Thực trạng bảo tồn nhà truyền thống ở thành phố Huế
Dữ liệu khảo sát thực địa
Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa tại một số địa bàn còn lưu giữ mật độ nhà truyền thống tương đối cao trên địa bàn thành phố Huế, tập trung tại Phước Tích (nay thuộc phường Phong Dinh), Bao La (nay thuộc xã Đan Điền), đồng thời mở rộng khảo sát tại các địa bàn lân cận như phường Hương Trà, phường Thanh Thủy và xã A Lưới 4. Kết quả khảo sát bước đầu cho thấy một số đặc điểm nổi bật sau:
Phước Tích: hiện còn khoảng 25 ngôi nhà rường cổ, trong đó 11 ngôi được đánh giá có giá trị tiêu biểu về phương diện lịch sử và kiến trúc. Tuy nhiên, chỉ khoảng 5 ngôi được khai thác phục vụ du lịch, các ngôi còn lại hoặc bỏ không, hoặc chuyển đổi công năng thành kho chứa, xưởng mộc và không gian sản xuất.
Bao La: quá trình phát triển làng nghề đan lát đã dẫn đến việc nhiều ngôi nhà cổ bị tháo dỡ để xây dựng xưởng sản xuất. Một số ngôi vẫn giữ được gian thờ tổ và hệ khung gỗ chính, song các cấu trúc phụ đã bị biến đổi đáng kể. Nhận thức về giá trị di sản của nhà cổ còn hạn chế, chưa được xem như một tài sản văn hóa cần bảo tồn.
Tại phường Hương Trà, phường Thanh Thủy và xã A Lưới 4 hiện vẫn còn tồn tại một số cụm nhà cổ có niên đại từ cuối triều Nguyễn đến đầu thế kỷ XX. Nhiều ngôi nhà thuộc sở hữu của các dòng họ lớn vẫn bảo tồn được hệ khung gỗ truyền thống cùng không gian thờ tự gia tộc. Tuy nhiên, phần lớn các công trình này đang trong tình trạng xuống cấp theo thời gian, chủ yếu do thiếu nguồn kinh phí bảo trì định kỳ và chưa có cơ chế hỗ trợ bảo tồn hiệu quả từ phía chính quyền địa phương.
Từ kết quả khảo sát, đa số chủ hộ bày tỏ mong muốn bảo tồn nhà cổ nếu có chính sách hỗ trợ cụ thể và cơ chế gắn kết với phát triển du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn thiếu một mô hình quản lý đồng bộ từ cấp xã đến cấp tỉnh nhằm tích hợp nhà cổ vào chuỗi giá trị di sản và sản phẩm du lịch địa phương.
Suy giảm số lượng và biến đổi cấu trúc nhà truyền thống
Trong khoảng hai thập niên gần đây, hệ thống nhà truyền thống ở khu vực nông thôn thành phố Huế đã suy giảm đáng kể cả về số lượng lẫn mức độ nguyên trạng của kiến trúc. Dưới tác động của quá trình đô thị hóa, biến đổi sinh kế và áp lực kinh tế, nhiều ngôi nhà rường cổ đã bị tháo dỡ, cải tạo hoặc thay thế bằng các dạng nhà ở hiện đại. Theo các báo cáo và chính sách bảo tồn của chính quyền địa phương, nhiều nhà rường cổ và nhà vườn truyền thống hiện đang trong tình trạng xuống cấp và cần được hỗ trợ tu bổ, bảo tồn. Hiện nay, các công trình này chủ yếu còn phân bố rải rác tại một số địa bàn như Hương Trà, Phong Điền, Quảng Điền và Hương Thủy; trong đó tập trung nhiều hơn ở những khu vực có mật độ nhà vườn truyền thống tương đối cao như Kim Long, Thủy Biều, Bao Vinh và Phước Tích.
Bên cạnh sự suy giảm về số lượng, nhiều ngôi nhà truyền thống còn tồn tại cũng đang trải qua những biến đổi đáng kể về cấu trúc kiến trúc. Không ít công trình đã xuống cấp ở các bộ phận quan trọng như mái ngói, hệ cột gỗ và vách bao che; một số trường hợp bị biến dạng không gian khi được cải tạo nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hiện đại. Trên thực tế, nhiều ngôi nhà cổ đang trong tình trạng hư hỏng nhưng chưa được sửa chữa kịp thời, thậm chí bị tháo dỡ hoàn toàn để xây dựng nhà bê tông mới do thiếu nguồn kinh phí bảo trì hoặc do nhận thức chưa đầy đủ về giá trị văn hóa - lịch sử của loại hình kiến trúc này. Ngoài ra, các yêu cầu về tiện nghi trong đời sống hiện đại như lắp đặt điều hòa, nhà vệ sinh khép kín hoặc bổ sung nội thất tiện nghi cũng góp phần thúc đẩy các hình thức cải tạo thiếu kiểm soát, làm suy giảm tính nguyên trạng của di sản kiến trúc truyền thống.
