Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số

Về phương diện bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng DTTS (Nguyễn Thị Song Hà, 2023, 12 tháng 8). Một số ngôn ngữ được sử dụng trên kênh truyền thông quốc gia cũng như các đài phát thanh và truyền hình địa phương. Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát 12 chương trình tiếng DTTS mỗi ngày; Đài Truyền hình Việt Nam (Kênh VTV5) sản xuất và phát sóng 28 thứ tiếng dân tộc với thời lượng 24/24h/ ngày (Ủy ban Dân tộc, 2023, tr.95). Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi do Thông tấn xã Việt Nam phát hành cũng đã in bằng chữ dân tộc Êđê, Bana, Giarai, Khmer và Chăm.

Các bảo tàng trung ương cũng như ở các địa phương cũng đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, số hóa các kinh nghiệm truyền dạy kỹ thuật dệt vải, nhuộm, xe sợi, thêu hoa văn trên trang phục truyền thống trang phục gốc truyền thống của đồng bào DTTS. Nước ta có 53 DTTS với hàng trăm mẫu trang phục gốc khác nhau, đa dạng, ấn tượng và mỗi một dân tộc lại có nhiều trang phục dùng cho những dịp khác nhau như mặc trong lễ hội, cưới hỏi, lao động, thường ngày. Mỗi tộc người lại có nhiều ngành khác nhau nên trang phục lại càng đa dạng sắc màu. Hiện nay, các ban, ngành và địa phương đã tổ chức các cuộc liên hoan trình diễn trang phục truyền thống và quảng bá trên các kênh truyền hình, video, clip…

Ngoài ra, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thông qua không gian mạng. Hiện nay, có 3 bảo tàng trung ương, 65 bảo tàng cấp tỉnh thực hiện sưu tầm, trưng bày các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc (Ủy ban Dân tộc, 2023, tr.95), một mặt lưu giữ bảo tồn trực tiếp, mặt khác được số hóa, lưu giữ trên “bảo tàng số”. Các địa phương đã tiến hành xây dựng hệ thống tư liệu, sáng tạo, xuất bản, phát hành, quảng bá các công trình văn học, nghệ thuật về các DTTS Việt Nam dưới dạng sách in, sách điện tử (ebook), sách 3D, các phim tài liệu, phim chuyên đề nên sẽ dễ dàng lưu giữ và dễ sử dụng trên các thiết bị điện tử. Không những vậy, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Hà Nội) được xây dựng cũng chính là không gian văn hóa lưu giữ nhiều giá trị văn hóa của các dân tộc.

Về phương diện phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS để phát triển sinh kế thông qua hệ thống công nghệ số

Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế, xã hội vùng DTTS giai đoạn 2021-2030 với Dự án 6, gắn việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các DTTS với phát triển du lịch. Với sự hỗ trợ từ các nguồn vốn cũng như hỗ trợ từ chính quyền địa phương và đồng hành của xã hội nên nhiều người dân đã mạnh dạn đầu tư, phát huy giá trị văn hóa để hình thành những sản phẩm du lịch cộng đồng hấp dẫn. Theo báo cáo của Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025 và định hướng nội dung giai đoạn 2026-2030 thì hiện nay đã “bảo tồn 48 làng, bản và 69 điểm đến du lịch tiêu biểu truyền thống của các dân tộc thiểu số (Tùng Quang, 2025, 13 tháng 8). Có những điểm du lịch đã thành công thông qua hệ thống truyền thông, nền tảng công nghệ số đã giúp quảng bá làng du lịch cộng đồng vươn tầm quốc tế, chẳng hạn như Lô Lô Chải; làng Thái Hải (Thái Nguyên) đậm nét không gian văn hóa của dân tộc Tày, Nùng; làng Quỳnh Sơn (Lạng Sơn) nổi tiếng với kiến trúc nhà sàn truyền thống của người Tày; Buôn du lịch cộng đồng Akô Dhông, Khu du lịch KoTam của người Êđê - Đắc Lắk...  Nhờ công nghệ số, phương tiện chuyển tải hiện đại nên những bản/ làng du lịch này không chỉ gìn giữ, bảo tồn được giá trị văn hóa tộc người mà còn phát huy lan tỏa, vừa đáp ứng các nhu cầu tinh thần, góp phần phát triển sinh kế cho đồng bào DTTS.

