sau đó, sáng sớm ngày 24 tháng Tư âm lịch, đứa cháu theo bà đến sân miếu Bà Chúa xứ, người người đến đông như hội. Các loại bông tắm bà được góp từ muôn phương đem về chất đầy một chiếc bàn lớn. Người trong đội sẽ chọn những loại bông nở rộ, đẹp và không bị héo úa để ngắt ra từng cánh một, sau đó hòa 9 loại bông vào 3 cái nồi đồng to, đun nước ở giữa sân. 3 chiếc nồi sẽ được đun từ sáng đến chiều qua 3 lượt, cho ra 9 thùng nước tắm bà với hơn 100 lít. Tôi vẫn nhớ, khi nồi nước bắt đầu sôi, mùi thơm của trầm hòa lẫn với mùi thơm của 9 loại hoa bắt đầu lan tỏa ra khắp nơi. Mùi thơm của nước tắm bà không nồng mà dịu dàng thoảng đi trong gió, nhẹ nhàng mà thân quen, toát lên sự quý phái nhưng cũng gần gũi, thân tình.
Khi các nồi nước được nấu xong thì cũng gần cuối chiều. Bà ngoại và các bà sẽ chắt nước nấu đã nguội vào những chiếc thùng sạch chuẩn bị trước đó, để sẵn khăn lược, lọc qua nhiều lần, sao cho trong vắt mới thôi. Các thùng nước tắm Bà được niêm phong và cất vào chỗ sạch sẽ để chờ đến giờ tắm Bà thì chuyển vào chánh điện. Mọi người ai cũng bảo, làm cực thì có cực nhưng thấy vui, như mình cũng được hưởng lây lộc thơm của Bà, một năm qua với bao buồn vui cuộc sống, thoáng cũng thấy trôi qua như được thanh tẩy cho sạch sẽ. Bà ngoại tôi có một tâm niệm lạ mà nghĩ thấy cũng hay hay. Mỗi năm đến dịp tắm bà, khi ngồi lặt từng cánh bông, ngoại sẽ nhớ đến những buồn vui của một năm qua như cánh hoa lúc nở - khi tàn nên tự nhủ lòng mình lặt một cánh bông thì cho qua, cho qua. Bà nói, mình nghĩ vậy là cho lòng nhẹ vơi đi. Trước khi vào tắm Bà, mình cũng phải dọn mình cho thật sạch, sạch cả thân xác và sạch cả tâm hồn. Tôi không được như bà ngoại mỗi năm nhân dịp tắm bà thì tắm cho tâm hồn mình thanh thản nhưng tôi học bà ở cách tự nhủ: lâu lâu cũng phải tắm rửa lòng mình cho sạch sẽ!
Hồi nhỏ, tôi không được đi với bà ngoại đến dự lễ tắm Bà. Mãi sau này khi lớn lên, tôi mới được đi theo bà ngoại dự lễ nhưng vẫn không được phép bước vào chánh điện để trực tiếp chứng kiến, bởi khi 24 giờ vừa điểm, chiếc màn nhung đỏ đã được kéo ngang, chỉ có 9 người phụ nữ được chọn mới bước vào chánh điện để tắm cho Bà. Còn lại, lớp lớp người đều phải ngồi bên ngoài để thầm nguyện cầu khi thấy phảng phất mùi thơm của nước tắm Bà, được nấu từ bao hoa thơm xứ sở. Những lần đứng bên ngoài nhìn vào bức màn nhung, bao giờ tôi cũng nhớ lại lời ngoại kể. Đó là khi các bà đang mở dần từng lớp nhung y mà bá tánh đã dâng cúng Bà Chúa xứ trong một năm qua. Bà ngoại nói vui, có đoạn người ta thấy như tượng Bà to hơn, thực ra là do lớp áo bá tánh dân cúng Bà được mặc vào suốt một năm mới thay ra nên các lớp áo chồng lên nhau, cho cảm giác tượng Bà dần lớn lên. Hễ năm nào dần dỡ lớp áo Bà, thấy nhiều áo thì biết năm qua dân mình làm ăn khấm khá, được Bà độ cho nhiều thuận lợi. Vậy nên năm nào tôi cũng hỏi, “năm nay áo Bà nhiều không ngoại?”, bà ngoại tôi nói rất có duyên, “áo Bà năm nay không tàu xe nào chở nổi”…
Thật ra, những tấm áo Bà đặc sắc sẽ được giữ lại để trưng bày, còn lại được cắt ra thành từng mảnh nhỏ cỡ vừa lòng bàn tay, sau đó cho vào phong bì đỏ để gửi tặng khách hành hương có nhu cầu kỷ niệm hoặc làm chỗ dựa tin thần hướng đến Bà. Những tấm áo Bà trở thành tấm lộc, từ đó theo mọi người đi đến muôn nơi, mang niềm tin và hy vọng về những điều tốt lành và nhắc nhở nhau về sự sống tử tế, lương thiện. Bởi, bà ngoại tôi tin rằng, người mang lộc Bà ắt được Bà độ, miễn sao làm ăn tử tế, bán xăng phải đong cho đủ, bán gạo cân không thiếu thì Bà mới độ cho. Phải chăng, từ niềm tin này mà những người tin Bà sẽ làm ăn lương thiện và trong sạch, từ đó ngưỡng vọng về núi Sam mà nhớ rằng, do lộc Bà phù hộ.
Năm nào cũng vậy, sau khi tắm Bà Chúa xứ, bà ngoại tôi lại xin về chừng một chén nước tắm Bà. Bà ngoại pha chén nước vào trong thau với nước trắng rồi cho cả nhà rửa mặt. Có năm, cậu Tư và cậu Út tôi giận nhau không thèm nhìn mặt, bà ngoại tôi bắt hai cậu phải rửa mặt bằng nước lộc Bà rồi dặn, về nằm suy nghĩ, đã rửa hết hận hết thù thì vịn vào lẽ phải mà sống với nhau. Ít lâu sau, hai cậu mỗi người nhịn nhau một tiếng mà hiểu nhau, gỡ được nút thắt trong lòng và thương yêu nhau hơn. Từ đó, bà ngoại tôi càng tin rằng, rửa mặt bằng lộc Bà cho cả nhà sáng suốt, ra đường nhìn thấy đường ngay lẽ thẳng mà đi.
Bây giờ, bà ngoại tôi đã về với bảy núi năm non. Mỗi năm, khi phượng bắt đầu nở rực, tôi lại nhớ bà ngoại da diết. Cho nên dẫu là bận cách mấy, tôi cũng tìm cách thu xếp về quê dự lễ tắm Bà Chúa xứ. Trong khung cảnh nhìn người ta lặt bông, nấu nước… mùi các loài hoa bốc lên, tôi như thấy bà ngoại đang ở đâu đây, gần gũi đến lạ. Trong những lúc đó, tôi chợt nhớ đến lời bà ngoại dặn, mình cũng phải mỗi năm tắm gội lòng mình để thanh tẩy những ghét yêu vụn vặt, có thanh sạch thì những điều tốt đẹp mới đến được với mình. Tôi tin và rất tin điều đó.
Bài và ảnh: LÊ QUANG TRẠNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 643, tháng 5-2026