Ảnh: Nghệ sĩ Nhật Bản Yayoi Kusama tạo dáng bên trong tác phẩm sắp đặt Căn Phòng Gương Vô Cực của bà vào năm 2013. Bà đã qua đời ở tuổi 97.
Ảnh: Mike Segar/ Reuters
Nghệ sĩ Nhật Bản Yayoi Kusama tạo dáng bên trong tác phẩm sắp đặt Căn Phòng Gương Vô Cực của bà vào năm 2013. Bà đã qua đời ở tuổi 97. - Ảnh: Mike Segar/ Reuters

Kusama đã qua đời tại một bệnh viện ở Tokyo vào ngày 14/8/2026; thông tin này được công ty Yayoi Kusama Inc đưa ra trong một thông báo.

“Trong suốt cuộc đời phi thường dành trọn vẹn cho sáng tạo nghệ thuật, Kusama đã xây dựng một sự nghiệp được quốc tế công nhận với tư cách là một nghệ sĩ tiên phong (avant-garde); các hoạt động sáng tạo của bà bao gồm nghệ thuật thị giác, nghệ thuật trình diễn, văn xuôi hư cấu và thơ ca,” thông báo viết. “Bà vẫn tiếp tục vẽ cho đến những ngày cuối đời, không bao giờ buông bút vẽ, và không ngừng khám phá về tình yêu vĩnh cửu cùng linh hồn bất diệt.”

“Chúng tôi sẽ tiếp nối những tâm nguyện của Kusama và, thông qua nghệ thuật, tiếp tục mang lại niềm hy vọng cũng như sức mạnh cho tương lai tới mọi người trên khắp thế giới.”

 Được nhận diện ngay lập tức bởi mái tóc giả kiểu bob màu đỏ rực, Kusama nổi tiếng với những phối màu mang phong cách ảo giác (psychedelic) và các tác phẩm sắp đặt Phòng gương vô cực – những yếu tố giúp bà thu hút lượng lớn khán giả trong kỷ nguyên chụp ảnh selfie trên mạng xã hội: triển lãm năm 2024 của bà tại Úc đã trở thành triển lãm thu hút nhiều khách tham quan nhất trong lịch sử nước này. Tuy nhiên, bà đã tiên phong khai thác nhiều chủ đề nghệ thuật mang tính trường tồn đó ngay từ khi còn là một nghệ sĩ trẻ vào thập niên 1960, trước khi trải qua một khoảng thời gian tạm thời bị lãng quên.

Kusama sinh năm 1929, tại Matsumoto, Nhật Bản và trải qua một tuổi thơ bất hạnh dưới sự ngược đãi của người mẹ cùng thói trăng hoa của người cha. Gia đình bà vốn giàu có và kinh doanh nghề ươm trồng cây cảnh và Kusama thường ngồi vẽ những bông hoa bất chấp việc mẹ bà liên tục tìm cách ngăn cản. Ngay từ khi còn nhỏ, Kusama đã bắt đầu gặp phải những ảo giác, trong đó các loài hoa vây quanh và trò chuyện với bà. Cách để bà đối phó với tình trạng này là vẽ lại những gì mình nhìn thấy.

Tác phẩm Niềm hy vọng về những chấm bi bị chôn vùi trong vô tận sẽ mãi mãi bao phủ vũ trụ của Kusama, tại Bảo tàng Ludwig ở Cologne, Đức vào năm 2026.
Ảnh: Ina Fassbender/AFP/Getty Images
Tác phẩm Niềm hy vọng về những chấm bi bị chôn vùi trong vô tận sẽ mãi mãi bao phủ vũ trụ của Kusama, tại Bảo tàng Ludwig ở Cologne, Đức vào năm 2026. - Ảnh: Ina Fassbender/AFP/Getty Images