Bên cạnh đó, một số nghề thủ công truyền thống của các đồng bào dân tộc được phát huy giá trị trong giai đoạn hiện nay thông qua hình thức lưu giữ lan tỏa mới. Nghề thủ công truyền thống là một trong những phương thức sản xuất chứa đựng những kinh nghiệm, tri thức dân gian, sự tài hoa, kiên nhẫn, khéo léo của người DTTS đã được qua các kênh YouTube, TikTok của rất nhiều bạn trẻ người DTTS. Theo bước chân của các KOL là các bạn trẻ thanh niên DTTS, người xem ở nhiều nơi, cả trên thế giới đã biết đến nghề như làm giấy Dó, nấu rượu đao, làm dược liệu nước tắm và ngâm chân của người Dao; nghề làm rượu ngô La Pán Tẩn, nghề đan lát, nghề rèn, chạm khắc bạc, xe lanh, dệt vải, dệt thổ cẩm của dân tộc Mông; nghề dệt vải, nghề đan lát, nghề rèn dân tộc Thái, dân tộc Mường, Êđê; làm gốm của người Chăm… Qua đó, cuốn hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến các địa phương đó để được trải nghiệm. Các sản phẩm nghề thủ công và các sản phẩm OCOP ở các nhóm thực phẩm; đồ uống; thảo dược; vải - may mặc; lưu niệm… hiện đang được đồng bào kết nối với dịch vụ, thị trường online. Người dân dùng các kênh để quảng bá văn hóa dân tộc, quảng bá sản phẩm để thu hút được các lượt xem, qua đó bán sản phẩm; thu hút khách du lịch trải nghiệm.

Một số hạn chế, thách thức trong bối cảnh chuyển đổi số đối với vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa DTTS

Nguồn lực đầu tư hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các DTTS còn khiêm tốn. Vai trò chủ thể của của người dân về năng lực chuyển đổi số chưa được phát huy nhiều trong việc xây dựng, triển khai, quản lý, giám sát các dự án bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống từ cơ sở. Đội ngũ cán bộ quản lý và làm công tác văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào DTTS còn thiếu và khả năng sử dụng công nghệ số để quản lý và phát huy giá trị văn hóa còn hạn chế. Các giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể thường xuyên thực hành, biểu diễn trong các lễ hội, trong lao động, trong sinh hoạt, đặc biệt trong du lịch thông qua nền tảng mạng xã hội có nguy cơ bị chệch hướng, bị khai thác theo hướng thương mại hóa. Các đối tượng cực đoan, thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để kích động rêu rao về “đồng hóa văn hóa” DTTS, “chiếm dụng văn hóa”. Các hiện tượng “tà đạo”, “đạo lạ” dùng mạng xã hội làm môi trường chính để lôi kéo tín đồ, làm biến đổi văn hóa tín ngưỡng truyền thống của đồng bào theo hướng tiêu cực.

Bên cạnh đó, sau sáp nhập, trụ sở làm việc của nhiều đơn vị còn chật hẹp, trang thiết bị công nghệ thông tin cũ kỹ, chưa đáp ứng yêu cầu vận hành số. Năng lực số của chủ thể văn hóa như đội ngũ nghệ nhân và cán bộ cấp xã (đa số kiêm nhiệm) còn hạn chế về “năng lực kỹ thuật số”, gây rào cản cho việc số hóa di sản tại cơ sở. Một trong những thách thức nữa, đó chính là rào cản ngôn ngữ dẫn đến hiệu quả tuyên truyền pháp luật và văn hóa trên không gian mạng tại vùng sâu chưa cao do thiếu các sản phẩm bằng tiếng DTTS phù hợp. Tình trạng vi phạm các quy định liên quan đến bản quyền văn hóa trên môi trường số ngày càng phổ biến, trong đó, có hành vi sao chép, làm giả các sản phẩm văn hóa của DTTS. Điều đó không chỉ làm suy giảm giá trị của các nghề thủ công truyền thống mà còn khiến cho những nét văn hóa riêng biệt của từng dân tộc bị mai một và suy thoái, thậm chí bị hiểu lệch lạc…

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cho đồng bào DTTS trong bối cảnh chuyển đổi số

Thứ nhất, quán triệt sâu rộng các cấp ủy địa phương và đội ngũ đảng viên, cán bộ công chức những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số toàn diện và sâu rộng theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó quan tâm đến vùng đồng bào DTTS. Trên cơ sở quán triệt quan điểm chỉ đạo đó, các địa phương tiếp tục thực hiện theo Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 2/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 đặt mục tiêu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa trên nền tảng công nghệ số thống nhất, phục vụ công tác lưu trữ, quản lý, nghiên cứu, bảo tồn, khai thác, quảng bá di sản, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững; Đề án “Tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc đến năm 2030” theo Quyết định số 1087/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 1/10/2024; Tiểu dự án 2: Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS và miền núi trong Chương trình MTQG phát triển kinh tế, xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030…

