
Tại Việt Nam, trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam cùng các chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa đến năm 2030, vấn đề tận dụng điện ảnh như một công cụ kiến tạo thương hiệu đô thị ngày càng trở nên cấp thiết. Hà Nội là một đô thị độc đáo trong khu vực Đông Nam Á – nơi có sự giao thoa giữa chiều sâu nghìn năm văn hiến và nhịp sống năng động của một đô thị đang chuyển mình trong kỷ nguyên số. Song tiềm năng đó vẫn chưa được khai thác như một chiến lược phóng chiếu bản sắc có hệ thống trong chuỗi cung ứng công nghiệp văn hóa. Bài viết này nhằm luận giải cơ chế mà biểu hiện đô thị trong điện ảnh vận hành như một công cụ kiến tạo vốn biểu tượng, từ đó rút ra các hàm ý chiến lược cho lộ trình định vị điện ảnh Hà Nội trên bản đồ sáng tạo toàn cầu.
Đối chiếu ba mô hình: Paris, New York và Seoul
Paris là trường hợp lịch sử lâu dài nhất trong việc kiến tạo thương hiệu đô thị thông qua điện ảnh. Từ những thước phim đầu tiên của anh em Lumière cuối thế kỷ XIX đến Midnight in Paris (Nửa đêm ở Paris) (Woody Allen, 2011), điện ảnh Pháp đã nhất quán vận hành chiến lược đóng gói sự hoài niệm (nostalgia packaging) - biến ký ức tập thể thành hàng hóa văn hóa có thể tiêu thụ được (1), khắc họa Paris không phải như một đô thị với những mâu thuẫn chính trị và vấn đề xã hội phức tạp mà như một không gian thẩm mỹ thuần khiết, ví dụ điển hình của quá trình mà nghiên cứu địa lý điện ảnh gọi là thiêng hóa không gian đô thị (sanctification of urban space). Về mặt công nghiệp, nghiên cứu của Jäckel và Creton (2004) trong The French Cinema Book chỉ ra ngành Điện ảnh Pháp tập trung địa lý điện ảnh cao độ tại Paris, tạo nên một hệ sinh thái sáng tạo (creative ecosystem) được chính sách ngoại lệ văn hóa (exception culturelle) của nhà nước bảo vệ bền vững trước áp lực toàn cầu hóa từ Hollywood (2).
New York đại diện cho mô hình thành phố điện ảnh như một cỗ máy kiến tạo và xuất khẩu hệ giá trị văn hóa ra toàn thế giới. Từ cuối thập niên 1960, chính quyền thành phố đã chủ động xây dựng chính sách thu hút sản xuất phim tại thực địa, tạo ra vòng phản hồi tự củng cố giữa hình ảnh điện ảnh và trí tưởng tượng của các nhà quy hoạch đô thị (3). Khi được khuếch đại qua hàng nghìn tác phẩm, hình ảnh đó kiến tạo nên huyền thoại đô thị theo nghĩa Roland Barthes: giấc mơ Mỹ, tự do cá nhân và khát vọng thành công gắn liền không thể tách rời với các tòa nhà chọc trời tại Manhattan (4) - biến điện ảnh từ hình thức giải trí thụ động thành lực lượng sản xuất không gian chủ động (5).
Seoul là mô hình có tính tham chiếu cao nhất đối với Hà Nội trong bối cảnh châu Á đương đại. Ballard (2023) chỉ ra Seoul được sử dụng trong điện ảnh Hàn Quốc không chỉ như phông nền địa lý mà như một cấu trúc lai ghép (hybridised construct) mang đầy tính chính danh gắn liền với ý thức quốc gia (6). Sự trỗi dậy của điện ảnh Hàn Quốc - với đỉnh cao là Parasite của Bong Joon-ho giành Palme d’Or tại Cannes 2019 và Phim xuất sắc nhất tại Oscar 2020 - không phải hiện tượng tự phát mà là kết quả của chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa có chủ đích, bao gồm hệ thống hạn ngạch màn hình (screen quota system) được phân tích kỹ trong nghiên cứu của Frances Gateward (2007) (7). Hình ảnh Seoul toàn cầu hóa qua K-drama và điện ảnh đã trực tiếp thúc đẩy du lịch, âm nhạc, thời trang và ẩm thực đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa kinh tế mà các nhà nghiên cứu gọi là Làn sóng Hallyu (Korean Wave) minh chứng mạnh mẽ nhất về khả năng điện ảnh hoạt động như đầu kéo chiến lược cho toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.


