Khi di sản chính là niềm tự hào lớn lao…
Trong kho tàng thể thao truyền thống Việt Nam, võ cổ truyền có một vị trí đặc biệt. Hình thành và phát triển gắn với lịch sử dựng nước, giữ nước, các môn phái, võ phái và lò võ trải dài từ Bắc vào Nam đã tạo nên một hệ thống kỹ thuật phong phú, từ quyền thuật, binh khí đến các phương pháp rèn luyện thân thể, đạo đức và ý chí.

Ðiều quan trọng là di sản ấy không chỉ tồn tại trong ký ức hay các tài liệu cổ. Võ cổ truyền vẫn có một cộng đồng thực hành rộng lớn, với hệ thống môn phái, võ đường, CLB, võ sư và người tập ở nhiều địa phương. Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam được thành lập từ năm 1991 với vai trò lãnh đạo phong trào một cách có tổ chức, định hướng hoạt động, đặc biệt là chuẩn hóa về chuyên môn cũng như tìm cách đẩy mạnh sự phát triển của môn phái (thay vì chỉ duy trì). Tới nay, dưới sự quy tụ và lãnh đạo của Liên đoàn phong trào hiện có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước và đã hình thành hệ thống thi đấu từ cơ sở đến quốc gia. Càng đáng tự hào hơn khi theo thống kê, hiện Võ cổ truyền Việt Nam đã được truyền đến hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ khắp thế giới với hàng vạn võ sư, võ sinh, nhiều người trong số họ đã tới Việt Nam để tập huấn, nâng cao trình độ hoặc tham dự các kỳ liên hoan, giải đấu vô địch thế giới…
Riêng nhiệm kỳ V hiện nay, Liên đoàn đã phong cấp cho 3.474 VÐV, gồm 1.142 kiện tướng, 1.793 VÐV cấp I và 539 VÐV cấp II. 18 bài quyền quy định đã được chuẩn hóa, tạo cơ sở thống nhất cho đào tạo và thi đấu trong khi vẫn duy trì không gian tồn tại của các bài võ, môn phái và đặc trưng địa phương.
Những con số ấy cho thấy Võ cổ truyền Việt Nam trước hết là một “di sản sống” đã, đang và có rất nhiều đóng góp đối với cộng động. Chính cộng đồng người tập mới là điều kiện quyết định để di sản tiếp tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Bảo tồn không có nghĩa là đóng khung
Thách thức lớn nhất đối với một môn võ truyền thống trong xã hội hiện đại là giải quyết hài hòa quan hệ giữa bảo tồn và phát triển. Ðây cũng là “bài toán” mà Liên đoàn Võ cổ truyền Việt Nam cũng như các giới chức có trách nhiệm phải suy nghĩ, xác định hướng phát triển một cách đúng đắn nhất.
Thực tế cho thấy, nếu chỉ chú trọng chuẩn hóa (yêu cầu quan trọng để có thể từng bước đẩy mạnh quốc tế hóa), võ cổ truyền có nguy cơ mất đi sự đa dạng vốn là một phần giá trị của di sản. Ngược lại, nếu mỗi môn phái, võ đường phát triển theo một hệ thống hoàn toàn riêng biệt, việc đào tạo, thi đấu và mở rộng ra quốc tế lại gặp khó khăn.

Bởi vậy, việc chuẩn hóa 18 bài quyền quy định mới chỉ là một phần của quá trình hiện đại hóa. Ðịnh hướng nhiệm kỳ 2025–2030 của Liên đoàn đã đặt ra những nhiệm vụ rộng hơn: chuẩn hóa và số hóa hệ thống kỹ thuật; đào tạo HLV, trọng tài, VÐV theo hướng bài bản; phát triển phong trào trong thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên và lực lượng vũ trang; mở rộng hệ thống CLB, võ đường; đồng thời đẩy mạnh đối ngoại văn hóa và hội nhập quốc tế. Mục tiêu đến năm 2030 là tăng ít nhất 30% số hội viên, CLB, võ đường và duy trì phong trào tại 100% tỉnh, thành phố. Ðáng chú ý hơn là định hướng đưa võ cổ truyền phát triển mạnh trong trường học.
Ðây là hướng đi có ý nghĩa lâu dài. Một môn võ truyền thống chỉ có thể sống bền vững nếu thế hệ trẻ tiếp tục tập luyện. Trường học vì thế không chỉ tạo nguồn VÐV mà còn có thể trở thành không gian truyền tải văn hóa, lịch sử và tinh thần thượng võ.
