
Chủ trì tọa đàm có Ban Lãnh đạo Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật: Ths Hoàng Hà, Tổng Biên tập; ông Đặng Xuân Mã, Phó Tổng Biên tập.
Thay đổi tư duy từ khi hình thành ý tưởng
Từ thực tiễn của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, NSND Tống Toàn Thắng, Giám đốc Liên đoàn, cho rằng ứng dụng công nghệ số trước hết đòi hỏi thay đổi tư duy của người đứng đầu, đạo diễn và cả ê-kíp sáng tạo. Công nghệ phải được tính đến ngay từ khi hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản, thay vì đợi hoàn thiện tác phẩm rồi mới tìm hình ảnh đưa vào.
NSND Tống Toàn Thắng cho biết, Liên đoàn đã tiếp cận việc kết hợp công nghệ với nghệ thuật từ hơn 10 năm trước. Khi tham khảo các chương trình ở nước ngoài, điều những người làm nghề trăn trở là làm thế nào để xây dựng được sản phẩm có chất lượng tương xứng, trong khi Việt Nam có đội ngũ nghệ sĩ chuyên nghiệp, tài năng.
Tuy nhiên, khoảng cách từ mong muốn đến thực hiện không nhỏ. Rạp Xiếc Trung ương được xây dựng khoảng 35 năm, hạ tầng ban đầu chưa tính đến yêu cầu ứng dụng những công nghệ trình chiếu hiện nay. Khi muốn đưa hình ảnh lên mái vòm, Liên đoàn phải cùng đối tác công nghệ thử nghiệm trực tiếp, đánh giá khả năng đáp ứng của không gian, bề mặt trình chiếu và thiết bị.
Quá trình triển khai kéo theo hàng loạt điều chỉnh: bố trí lại hệ thống đèn, đầu tư hệ thống treo có thể nâng, hạ để lắp thiết bị, xử lý sự tương thích giữa ánh sáng sân khấu và hình ảnh trình chiếu. Âm thanh, độ dội âm và điều kiện cơ sở vật chất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của khán giả.

NSND Tống Toàn Thắng nhấn mạnh: “Có thiết bị chưa đồng nghĩa với việc khai thác hiệu quả”. Đầu tư công nghệ cần phù hợp với từng nhà hát, từng không gian và phải bảo đảm tính đồng bộ.
Với “Sơn thần thủy quái”, công nghệ đã giúp Liên đoàn tạo nên thay đổi so với cách dàn dựng câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh cách đây 20 năm. Những không gian núi rừng, đại dương được mở ra, hỗ trợ nghệ sĩ hóa thân, đưa người xem vào câu chuyện và tiếp cận gần hơn nhu cầu thưởng thức của công chúng hôm nay, đặc biệt là khán giả trẻ.
Dù vậy, ông khẳng định những khoảnh khắc khiến khán giả nín thở, hồi hộp rồi vỡ òa vẫn đến từ kỹ năng, bản lĩnh của nghệ sĩ. Công nghệ hỗ trợ tổ chức tiết tấu, lựa chọn động tác có giá trị để tạo điểm nhấn, đồng thời giúp phân bổ sức lực hợp lý hơn trong tiết mục.
Sự phối hợp này cũng có những yêu cầu đặc thù. Trạng thái cơ thể, thời gian lấy thăng bằng của nghệ sĩ không phải lúc nào cũng giống nhau. Người vận hành âm thanh, ánh sáng, hình ảnh phải hiểu tiết mục, quan sát và phối hợp theo diễn biến thực tế. Ngược lại, diễn viên phải tập luyện để thích ứng với không gian, cường độ ánh sáng và phương thức biểu diễn mới.
Về nguồn lực, NSND Tống Toàn Thắng cho biết Liên đoàn chủ động tìm đối tác có chung mong muốn xây dựng sản phẩm văn hóa có giá trị, có thể biểu diễn lâu dài. Liên đoàn đóng góp nghệ sĩ, không gian và năng lực sáng tạo; doanh nghiệp cung cấp thiết bị, giải pháp, đội ngũ kỹ thuật. Hai bên cùng tính toán phương án duy trì hoạt động, chia sẻ nguồn thu để đồng hành.
Nghệ sĩ thích ứng với yêu cầu mới
Ở góc nhìn người trực tiếp biểu diễn, NSƯT Thu Hương, Liên đoàn Xiếc Việt Nam cho biết dù đã tham gia nhiều cuộc thi quốc tế và giành giải thưởng, khi biểu diễn trong “Sơn thần thủy quái”, “Kỳ Yến - Bữa tiệc diệu kỳ”, bản thân vẫn phải học hỏi, thích nghi với nhiều yêu cầu mới.
“Công nghệ không giúp chúng tôi quay thêm vòng hay bớt đau khi thực hiện động tác, nhưng có thể làm nổi bật nghệ sĩ, hỗ trợ biểu đạt và tạo thêm cảm xúc trên sân khấu” - Thu Hương chia sẻ.