Biểu hiện đô thị trong điện ảnh Hà Nội
Hà Nội sở hữu những điều kiện nội sinh đặc biệt để trở thành một thành phố điện ảnh có sức hút quốc tế. Bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai (đạo diễn Trần Văn Thủy) đã thành công trong việc thiêng hóa không gian đô thị khi khắc họa Hà Nội qua các lớp di sản tâm linh và đạo đức, từ tháp Rùa, hồ Gươm đến những câu chuyện về hiền nhân lịch sử - biến không gian đô thị thành một thực thể chứa đựng ký ức dân tộc. Đây là quá trình kiến tạo vốn văn hóa nội sinh theo cách mà Bourdieu mô tả: khi địa danh gắn liền với ý niệm triết học hay giá trị đạo đức, giá trị kinh tế của nó không còn nằm ở tọa độ địa lý mà nằm ở chiều sâu ý nghĩa mà công chúng khao khát được kết nối.
Mùa hè chiều thẳng đứng (đạo diễn Trần Anh Hùng, 2000) lại vận hành theo chiến lược duy mỹ hóa lối sống thường ngày: không gian Hà Nội được xử lý theo ngôn ngữ điện ảnh của chủ nghĩa hình thức — những ngôi nhà cổ biệt lập với khoảng sân vườn xanh ngắt, ánh sáng vàng dịu của mùa hè Bắc Bộ, những sinh hoạt thường nhật được nâng tầm thành nghi lễ thẩm mỹ. Đây là hình thức biểu hiện đô thị mà nghiên cứu Nations as Brands: Cinema’s Place in the Branding Role (Journal of Business Research, 2020) xác định là có hiệu quả cao nhất trong việc tạo sức hút du lịch: điện ảnh truyền đạt không chỉ thông tin về địa điểm mà còn về cảm giác được sống trong một không gian văn hóa đặc thù mà khán giả từng trải nghiệm qua màn ảnh (8).
Tuy nhiên, tổng quan cho thấy phần lớn tác phẩm điện ảnh đặt bối cảnh Hà Nội hiện nay vẫn dừng lại ở chức năng minh họa địa lý hoặc phông nền tự sự đơn thuần, chưa đạt đến mức độ mà Shiel và Fitzmaurice gọi là “thành phố như nhân vật điện ảnh” - trạng thái mà không gian đô thị trở thành lực lượng góp phần định hướng nhân vật, thể loại và thông điệp của tác phẩm. Để vượt qua giới hạn này, điện ảnh nước ta cần được tiếp cận không chỉ như một hình thức nghệ thuật mà như một chiến lược phóng chiếu bản sắc có hệ thống trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Khuyến nghị chính sách
Thứ nhất, thiết lập cơ chế quản lý chuyên trách: Xây dựng mô hình cơ quan đầu mối (tương tự MOME của New York) để kết nối nhà sản xuất với địa điểm, đồng thời thống nhất quản lý việc khai thác không gian đô thị Hà Nội trong điện ảnh thông qua sự phối hợp liên ngành.
Thứ hai, kiến tạo chính sách hậu cần sáng tạo: Định danh các khu tập thể, biệt thự Pháp cổ và phố cổ là những trường quay ngoài trời đặc thù. Cần thay đổi tư duy quản lý sang tư duy đầu tư thương hiệu, tối ưu hóa thủ tục hành chính và chi phí sử dụng thực địa cho các đoàn làm phim.
Thứ ba, phát triển hạ tầng số và phân phối xuyên biên giới: Số hóa “bản đồ điện ảnh” Thủ đô để quảng bá các điểm đến tiêu biểu, đồng thời chủ động tận dụng các nền tảng xuyên quốc gia (Netflix, YouTube) nhằm đưa các kịch bản về Hà Nội tiếp cận thị trường toàn cầu như bài học từ Hallyu.
Thứ tư, kết nối di sản với thế hệ làm phim mới: Xây dựng hệ sinh thái sáng tạo lấy con người làm trung tâm. Hà Nội cần trợ lực cho các đạo diễn trẻ kể câu chuyện đương đại bằng ngôn ngữ hình ảnh mới, tạo sự cộng hưởng giữa giá trị di sản kinh điển và tính năng động của kỷ nguyên số.
Phân tích đối chiếu ba mô hình Paris, New York và Seoul cho phép rút ra một luận điểm cốt lõi: biểu hiện đô thị trong điện ảnh không phải là hệ quả ngẫu nhiên của lựa chọn nghệ thuật cá nhân, mà là kết quả của một quá trình tích lũy vốn biểu tượng có chiều sâu lịch sử, được định hướng bởi các chính sách văn hóa chủ động của nhà nước và được khuếch đại bởi dòng chảy của công nghiệp văn hóa toàn cầu.