Thứ hai, thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về bảo tồn phát huy giá trị văn hóa cũng như các kỹ năng số, hỗ trợ người dân tham gia vào lĩnh vực du lịch; giúp đồng bào DTTS có thể vừa bảo tồn được văn hóa, đồng thời tạo sinh kế cho họ. Các địa phương phối hợp tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng số cho cán bộ cấp xã làm công tác văn hóa - xã hội và những người có uy tín, những nghệ nhân tại bản làng nhằm nâng cao năng lực số. Họ là những người gương mẫu, đi đầu có trách nhiệm trong việc kiểm kê; giáo dục, đào tạo, dạy nghề; hướng dẫn nghiệp vụ du lịch… thông qua công nghệ thông tin. Việc hợp nhất Báo Dân tộc và Phát triển vào Báo VietNamNet đã tạo ra một cơ quan ngôn luận mạnh mẽ, cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức cũng lan tỏa hình ảnh văn hóa DTTS ra thế giới qua các sản phẩm multimedia và video bằng tiếng dân tộc.

Thứ ba, ứng dụng công nghệ số trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Các giá trị văn hóa truyền thống trước nguy cơ mai một bởi thời gian, bởi các nghệ nhân ngày càng lớn tuổi, thế hệ trẻ không mấy mặn mà nên số hóa các giá trị văn hóa để giữ gìn, lan tỏa, phù hợp với thời đại. Các địa phương có chính sách đầu tư hạ tầng kỹ thuật số để người dân, đặc biệt là lực lượng thanh niên có điều kiện ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) để chuyển tải, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc mình. Đối với điểm du lịch cộng đồng, những lễ hội, dân ca, dân vũ, trang phục, làng nghề, sản phẩm truyền thống, ẩm thực… khi thông qua truyền thông đại chúng, mạng xã hội sẽ góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa, tạo sức hút đối với các loại hình du lịch cộng đồng, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào DTTS.

Thứ tư, phát huy vai trò của những nghệ nhân, những người có uy tín. Họ là những người có tâm, có tài có tâm huyết, trách nhiệm như già làng, trưởng bản, người đứng đầu dòng họ, chủ gia đình, các nghệ nhân. Những nghệ nhân, người có uy tín phần lớn nắm giữ được nhiều tri thức kinh nghiệm cũng như những giá trị văn hóa của tộc người. Một mặt có chính sách đầu tư tương xứng đối với các nghệ nhân nhưng cũng cần đầu tư những phương tiện vật chất kỹ thuật cho những người có uy tín, lực lượng cán bộ làm công tác sáng tác, nghiên cứu, kiểm kê, bảo tồn, trùng tu, quản lý văn hóa để họ thực hiện năng lực số, lưu trữ và truyền tải số các giá trị văn hóa dân tộc.

4. Kết luận

Bảo tồn và phát triển văn hóa DTTS trong bối cảnh số là một lộ trình dài hơi, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa “giữ gìn cốt cách” và “ứng dụng công nghệ”. Trong kỷ nguyên mới, việc không gian mạng trở thành môi trường truyền tải di sản là xu thế khách quan. Khi các chủ thể từ Nhà nước đến người dân đều xác định rõ trách nhiệm và năng lực hành động, văn hóa 53 DTTS sẽ không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển sinh kế và khẳng định vị thế nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đa dạng và thống nhất trên trường quốc tế.

____________________

Tài liệu tham khảo

1. Chính phủ. (2024). Nghị định số 127/2024/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 10/10/2024 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.

2. Chính phủ. (2025). Nghị quyết số 424/NQ-CP của Chính phủ ngày 30/12/2025: Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vũng và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2003). Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy, BCH TW Đảng khóa IX, Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Nguyễn Thị Song Hà. (2023, 12 tháng 8). Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS ở Việt Nam. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://www. tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/ /2018/828114/chinh-sach-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri -van-hoa-cac-dan-toc-thieu-so-o-viet-nam.aspx

6. Tùng Quang. (2025, 13 tháng 8). Bảo tồn 48 làng bản và 69 điểm đến du lịch tiêu biểu truyền thống của các dân tộc thiểu số. Báo Văn hóa điện tử. https://baovan hoa.vn/dan-toc-ton-giao/bao-ton-48-lang-ban-va-69-diem den-du-lich-tieu-bieu-truyen-thong-cua-cac-dan-toc-thieu-s o-160732.html

7. Ủy ban Dân tộc, Học viện Dân tộc. (2023). Tài liệu bồi dưỡng kiến thức dân tộc dành cho đối tượng 3.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 5/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 28/3/2026; Ngày duyệt đăng: 30/5/2026.

TS TRẦN THỊ THÚY VÂN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 648, tháng 7/2026