Từ khóa: Trần Nhân Tông; Cư trần lạc đạo phú; Phật giáo nhập thế; Thiền phái Trúc Lâm; vô chấp.
Abstract: By closely reading the text and situating it within the historical and intellectual context of Trần-dynasty Đại Việt, this article elucidates the world-engaging orientation of Buddhist thought in Living in the World, Joyful in the Way by Emperor-Monk Trần Nhân Tông. In this study, a “world-engaging orientation” refers to the practice of the Dharma within the concrete conditions of worldly life; it does not retrospectively equate Trúc Lâm thought with twentieth-century Engaged Buddhism. The analysis identifies a threefold structure: the mind as the ground of awakening; responsive adaptation to conditions, the relinquishment of attachment, and non-abiding awareness in the face of circumstances as modes of practice; and social responsibility as the expression of spiritual realization in lived experience. Living in the World, Joyful in the Way therefore signifies living amid worldly conditions without allowing status, desire, or ego to govern the self. The use of the Nôm script, the phú genre, antithetical structures, and everyday imagery reveals the localization of Thiền into a distinctively Đại Việt discourse of self-cultivation. Read in relation to Trần Nhân Tông’s life and the Trúc Lâm milieu, the text brings inner liberation into conjunction with communal responsibility, protection of the realm, and the well-being of the people. Its contemporary relevance lies in an ideal of the person who is inwardly free without being indifferent and socially committed without attachment to power.
Keywords: Trần Nhân Tông; Living in the World, Joyful in the Way; Buddhist engagement with the world; Trúc Lâm Thiền tradition; non-attachment.

1. Đặt vấn đề
Trần Nhân Tông (1258-1308) là trường hợp hiếm có trong lịch sử Việt Nam, nơi quyền lực chính trị, trách nhiệm dân tộc, sáng tạo văn hóa và thiền chứng hội tụ. Sau khi cùng quân dân Đại Việt vượt qua chiến tranh, Ngài nhường ngôi, làm Thái thượng hoàng, xuất gia, giáo hóa và trở thành Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Hành trình từ ngai vàng đến non thiêng chuyển hóa quyền lực thành trách nhiệm và biến cuộc đời thành môi trường thực hành đạo.
Trong di sản của Ngài, Cư trần lạc đạo phú giữ vị trí đặc biệt. Tác phẩm gồm 10 hội bằng chữ Nôm theo thể phú, kết thúc bằng kệ chữ Hán bốn câu. Đây vừa là dấu mốc văn học Nôm thời Trần, vừa kết tinh tư tưởng tự tâm, tùy duyên, vô chấp và năng lực bản địa hóa Thiền tông bằng ngôn ngữ, kinh nghiệm Đại Việt.
Nguyễn Lang làm nổi bật tinh thần nhập thế của Phật giáo thời Trần; Lê Mạnh Thát cung cấp hệ tư liệu về hành trạng và trước tác Trần Nhân Tông; Nguyễn Duy Hinh nhận diện các đặc trưng của tư tưởng Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Lang, 2000; Lê Mạnh Thát, 2006; Nguyễn Duy Hinh, 1999). Tuy nhiên, nếu chỉ xem Cư trần lạc đạo như khẩu hiệu hòa hợp đạo với đời, chiều sâu nội tại của tác phẩm dễ bị giản lược. Cần làm rõ: điều gì giúp người tu ở giữa trần thế mà không bị trần thế đồng hóa; “Phật tại tâm” liên hệ thế nào với việc đoạn trừ chấp ngã; “tùy duyên” khác ra sao với buông xuôi và vì sao “vô tâm” có thể nâng đỡ hành động có trách nhiệm.
Bài viết không khảo sát toàn bộ hệ thống Trúc Lâm, mà đọc logic nội tại của tác phẩm theo ba bình diện: tự tâm là nền tảng giác ngộ; tùy duyên, dứt chấp và đối cảnh không trụ là phương thức thực hành; hành động có trách nhiệm giữa đời là biểu hiện của tu chứng. Đồng thời, bài viết chú ý chữ Nôm, phép đối và hệ hình ảnh của thể phú để nhận diện Cư trần lạc đạo như một mô hình nhân cách nhập thế, không chỉ là khẩu hiệu hòa hợp đạo với đời.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu trung tâm là văn bản Cư trần lạc đạo phú trong Thơ văn Lý - Trần, tập II, quyển thượng, từ trang 505 đến trang 510 (Trần Nhân Tông, 1988), được đối chiếu với các công trình về Trần Nhân Tông, lịch sử Phật giáo Việt Nam, Thiền học Huệ Năng và Phật giáo dấn thân. Bài viết kết hợp đọc gần từ khóa và hình ảnh, đặt văn bản trong bối cảnh Đại Việt thế kỷ XIII-XIV, so sánh thận trọng với các phạm trù tự tính, vô niệm, vô trụ, rồi tổng hợp ý nghĩa đạo đức - xã hội. Giá trị hiện đại được xem như khả năng đối thoại, không thay thế ý nghĩa lịch sử của văn bản.
“Phật giáo nhập thế” là thuật ngữ phân tích hiện đại, trong khi văn bản trung đại sử dụng “cư trần”, “lạc đạo”, “tùy duyên”, “vô tâm”. Vì vậy, bài viết không đồng nhất tư tưởng Trúc Lâm với Phật giáo dấn thân thế kỷ XX. “Nhập thế” ở đây chỉ việc thực hành đạo trong các quan hệ hiện thực, không phủ định trách nhiệm xã hội và làm cho tu chứng nội tâm biểu hiện thành cách ứng xử có trí tuệ, từ bi.
3. Kết quả và thảo luận
Bối cảnh hình thành: từ hành trạng lịch sử đến văn bản Thiền học
Cư trần lạc đạo phú hình thành trong môi trường độc lập quốc gia, trật tự xã hội và đời sống tinh thần gắn bó. Đại Việt thời Trần vừa bảo vệ đất nước, vừa tái lập đời sống sau chiến tranh. Phật giáo không chỉ hiện diện ở nghi lễ và sơn môn, mà còn góp phần kiến tạo đạo đức, cố kết cộng đồng và điều hòa quan hệ giữa cá nhân với vận mệnh đất nước. Nguyễn Lang (2000) xem tinh thần nhập thế là đặc điểm nổi bật của Phật giáo thời Trần.
Hành trạng Trần Nhân Tông tạo chiều sâu chứng nghiệm cho văn bản: Ngài nói về buông xả sau khi đi qua quyền lực, về vô chấp giữa thử thách danh vọng và về cư trần từ kinh nghiệm gánh trách nhiệm quốc gia. Tuy nhiên, không nên biến bài phú thành cương lĩnh chính trị: nội dung trực tiếp vẫn là tu tâm, phá chấp và nhận ra bản tính. Chiều kích hộ quốc, an dân chỉ hiện rõ khi văn bản được đặt trong hành trạng tác giả và môi trường Trúc Lâm.