
Điều trước tiên dễ nhận thấy là Hoàng Hiệp gần như giữ nguyên hồn cốt của bài thơ của Trần Đăng Khoa. Không phải ngẫu nhiên ca khúc lại mang tên Chút thơ tình người lính biển. Chữ “chút” ở đây không hề mang nghĩa thu nhỏ mà là một lời khiêm nhường của người phổ nhạc trước thi phẩm gốc. Ông không viết lại bài thơ mà để bài thơ ngân lên bằng một ngôn ngữ khác. Phần lớn ca từ đều lấy trực tiếp từ nguyên tác của Trần Đăng Khoa. Những câu thơ đẹp nhất, giàu nhạc tính nhất đều được giữ lại gần như nguyên vẹn: Biển một bên và em một bên/ Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía/ Anh đứng gác trời khuya đảo vắng... Điều đó cho thấy người nhạc sĩ đã đọc, thấu cảm rất kỹ bài thơ và nhận ra đâu là “hạt nhân thi tứ”, đâu là phần tinh túy nhất cần được bảo tồn.
Chính vì giữ được linh hồn ấy nên tư tưởng chủ đạo của hai tác phẩm hoàn toàn thống nhất. Đó là hành trình thăng hoa của tình yêu đôi lứa thành tình yêu đất nước. Người lính trong thơ cũng như trong nhạc không phải đứng giữa hai lựa chọn: biển hay em. Anh đứng giữa hai nguồn yêu thương cùng song hành trong một trái tim. Biển là Tổ quốc. Em là hậu phương. Một bên là trách nhiệm công dân, một bên là hạnh phúc cá nhân. Hai tình yêu ấy không triệt tiêu nhau mà cùng làm nên vẻ đẹp nhân cách của người lính.
Đó cũng là phát hiện độc đáo của Trần Đăng Khoa. Nếu trước đó thơ ca kháng chiến thường nhấn mạnh sự hy sinh của cái riêng cho cái chung thì ở đây, cái riêng vẫn được nâng niu. Người lính không từ bỏ tình yêu để yêu Tổ quốc. Chính vì yêu nên càng có thêm sức mạnh để giữ biển. Hoàng Hiệp hoàn toàn đồng điệu với phát hiện ấy. Giai điệu của ông không biến bài thơ thành một bản hành khúc mà vẫn giữ chất trữ tình nồng hậu. Bởi vậy, người nghe không chỉ cảm nhận khí phách của người lính mà còn cảm nhận được nhịp đập rất người trong trái tim anh. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở việc giữ nguyên thì ca khúc sẽ không có đời sống riêng. Điều đáng nói là Hoàng Hiệp đã sáng tạo bằng chính ngôn ngữ của âm nhạc.
Khác biệt đầu tiên nằm ở kết cấu. Bài thơ của Trần Đăng Khoa được tổ chức như một vòng tròn cảm xúc. Năm khổ thơ là năm cung bậc của một hành trình nội tâm: chia tay – nhớ thương – canh giữ – đối diện gian lao – dự cảm hy sinh. Điệp khúc Biển một bên và em một bên... lặp lại cuối mỗi khổ như những lớp sóng nối nhau ngoài khơi. Chính sự lặp lại ấy tạo nên nhịp tuần hoàn của cảm xúc.
Trong khi đó, ca khúc của Hoàng Hiệp được tổ chức theo logic của âm nhạc. Ông lược bỏ những chi tiết mang tính kể chuyện, chỉ giữ lại những điểm nhấn giàu khả năng ngân vang. Vì thế, ca từ trở nên cô đọng hơn, mềm mại hơn. Nhiều câu thơ dài được rút ngắn, nhiều chi tiết được giản lược để tạo dòng chảy liên tục của giai điệu. Chẳng hạn, câu thơ: Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn/ Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc/ Thăm thẳm nước trời nhưng anh không cô độc... đã được chuyển thành: Cho dẫu mai đây xa ánh đèn thành phố,/ anh đến buông neo nơi thăm thẳm ánh sao trời...
Nếu ở thơ, hình ảnh mang tính điện ảnh với nhiều lớp không gian thì trong ca hình ảnh được tiết giảm để nhường chỗ cho giai điệu. Sự thay đổi ấy không làm mất ý thơ mà giúp câu hát dễ ngân, dễ nhớ, dễ đi vào lòng người.
Một sáng tạo đáng chú ý nữa là Hoàng Hiệp đã thay đổi sắc thái cảm xúc ở nhiều chi tiết nhỏ. Trần Đăng Khoa viết: Đất nước gian nan chưa bao giờ bình yên/ Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng...
Hoàng Hiệp lại hát: Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên,/ cơn bão chưa ngưng trong tâm hồn biết bao người...