Tuy nhiên, để đi vào trường học ở quy mô lớn, cần nhiều hơn một chủ trương: chương trình phải phù hợp lứa tuổi, giáo trình thống nhất, đội ngũ hướng dẫn đủ chuẩn, điều kiện an toàn được bảo đảm và quan trọng nhất là tạo được hứng thú cho học sinh. Võ cổ truyền phải cạnh tranh với rất nhiều môn thể thao và hình thức giải trí mới để giành thời gian của người trẻ.
Trong vòng 2 năm trở lại đây, ban chuyên môn của Liên đoàn Võ cổ truyền Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc chuẩn hóa luật thi đấu, đặc biệt ở các nội dung đối kháng. Ðặc biệt nhất chính là hình thức thi đấu chuyên nghiệp (không sử dụng mũ bảo hộ và áo giáp), qua đó gia tăng sức hấp dẫn của các trận đấu, đồng thời cũng phô diễn được sức mạnh cũng như sự lợi hại thật sự của võ cổ truyền Việt Nam trong thực chiến. Trong xu thế phát triển thể thao giải trí thì tạo nên sản phẩm mới cho môn võ thuật truyền thống này là hoạt động đầy sáng tạo rất đáng ghi nhận, qua đó đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của thời kỳ mới.
Khi võ thuật truyền thống được lồng vào các hoạt động văn hóa và du lịch
Một hướng phát triển khác đang ngày càng rõ nét là đưa võ cổ truyền ra khỏi phạm vi võ đường và sân thi đấu để trở thành sản phẩm văn hóa – du lịch.
Thực tiễn tại miền đất võ Bình Ðịnh trước đây (nay thuộc tỉnh Gia Lai sau sắp xếp đơn vị hành chính), cho thấy tiềm năng ấy. Những địa danh gắn với Tây Sơn, bảo tàng Quang Trung, các lò võ lâu đời, biểu diễn trống trận và võ thuật có thể kết nối thành một không gian trải nghiệm mà ít địa phương sở hữu. Vì vậy, trong mỗi lần liên hoan quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam, tỉnh Bình Ðịnh trước đây, tỉnh Gia Lai hiện nay đều luôn xem đây là cơ hội tuyệt vời để quảng bá không chỉ về những giá trị của võ học truyền thống nước nhà mà rộng hơn, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam tới bạn bè quốc tế.

Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IX hồi đầu tháng 8 này tại Gia Lai cũng là một ví dụ sinh động. Sự kiện không chỉ có biểu diễn và giao lưu võ thuật mà còn kết hợp dâng hương tại các di tích, tham quan lò võ, triển lãm, giới thiệu danh thắng và các điểm du lịch. Việc võ thuật, di sản, lễ hội và du lịch cùng xuất hiện trong một chương trình cho thấy một hướng khai thác đáng chú ý: người xem không chỉ đến xem võ, mà có thể đến để trải nghiệm văn hóa của vùng đất sinh ra môn võ ấy (xin xem bài cùng số này).
Ðây cũng là kinh nghiệm nổi bật từ Muay Thái của Thái Lan hay Wushu và hệ thống võ thuật truyền thống Trung Quốc (lồng ghép hoạt động biểu diễn, tham quan, trải nghiệm võ thuật vào các tour du lịch). Giá trị kinh tế không chỉ nằm ở các giải đấu mà còn đến từ đào tạo, biểu diễn, trang thiết bị, truyền thông, bản quyền, du lịch, võ đường, sự kiện và những sản phẩm văn hóa liên quan.
Võ cổ truyền Việt Nam vẫn còn khoảng cách đáng kể với những mô hình đã được quốc tế hóa mạnh mẽ ấy. Nhiều hoạt động hiện vẫn dựa vào tâm huyết của các võ sư, võ đường và nguồn lực xã hội hóa riêng lẻ; sản phẩm thương mại, bản quyền, truyền thông số và chuỗi dịch vụ đi kèm chưa hình thành rõ nét.
Vì vậy, xã hội hóa trong giai đoạn tới không nên chỉ được hiểu là huy động kinh phí tổ chức giải. Ðiều cần hướng đến là tạo ra một hệ sinh thái có khả năng tự nuôi dưỡng phong trào.
Mang võ Việt ra thế giới
Một chuyển động đáng chú ý khác là quá trình quốc tế hóa đang được thúc đẩy rõ hơn.
Liên đoàn Thế giới Vovotruyen Việt Nam (WFVV) đã xây dựng hệ thống hoạt động quốc tế và năm 2026 tiếp tục đưa Giải vô địch thế giới cùng Giải vô địch trẻ Vovotruyen Việt Nam tới Italia. Theo kế hoạch được WFVV công bố, sự kiện diễn ra từ ngày 30/9 đến 5/10 tại Cervia, vùng Emilia-Romagna; thời gian thi đấu từ 2 đến 4/10 với các nội dung đối kháng, quyền thuật, biểu diễn tập thể, đối luyện và các nội dung dành cho VÐV trẻ.