Hạn chế trong cơ chế bảo tồn và sự tham gia của cộng đồng
Một số địa phương như Phước Tích, Bao La, Thủy Biều đã được lựa chọn làm mô hình bảo tồn kết hợp du lịch. Tuy nhiên, các hoạt động này còn mang tính hình thức, chủ yếu tập trung vào cảnh quan bên ngoài hoặc chỉnh trang cục bộ, thiếu đầu tư chiều sâu vào cấu trúc nhà chính và nội thất truyền thống. Thậm chí, một số ngôi nhà được “tu bổ” theo hướng hiện đại hóa như lát nền gạch mới, thay cửa gỗ bằng khung nhôm kính, làm sai lệch giá trị kiến trúc nguyên bản.
Đáng chú ý là việc bảo tồn vẫn chủ yếu theo hướng áp đặt từ cấp quản lý, thiếu sự đồng thuận và chủ động từ cộng đồng sở hữu. Ý thức của người dân về giá trị di sản còn hạn chế; không ít người xem nhà cổ là gánh nặng do chi phí sửa chữa cao mà không đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp. Một số hộ gia đình tự ý chuyển đổi nhà cổ thành cơ sở kinh doanh (nhà hàng, quán cà phê, cơ sở lưu trú) nhưng thiếu hướng dẫn chuyên môn, dẫn đến nguy cơ thương mại hóa sai lệch, gây tổn hại đến tính xác thực của di sản.
Bất cập về chính sách và thiếu liên kết trong quản lý
Hiện nay, công tác bảo tồn nhà truyền thống tại thành phố Huế còn thiếu khung pháp lý rõ ràng và thiếu tầm nhìn dài hạn. Việc xếp hạng di tích và hỗ trợ tu bổ mang tính ngắn hạn, phụ thuộc vào ngân sách từng năm, trong khi đó đa phần các ngôi nhà không đủ điều kiện để được xếp hạng chính thức nên không tiếp cận được chính sách hỗ trợ.
Ngoài ra, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành liên quan như văn hóa, du lịch, xây dựng, nông thôn mới. Các mô hình du lịch cộng đồng hiện nay như tại Phước Tích, Thủy Biều chủ yếu do cá nhân đầu tư, chưa được dẫn dắt bởi chiến lược liên ngành. Việc thiếu đội ngũ tư vấn chuyên môn trong phục dựng, thiếu hồ sơ kỹ thuật, bản vẽ gốc cũng khiến quá trình bảo tồn gặp khó khăn. Nhiều công trình bị phục hồi theo hướng “giả cổ”, làm suy giảm tính xác thực, yếu tố cốt lõi trong bảo tồn di sản.
Nhà truyền thống như một “di sản sống” trong phát triển du lịch bền vững
Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa - cộng đồng
Thành phố Huế là một trong những địa phương có tiềm năng lớn để phát triển các sản phẩm du lịch gắn với nhà truyền thống, bởi nơi đây sở hữu quỹ di sản kiến trúc dân gian phong phú và vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Bên cạnh hệ thống di tích cung đình được UNESCO công nhận, các làng quê vùng ven như Phước Tích, Bao La, Thủy Biều, Kim Long… vẫn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường cổ, nhà vườn truyền thống cùng hệ sinh thái cảnh quan đặc trưng.
Khác với các loại hình di sản tĩnh tại như bảo tàng hay đền đài, nhà truyền thống nông thôn Huế mang đặc tính động, bởi đây vẫn là không gian sống thực của cư dân địa phương. Chính tính chất “đang sống” này tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt đối với dòng khách hiện đại - nhóm du khách ngày càng ưu tiên trải nghiệm cá nhân hóa, tương tác cao và tiếp cận văn hóa bản địa ở cấp độ vi mô.
Trong bối cảnh đó, nhà truyền thống có thể được tiếp cận như một dạng “di sản sống”, nơi du khách không chỉ tham quan mà còn tham dự vào nhịp sinh hoạt thường nhật của cộng đồng: lưu trú tại nhà cổ, thưởng thức ẩm thực truyền thống trong không gian nguyên bản, tham gia lễ giỗ họ, học làm bánh dân gian, nghe kể chuyện dòng tộc, trải nghiệm nghề mộc, đan lát hoặc các thực hành thủ công truyền thống. Những hoạt động này không đơn thuần là dịch vụ du lịch, mà là quá trình chuyển hóa giá trị văn hóa thành trải nghiệm, tạo nên sản phẩm khác biệt và giàu bản sắc.
Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng phát triển du lịch văn hóa trải nghiệm tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, đồng thời mở ra cơ hội xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch học đường và du lịch sáng tạo ở quy mô địa phương.
Định hướng phát triển gắn với bảo tồn bền vững
Để việc khai thác giá trị nhà truyền thống trong phát triển du lịch thực sự hiệu quả và có ý nghĩa cần đặt trong khuôn khổ bảo tồn bền vững. Từ kết quả khảo sát và phân tích, có thể đề xuất một số định hướng như sau:
Đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm: cư dân địa phương là chủ thể sở hữu và trực tiếp duy trì nhà truyền thống, do đó, cần được xác lập vai trò trung tâm trong chiến lược bảo tồn, khai thác. Các chính sách hỗ trợ kỹ thuật tu bổ, vốn vay ưu đãi, đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng và quản trị di sản sẽ giúp nâng cao năng lực nội sinh của cộng đồng. Các mô hình hợp tác như tổ hợp tác hoặc hợp tác xã du lịch cộng đồng cần được ưu tiên, nhằm đảm bảo phân chia lợi ích minh bạch và gắn trách nhiệm bảo tồn với quyền lợi kinh tế.
Xây dựng, phát triển sản phẩm đặc trưng, tránh thương mại hóa rập khuôn: cần tránh xu hướng “giả cổ hóa” hoặc tái tạo không gian theo hướng trình diễn bề mặt, làm suy giảm tính xác thực của di sản. Mỗi sản phẩm du lịch nên xuất phát từ giá trị lịch sử cụ thể của ngôi nhà, dòng họ và làng nghề. Việc xây dựng các chương trình trải nghiệm chuyên đề như tái hiện sinh hoạt Tết trong nhà rường Huế, kể chuyện gia phả kết hợp ẩm thực, hay một ngày trải nghiệm nghề thủ công truyền thống sẽ giúp gia tăng chiều sâu văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến.
Tích hợp vào hệ sinh thái du lịch vùng: không gian nhà truyền thống vùng ven cần được kết nối với các tuyến du lịch hiện hữu của Huế như hành trình ven sông Hương, tuyến làng nghề - văn hóa hoặc các chương trình tham quan di sản đô thị. Sự tích hợp này giúp kéo dài thời gian lưu trú, phân bổ dòng khách ra khỏi khu vực trung tâm và thúc đẩy phát triển du lịch vùng ven theo hướng cân bằng hơn. Việc liên kết sản phẩm giữa các xã, huyện cần vượt khỏi tư duy hành chính cục bộ để hình thành chuỗi giá trị liên hoàn.
Hoàn thiện cơ chế quản lý và hành lang pháp lý: bảo tồn nhà truyền thống đòi hỏi sự phối hợp giữa các lĩnh vực văn hóa, du lịch, xây dựng và phát triển nông thôn. Cần xây dựng quy chế quản lý kiến trúc truyền thống tại các khu vực có giá trị, quy định rõ tiêu chuẩn tu bổ, phục dựng và kiểm soát cải tạo. Đồng thời, việc thiết lập cơ sở dữ liệu số, bản đồ phân bố nhà cổ và bộ tiêu chí khai thác du lịch bền vững là điều kiện cần thiết để quản lý hiệu quả.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và ứng dụng công nghệ số: thành phố Huế chủ động đề xuất các dự án hợp tác, học hỏi mô hình bảo tồn kết hợp du lịch từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp… Bên cạnh đó, việc số hóa di sản kiến trúc truyền thống (scan 3D, chụp ảnh toàn cảnh, hồ sơ kỹ thuật số…) không chỉ phục vụ công tác lưu trữ, mà còn giúp tái hiện không gian nhà cổ trên các nền tảng số, phục vụ giáo dục, quảng bá và phát triển du lịch thực tế ảo.
Từ góc độ phát triển bền vững, nhà truyền thống nông thôn Huế không chỉ là đối tượng cần bảo tồn, mà còn là nguồn lực văn hóa có khả năng tạo sinh kế nếu được quản lý đúng hướng. Việc tiếp cận nhà truyền thống như một “di sản sống” cho phép dung hòa hai mục tiêu tưởng như đối lập: bảo tồn tính xác thực và phát huy giá trị kinh tế, xã hội. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc khai thác hay không khai thác, mà ở mô hình quản trị di sản và mức độ tham gia thực chất của cộng đồng địa phương.