Điều cần thiết là một chiến lược chuyển hóa có hệ thống từ di sản đô thị sang vốn biểu tượng điện ảnh, và từ vốn biểu tượng điện ảnh sang giá trị kinh tế trong chuỗi cung ứng công nghiệp văn hóa. Khi điện ảnh thực sự trở thành ngôn ngữ để Hà Nội đối thoại với thế giới, thành phố sẽ trở thành một không gian văn hóa sống, một thực thể điện ảnh định vị căn tính dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập và cạnh tranh sáng tạo.

_______________
(1) Allen J. Scott, Điện ảnh Pháp: Kinh tế, chính sách và địa điểm trong việc hình thành một ngành công nghiệp sản phẩm văn hóa, Regional Studies, 2000.
(2) Anne Jäckel & Laurent Creton, Kinh doanh: Một quan niệm nhất định về ngành công nghiệp điện ảnh, Cuốn sách về điện ảnh Pháp, British Film Institute, London, 2004, tr.209-220.
(3) McLain Clutter, Bộ máy tưởng tượng: Thành phố New York và sự biểu hiện qua truyền thông, Park Books, 2015.
(4) Mela Zschocke & Johannes Glückler, Thành phố điện ảnh của sự cùng tồn tại văn hóa? Góc nhìn về các gặp gỡ liên văn hóa tại New York, GeoJournal, Springer, 2022.
(5) Erica Stein, Nhìn theo lối giao hưởng: Điện ảnh tiên phong, quy hoạch đô thị và hình ảnh không tưởng về New York, SUNY Press, 2021.
(6) Gemma Ballard, sđd.
(7) Frances Gateward (ed.), Tìm kiếm Seoul: Văn hóa và bản sắc trong điện ảnh Hàn Quốc đương đại, SUNY Press, 2007.
(8) Shashwat Gupta, Mohammad M.Foroudi, Juha Väätänen, Suraksha Gupta, Len Tiu Wright, Quốc gia như thương hiệu: Vai trò của điện ảnh trong việc xây dựng thương hiệu, Journal of Business Research, Elsevier, 2020.
Tài liệu tham khảo
1. Gemma Ballard, Cảnh quan đô thị và tầm nhìn quốc gia trong điện ảnh Hàn Quốc hậu thiên niên kỷ: Từ Seoul đến Tâm hồn, Palgrave Macmillan, 2023.
2. Pierre Bourdieu, Sự phân biệt: Phê bình xã hội học về phán đoán thị hiếu, Harvard University Press, 1984.
3. McLain Clutter, Bộ máy tưởng tượng: Thành phố New York và sự biểu hiện qua truyền thông. Park Books, 2015.
4. Frances Gateward, Tìm kiếm Seoul: Văn hóa và bản sắc trong điện ảnh Hàn Quốc đương đại, SUNY Press, 2007.
5. Anne Jäckel, Các ngành công nghiệp điện ảnh châu Âu, British Film Institute, 2023.
6. Henri Lefebvre, Sản xuất không gian, Blackwell, 1991.
7. Allen J, Scott, Kinh tế văn hóa của các thành phố, SAGE Publications,
8. Allen J, Scott, Điện ảnh Pháp: Kinh tế, chính sách và địa điểm trong việc hình thành một ngành công nghiệp sản phẩm văn hóa, Theory, Culture & Society, 2000.
9. Mark Shiel & Tony Fitzmaurice, Điện ảnh và thành phố: Phim ảnh và các xã hội đô thị trong bối cảnh toàn cầu, Blackwell. 2001.
10. Erica Stein, Nhìn theo lối giao hưởng: Điện ảnh tiên phong, quy hoạch đô thị và hình ảnh không tưởng về New York. SUNY Press, 2021.
11. Sarah Walkley, Đa dạng văn hóa trong ngành công nghiệp điện ảnh Pháp: Bảo vệ ngoại lệ văn hóa trong kỷ nguyên số, Springer, 2018.
12. Elisabeth Sommerlad, Thành phố điện ảnh của sự cùng tồn tại văn hóa? Góc nhìn về các cuộc gặp gỡ liên văn hóa tại New York, GeoJournal, 2022.
13. Đào Tuấn Ảnh, Tự sự văn học và tự sự điện ảnh dưới góc nhìn trần thuật học. Tạp chí Nghiên cứu Sân khấu – Điện ảnh, số 35, 2022.
14. Vũ Ngọc Thanh, Phim truyện điện ảnh Việt Nam sau 1975: Một số khuynh hướng nghệ thuật và vấn đề đặt ra, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 630, 2026.
HẢI ANH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 644, tháng 5-2026