Trong Thế chiến thứ hai, khi mới 13 tuổi, Kusama đã bị huy động làm công việc sản xuất vải cho dù của quân đội Nhật Bản. Sau đó, bà theo học “nihonga” – một phong cách hội họa truyền thống của Nhật Bản – tại Kyoto, nhưng dần cảm thấy nản lòng trước những hạn chế của trường phái này. Khước từ viễn cảnh tương lai được định sẵn là kết hôn theo sự sắp đặt và sinh con, Kusama rời Nhật Bản để đến New York vào năm 1958. Tại đây, bà kết giao với nghệ sĩ kiêm nhà lý luận nghệ thuật Donald Judd và tạo nên bước ngoặt với loạt tranh Lưới vô tận (Infinity net) – những dải chấm bi bao la được vẽ bằng kỹ thuật đắp màu dày (impasto) trải dài khắp mặt toan. Năm 1962, bà bán bức tranh đầu tiên thuộc loạt tác phẩm này cho hai nghệ sĩ Frank Stella và Judd với giá 75 USD. Đến năm 2014, bức Màu trắng số 28 (White No 28) của bà đã được bán với giá 7,1 triệu USD (tương đương 5,7 triệu bảng Anh) tại một phiên đấu giá; đây là mức giá kỷ lục vào thời điểm đó đối với một nữ nghệ sĩ còn sống.

Vào năm 1963, Kusama bắt đầu sáng tác các tác phẩm Điêu khắc mềm – bao gồm đồ nội thất và những vật dụng khác như thang – được bao phủ bởi các hình thù giống dương vật làm bằng vải trắng và nhồi bông bên trong. Theo lời bà, đây là nỗ lực cá nhân nhằm chữa lành nỗi ghê sợ tình dục – điều mà bà từng được giáo dục để tin rằng đó là chuyện bẩn thỉu và đáng xấu hổ.

Kusama đang làm việc tại xưởng của bà ở Tokyo, Nhật Bản vào năm 2017. Ảnh: Toru Hanai/Reuters.
Kusama đang làm việc tại xưởng của bà ở Tokyo, Nhật Bản vào năm 2017. Ảnh: Toru Hanai/Reuters. 

Mặc dù hoạt động thoải mái trong phạm vi các trào lưu Pop Art và nghệ thuật tối giản, Kusama lại không được giới nghệ thuật đón nhận. Bà luôn khẳng định rằng nhiều ý tưởng của mình trong giai đoạn này đã bị các nghệ sĩ nam da trắng – bao gồm cả Andy Warhol – chiếm dụng, trong khi tên tuổi của bà lại bị gạt ra khỏi lịch sử nghệ thuật.

Các tác phẩm của Kusama thường xoay quanh sự vô tận và ý niệm về “sự tự xoá nhòa bản thân” – một khái niệm bắt nguồn từ những ảo giác thường bao trùm lấy tâm trí bà. Khi nói về bức tranh Hoa (DSPS) sáng tác năm 1954, bà từng chia sẻ: “Tôi đang ngắm nhìn những họa tiết hoa đỏ trên chiếc khăn trải bàn, rồi khi ngước lên, tôi thấy chính họa tiết ấy bao phủ khắp trần nhà, cửa sổ, các bức tường, và cuối cùng là lan toả ra toàn bộ căn phòng, lên cơ thể tôi và cả vũ trụ. Tôi cảm thấy như thể mình đang bắt đầu tự xóa nhòa bản thân, xoay vần trong sự vô tận của thời gian triền miên và tính tuyệt đối của không gian, để rồi bị bào mòn dần, tan biến vào hư vô”.

Tại triển lãm Venice Biennale, năm 1966, bà tiếp tục các thử nghiệm nghệ thuật này khi giới thiệu tác phẩm gây nhiều tranh cãi mang tên Vườn Hoa thủy tiên (Narcissus Garden) – một “hồ nước” gồm 1.500 quả cầu phản chiếu ánh sáng, tạo nên hiệu ứng vô tận như soi mình trong gương. Khi Kusama bắt đầu bán những quả cầu này với giá 2 USD mỗi chiếc dưới khẩu hiệu “Bán sự ái kỷ của bạn”, ban tổ chức triển lãm đã tìm cách dẹp bỏ hoạt động này.

Kusama bên chiếc   (1965) của cô ở Scheveningen, 
Hà Lan. 
Ảnh: Harrie Verstappen.
 Kusama bên chiếc Xe Chấm Bi (1965) của cô ở Scheveningen, Hà Lan. Ảnh: Harrie Verstappen.

Kusama nổi tiếng với phong cách gây nhiều tranh cãi. Các màn trình diễn nghệ thuật ngẫu hứng (hay còn gọi là “happenings”) của bà thường bị chỉ trích là chỉ nhằm mục đích gây sốc, song những thông điệp chính trị mà chúng truyền tải giờ đây lại được nhìn nhận là đi trước thời đại. Năm 1968, bà đã tổ chức “đám cưới đồng giới” đầu tiên tại New York (ở khu Tribeca).