Sự thay đổi tưởng nhỏ nhưng tạo nên khác biệt đáng kể. Những vành tang trắng là một hình ảnh hiện thực rất mạnh, gợi trực tiếp đến mất mát và hy sinh. Đó là cái nhìn của nhà thơ trước số phận dân tộc. Còn tâm hồn biết bao người lại mềm hơn, giàu chất trữ tình hơn. Nỗi đau từ hình ảnh cụ thể chuyển thành dư chấn tinh thần. Nếu Trần Đăng Khoa khắc vào lòng người đọc cái giá của hòa bình thì Hoàng Hiệp làm lan tỏa nỗi trăn trở trong lòng người nghe. Một bên nghiêng về sức gợi của hình tượng, một bên nghiêng về độ ngân của cảm xúc. Tương tự, câu thơ: Vòm trời kia có thể sẽ không em/ Không biển nữa/ Chỉ mình anh với cỏ...” khi vào nhạc đã trở thành: “Cho dẫu nơi kia thôi không còn biển nữa,/ không có em yêu anh chỉ còn với cỏ...”.
Ở nguyên tác, khả năng hy sinh hiện lên như một dự cảm lạnh lẽo. Còn trong ca khúc, nhạc sĩ thêm hai chữ “em yêu”. Chỉ hai tiếng ấy thôi đã khiến toàn bộ không khí trở nên gần gũi và tha thiết hơn. Cái bi tráng của thơ được chuyển hóa thành chất trữ tình của âm nhạc. Đó là một sáng tạo rất tinh tế.

Điểm khác biệt sâu sắc nhất nằm ở phương thức biểu đạt.
Trần Đăng Khoa là nhà thơ của hình tượng. Ông xây dựng bài thơ bằng những điểm nhìn giàu tính tạo hình. Chỉ ba câu cực ngắn: Anh đứng gác/ Trời khuya/ Đảo vắng đã dựng lên cả một tượng đài. Ba câu đơn, ba nhịp ngắt, ba lát cắt của không gian. Người lính hiện lên như cột mốc sống giữa biển khơi. Câu thơ ngắn mà sức nén lớn. Đây là thủ pháp chỉ thơ mới làm được.
Hoàng Hiệp lại chinh phục người nghe bằng giai điệu. Điều bài thơ gợi bằng khoảng trắng thì âm nhạc lấp đầy bằng trường độ, cao độ và tiết tấu. Điệp khúc Biển một bên và em một bên trong thơ là khoảng lặng để người đọc suy tưởng; còn trong ca khúc lại trở thành đỉnh điểm cảm xúc. Mỗi lần điệp khúc trở lại, giai điệu như mở rộng hơn, ngân dài hơn, khiến câu hát trở thành một biểu tượng âm nhạc của người lính biển.
Nếu Trần Đăng Khoa làm người đọc suy ngẫm thì Hoàng Hiệp làm người nghe rung động. Một bên thiên về chiều sâu tư tưởng, một bên thiên về khả năng lan tỏa cảm xúc. Hai con đường khác nhau nhưng đều gặp nhau ở vẻ đẹp nhân văn.
Có thể nói, đóng góp của Trần Đăng Khoa là phát hiện ra một biểu tượng thơ hiếm có: Biển một bên và em một bên. Chỉ bảy chữ mà gói trọn hai không gian, hai tình yêu, hai giá trị lớn nhất của đời người lính. Đó là một thi tứ vừa hiện đại vừa giàu tính dân tộc, vừa riêng tư vừa sử thi. Nhà thơ không hô khẩu hiệu về lòng yêu nước mà để lòng yêu nước tự cất lên từ chính tình yêu con người. Chính phát hiện ấy đã làm nên sức sống lâu bền của bài thơ.
Trong khi đó, đóng góp của Hoàng Hiệp là biến thi tứ ấy thành ký ức âm nhạc của nhiều thế hệ. Ông không cạnh tranh với nhà thơ mà đối thoại với nhà thơ. Ông biết tiết chế cái tôi sáng tạo để giữ hồn thơ, đồng thời dùng ngôn ngữ âm nhạc mở rộng biên độ lan tỏa của tác phẩm. Nhờ ông, câu thơ không chỉ được đọc mà còn được hát; không chỉ hiện diện trên trang giấy mà còn ngân vang trên sân khấu, trong doanh trại, trên boong tàu và trong ký ức của hàng triệu người Việt Nam.
Có những bài thơ hay khi khép sách lại vẫn còn dư âm. Có những bài hát đẹp khi tiếng nhạc dừng lại vẫn còn ngân vang trong lòng người. Thơ tình người lính biển của Trần Đăng Khoa và Chút thơ tình người lính biển của Hoàng Hiệp là trường hợp hiếm hoi hội tụ cả hai vẻ đẹp ấy. Một tác phẩm khám phá chiều sâu của thi ca, một tác phẩm mở rộng sức sống của âm nhạc. Và giữa hai người nghệ sĩ, điều còn lại sau cùng vẫn là một điệp khúc chưa bao giờ cũ: khi tình yêu lứa đôi biết hòa vào tình yêu Tổ quốc, con người sẽ trở nên đẹp hơn, cao cả hơn.
NGUYỄN THỊ THIỆN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026