Ý nghĩa của sự kiện không chỉ nằm ở việc tổ chức thêm một giải vô địch thế giới. Một môn võ có nguồn gốc Việt Nam được tổ chức giải cấp thế giới ngay tại châu Âu cho thấy nỗ lực đưa võ Việt đến gần hơn với cộng đồng võ thuật quốc tế.

Trước giải, WFVV và Liên đoàn Võ thuật Italia (FIWuK) cũng xúc tiến hợp tác không chỉ về công tác tổ chức mà hướng tới những lĩnh vực dài hạn hơn như giao lưu, đào tạo, thi đấu, trọng tài, HLV và phát triển phong trào. WFVV đồng thời đưa vào sử dụng bộ nhận diện mới với hình tượng Chim Lạc đặt trên địa cầu - một cách thể hiện khá rõ thông điệp: lấy bản sắc Việt Nam làm gốc nhưng hướng tới phạm vi toàn cầu.
Ðó là bước tiến đáng ghi nhận, nhưng cũng cần nhìn nhận tỉnh táo rằng có một tổ chức thế giới và giải vô địch thế giới chưa đồng nghĩa với việc Võ cổ truyền Việt Nam đã trở thành một môn võ quốc tế mạnh.
Taekwondo, Judo, Wushu, Judo, Karatedo hay Muay Thái có được vị thế hiện nay nhờ quá trình kéo dài hàng chục năm xây dựng mạng lưới quốc gia thành viên, tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống thi đấu, đào tạo HLV - trọng tài, truyền thông, tài trợ và đặc biệt là cộng đồng người tập rộng lớn bên ngoài quốc gia xuất xứ. Ðây chính là khoảng cách Võ cổ truyền Việt Nam phải vượt qua.
Từ “gìn giữ” và “bảo tồn” đến xây dựng thương hiệu quốc gia
Võ cổ truyền Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đáng chú ý. Nền tảng lịch sử và văn hóa đã có; cộng đồng võ sư, môn phái và người tập vẫn duy trì sức sống; hệ thống thi đấu từng bước được hoàn thiện; quá trình chuẩn hóa, số hóa và quốc tế hóa đã bắt đầu.
Nhưng tiềm năng chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi các mắt xích ấy được kết nối. Một chiến lược dài hạn vì thế cần đồng thời giải quyết nhiều tầng: bảo tồn những bài võ, môn phái và tri thức có giá trị; xây dựng cơ sở dữ liệu số; chuẩn hóa phần kỹ thuật cần thiết cho đào tạo và thi đấu; mở rộng võ học đường; nâng chất lượng HLV, trọng tài; hình thành các sự kiện có thương hiệu; phát triển sản phẩm du lịch võ thuật; hỗ trợ các võ đường hoạt động bền vững; tăng cường truyền thông số và xây dựng mạng lưới quốc tế thực chất.
Trong quá trình đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách và bảo vệ di sản, các liên đoàn chịu trách nhiệm tổ chức và chuẩn hóa chuyên môn, còn doanh nghiệp, địa phương, võ đường và cộng đồng chính là lực lượng tạo nên thị trường và sức sống xã hội.
Thế giới không thiếu các môn võ, nên nếu muốn người nước ngoài lựa chọn tập một môn võ Việt Nam thì điều quyết định không chỉ là môn võ ấy có lịch sử lâu đời đến đâu, mà còn rất cần những câu chuyện văn hóa có đủ hấp dẫn, hệ thống đào tạo có đủ thuận tiện, thi đấu có đủ chuyên nghiệp và cộng đồng có đủ rộng để người tập muốn gắn bó hay không.
Vì thế, mục tiêu xa hơn của Võ cổ truyền Việt Nam không nên dừng ở việc bảo tồn những gì cha ông để lại. Ðó phải là quá trình biến di sản thành nguồn lực của hiện tại: có mặt trong trường học, sống trong các võ đường, hiện diện tại các điểm đến du lịch, tạo ra sản phẩm của công nghiệp văn hóa và từng bước hình thành một thương hiệu võ thuật quốc gia trên trường quốc tế.
Từ những lò võ truyền thống đến sàn đấu tại Italia là một khoảng cách rất xa. Nhưng những chuyển động trong năm 2025 - 2026 cho thấy hành trình ấy đã có thêm những bước đi cụ thể. Ðiều cần thiết lúc này là một chiến lược đủ dài hạn và sự phối hợp đủ mạnh để Võ cổ truyền không chỉ được gìn giữ như một di sản của quá khứ, mà còn có thể trở thành một giá trị Việt Nam được thế giới biết đến trong tương lai.
Bài, ảnh: BÌNH MINH
Nguồn: Đặc san Thể thao & Đời sống, số 3, tháng 8/2026