4. Kết luận
Nghiên cứu cho thấy nhà truyền thống nông thôn tại thành phố Huế không chỉ là một cấu trúc cư trú dân gian, mà là một chỉnh thể văn hóa - xã hội mang tính hệ thống. Mô hình nhà - vườn - sân - giếng cùng không gian thờ tự và các yếu tố trang trí truyền thống phản ánh tri thức bản địa về thích ứng môi trường, trật tự gia đình và bản sắc dòng tộc. Giá trị của nhà truyền thống, vì vậy, không chỉ nằm ở hình thái kiến trúc, mà còn ở chức năng văn hóa và đời sống cộng đồng đang tiếp diễn.
Khảo sát thực địa tại Phước Tích, Bao La và các khu vực Hương Trà, Hương Thủy cho thấy, quỹ nhà cổ vẫn còn tương đối phong phú, song đang đối mặt với nguy cơ xuống cấp, chuyển đổi công năng và thiếu cơ chế quản lý đồng bộ. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần tiếp cận nhà truyền thống như một nguồn lực di sản có khả năng đóng góp cho phát triển kinh tế, xã hội nếu được tích hợp vào chiến lược du lịch bền vững.
Từ góc độ phát triển, việc xem nhà truyền thống như một “di sản sống” mở ra hướng tiếp cận dung hòa giữa bảo tồn và khai thác. Khác với mô hình bảo tồn tĩnh tại, cách tiếp cận này nhấn mạnh vai trò chủ thể của cộng đồng cư dân, tính xác thực của không gian sống và sự liên kết với hệ sinh thái du lịch vùng. Nếu được quản trị phù hợp, nhà truyền thống có thể trở thành sản phẩm du lịch văn hóa - cộng đồng đặc trưng, góp phần đa dạng hóa không gian di sản Huế ngoài khu vực đô thị trung tâm.
Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa giá trị kiến trúc - văn hóa của nhà truyền thống nông thôn Huế trên cơ sở khảo sát thực địa, đồng thời đề xuất hướng tiếp cận tích hợp giữa bảo tồn và phát triển. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu liên ngành và đánh giá định lượng để xây dựng bộ tiêu chí cụ thể cho mô hình “di sản sống” trong bối cảnh phát triển bền vững hiện nay.
____________________________
Tài liệu tham khảo
1. Báo Thừa Thiên Huế. (2024). Cơ hội cho nhà vườn, nhà rường. Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. https://bvhttdl.gov.vn/co-hoi-cho-nha-vuon-nha-ruong-hue-20240819143026135.htm
2. Hoàng Đạo Kính. (2002). Di sản văn hóa bảo tồn và trùng tu. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.
3. Lê Thị Liễu. Tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa (2010-2024). Tạp chí Lịch sử Đảng. https://tapchilichsudang.vn/tinh-thua-thien-hue-thuc-hien-cong-tac-bao-ton-va-phat huy-cac-gia-tri-di-san-van-hoa-2010-2024.html
4. Nguyễn Hồng Thắng. (2012). Báo cáo tổng kết năm 2012 và định hướng công tác năm 2014 về bảo tồn, phát triển di sản và phát triển du lịch tại làng cổ Phước Tích, Thừa Thiên Huế.
5. Nguyễn Thanh Tưởng, Trương Thị Lũy. (2015). Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở làng cổ Phước Tích. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng. Số 8(93).
6. Nguyễn Thị Thúy Vi (chủ biên). (2020). Thuật ngữ kiến trúc truyền thống nhà rường Huế. Nhà xuất bản Thế giới.
7. Nguyễn Văn Tân (chủ biên). (2025). Phát triển du lịch cộng đồng. Nhà xuất bản Hà Nội.
8. Nguyễn Ngọc Tùng. (2024). Công trình Pháp thuộc số 26 Lê Lợi: thực trạng kiến trúc và giải pháp bảo tồn. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Số 1.
9. Phan Thanh Hải. (2009). Nhà rường Huế. Tạp chí Di sản Văn hóa. Số 1(26).
10. Phước Hoàng. (2022). Không gian văn hóa Huế. Tạp chí Sông Hương. Số 406.
11. Thủ tướng Chính phủ. (2020). Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
12. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế. (2023). Báo cáo số 601-BC/TU, ngày 6/10/2020 “Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI” UBND Thừa Thiên Huế, Sở Văn hóa và Thể thao: “Báo cáo tình hình thực hiện công tác phát triển nguồn nhân lực năm 2023, kế hoạch năm 2024”.
13. Trần Thanh Tuấn. Kết quả thực địa tại Phước Tích, Bao La, Hương Trà và Hương Thủy (Thừa Thiên Huế), tháng 4, 5/2025.
14. UNESCO. (2014). Culture for Development Indicators: Methodology Manual (Các chỉ số văn hóa cho phát triển: Sổ tay phương pháp). Nhà xuất bản UNESCO. Paris.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 28/5/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 16/6/2026; Ngày duyệt bài: 30/6/2026.
TS TRẦN THANH TUẤN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 648, tháng 7/2026