Vào thời điểm này, Kusama đang duy trì một mối quan hệ thuần khiết nhưng đầy ám ảnh với nghệ sĩ tự học Joseph Cornell; mối quan hệ ấy vẫn tiếp diễn ngay cả sau khi bà rời Mỹ để trở về Nhật Bản. Bà thường xuyên phải nhập viện trong thời gian sống tại New York, và khi Cornell qua đời vào năm 1972, sức khỏe tâm thần của bà càng trở nên tồi tệ hơn với các triệu chứng ảo giác, những cơn hoảng loạn và cả ý định tự sát. Năm 1977, bà tự nguyện nhập viện tại một cơ sở điều trị tâm thần ở Tokyo – nơi có các liệu pháp nghệ thuật – giúp bà có được sự ổn định cần thiết để chuyên tâm thực hiện các dự án của mình mà không bị xao nhãng. Bà quyết định sống tại đây lâu dài, miệt mài làm việc mỗi ngày từ sáng đến tối tại xưởng vẽ gần đó.

 Mặc dù đã xuất bản một số tiểu thuyết trong thập niên 1980, sự quan tâm dành cho Kusama dường như đã gần như biến mất khi bước sang thập niên 1990. Tuy nhiên, sự công nhận mà bà không có được trong giai đoạn đầu sự nghiệp nghệ thuật cuối cùng cũng đã đến vào những năm tháng sau này. Năm 1933, bà tạo ra một căn phòng gương chứa đầy các tác phẩm điêu khắc bí ngô nhỏ cho gian triển lãm của Nhật Bản tại Venice Biennale và nhận được nhiều lời khen ngợi cho tác phẩm này. Bà lần đầu nhìn thấy quả bí ngô khi đi cùng ông mình lúc mới 11 tuổi. Khi định hái nó, bà có cảm giác như quả bí ngô đang cất tiếng trò chuyện với mình; giờ đây, hình ảnh này đã trở thành một mô-típ xuyên suốt trong các tác phẩm cùa bà, chẳng hạn như Tất cả tình yêu vĩnh cửu tôi dành cho những quả bí ngô (All the Eternal Love I Have for the Pumpkins) ra mắt năm 2016.

Trọng tâm sáng tác của Kusama dần chuyển sang các tác phẩm sắp đặt phát triển từ tác phẩm năm 1965 của bà mang tên Căn phòng Gương Vô cực: Cánh đồng Tượng Dương vật (Infinity Mirror Room: Phalli’s Field). Trong tác phẩm đó, hàng trăm khối hình màu hồng, mềm mại được sắp đặt bên trong một căn phòng phủ đầy gương. Nửa thế kỷ sau, những trải nghiệm mang tính tương tác và bao trùm không gian này đã thu hút khán giả trên toàn cầu, khi ánh sáng đa sắc cùng những quả bí ngô rực rỡ sắc màu trở thành nguồn nội dung hoàn hảo để chia sẻ trên Instagram.  Kusama đã có các triển lãm hồi cố tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA) ở New York (1998), Tate Modern ở London (2012) và Bảo tàng Hirshhorn ở Washington D.C. (2017). Vé xem các triển lãm của bà luôn nhanh chóng cháy hàng trên toàn thế giới, và người hâm mộ sẵn sàng xếp hàng suốt nhiều giờ đồng hồ chỉ để có được 30 giây trải nghiệm bên trong các tác phẩm sắp đặt của bà.

 Dù một số nhà phê bình từng đặt câu hỏi liệu bà có phải là nghệ sĩ nổi tiếng nhất thế giới hay không, Kusama vẫn luôn tin rằng vị thế của mình trong lịch sử sẽ không do giới nghệ thuật chính thống định đoạt.

 “Tôi không thể hình dung mình sẽ được xếp vào đâu sau khi qua đời,” bà từng chia sẻ. “Cảm giác trở thành một người đứng ngoài lề thật tuyệt.”

Khách tham quan bên trong một trong những Căn phòng vô cực của Kusama tại triển lãm của bà ở Tate Modern, London vào năm 2012. Ảnh: Guy Bell/REX/Shutterstock.
Khách tham quan bên trong một trong những Căn phòng vô cực của Kusama tại triển lãm của bà ở Tate Modern, London vào năm 2012. Ảnh: Guy Bell/REX/Shutterstock.

       Phan Trần Hoài Trang (Dịch từ The Guardian)

Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026