Với Thu Hương, khó khăn đầu tiên là ánh sáng. Khi biểu diễn theo cách truyền thống, sân khấu thường được chiếu sáng rõ. Khi kết hợp mapping, ánh sáng phải điều chỉnh để bảo đảm hiệu quả hình ảnh, khiến không gian tối hơn. Với diễn viên thực hiện động tác trên cao, việc khó quan sát gây lo lắng, ảnh hưởng tâm lý biểu diễn.
“Diễn viên phải trao đổi trực tiếp với lãnh đạo và đội ngũ công nghệ về từng vị trí, từng đoạn cần bổ sung ánh sáng. Phía kỹ thuật tiếp tục điều chỉnh để nghệ sĩ quan sát, thực hiện động tác mà vẫn giữ được hiệu quả trình chiếu. Ngay cả khi đã tập luyện, biểu diễn trước khán giả vẫn có khác biệt, đòi hỏi sự phối hợp được hoàn thiện qua thực tế” – diễn viên Thu Hương chia sẻ.
Bên cạnh thách thức, công nghệ hỗ trợ diễn viên về cảm xúc. Trước đây, khi được yêu cầu hình dung đang ở khu rừng hoặc dòng sông, nghệ sĩ phải tự tưởng tượng trong lúc tập trung cao độ để kiểm soát cơ thể và kỹ thuật. Khi bối cảnh hiện hữu bằng hình ảnh trên sân khấu, họ cảm nhận không gian rõ hơn, gần gũi hơn với câu chuyện.
Thu Hương cho biết kỹ thuật xiếc vẫn là nền tảng phải rèn luyện liên tục. Tuy nhiên, cách dàn dựng mới yêu cầu diễn viên học thêm biểu đạt bằng gương mặt, thể hiện cảm xúc và kết nối với khán giả. Có đoạn nghệ sĩ phải nói lời thoại ngay sau khi hoàn thành động tác tốn sức. Đó là thử thách buộc người biểu diễn trau dồi nhiều kỹ năng ngoài chuyên môn xiếc.

Ông Nguyễn Đức Quang - Nhà sáng lập - Giám đốc VietArt cho biết đơn vị dành khoảng bốn tháng chuẩn bị đồ họa và các giải pháp mapping panorama, mapping sàn, laser cho “Sơn thần thủy quái”.
Sự đón nhận của công chúng vừa là động lực, vừa tạo áp lực: chương trình tiếp theo phải đổi mới như thế nào để khán giả quay lại và thu hút người xem mới? VietArt đang cùng Liên đoàn nghiên cứu những giải pháp nhằm đổi mới trải nghiệm, từ khi khán giả bước vào rạp, check-in đến lúc thưởng thức chương trình.
Giám đốc VietArt cho rằng đơn vị công nghệ cần tham gia từ khi hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản để cùng trao đổi khả năng thực hiện, lựa chọn giải pháp phù hợp với nội dung và điều kiện biểu diễn. Với sân khấu tròn của Liên đoàn, ê-kíp đang tìm hiểu hình thức trình chiếu trên bề mặt cong, kết hợp hình ảnh với cấu trúc sân khấu. Một số phương án liên quan trực tiếp đến diễn viên nên cần thử nghiệm kỹ.
Theo ông Nguyễn Đức Quang, công nghệ phải phù hợp với quy mô, không gian từng nhà hát. Đơn vị dành đủ thời gian nghiên cứu, hoàn thiện, chỉ đưa vào biểu diễn khi giải pháp đủ độ chín và có thể phối hợp hiệu quả với nghệ sĩ.

Giữ ngôn ngữ nghệ thuật, đầu tư chiều sâu cho con người
NSND Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam cho rằng mỗi loại hình có yêu cầu thẩm mỹ, điều kiện biểu diễn riêng, vì vậy cần cân nhắc kỹ cách sử dụng công nghệ.
Với múa rối, có những nhân vật rất nhỏ, chuyển động tinh tế. Nếu hình ảnh trình chiếu quá lớn, quá mạnh, công nghệ có thể lấn át con rối. Khán giả đến nhà hát để cảm nhận cái hay, cái đẹp, sự độc đáo của con rối và nghệ thuật điều khiển rối; các yếu tố hỗ trợ phải tôn lên những giá trị ấy.
NSND Nguyễn Tiến Dũng cho biết, khó khăn của Nhà hát Múa rối Việt Nam nằm ở không gian. Có rạp khoảng 200 chỗ, sân khấu lớn nhất cũng chỉ khoảng 300 chỗ, khiến việc cân đối nguồn thu để chi trả công nghệ gặp trở ngại. Có trường học muốn đưa khoảng 500 học sinh đến xem nhưng nhà hát không thể đáp ứng, dù có nhu cầu thực tế.
Vị trí lắp đặt thiết bị, khoảng cách và tầm nhìn của người xem cũng là những giới hạn cần tính toán. Cùng một giải pháp công nghệ, hiệu quả ở không gian này chưa chắc phù hợp với không gian khác.
Về thiết bị, NSND Nguyễn Tiến Dũng mong muốn được đầu tư đồng bộ. Thực tế có khi được bổ sung thiết bị này thì thiết bị khác đã xuống cấp, khó kết hợp thành hệ thống hiệu quả. Riêng múa rối nước, môi trường ẩm và tần suất biểu diễn cao làm ánh sáng nhanh hư hỏng.
Để duy trì biểu diễn, nhà hát chủ động tìm đối tác hỗ trợ. Tuy nhiên, hoạt động ổn định lâu dài vẫn cần cơ chế đầu tư phù hợp.
Một vấn đề cấp thiết khác là nhân lực kỹ thuật. Nhà hát khó thu hút người được đào tạo âm thanh, ánh sáng vì chênh lệch thu nhập với thị trường; có thời điểm diễn viên phải kiêm nhiệm. Nhu cầu xây dựng đội ngũ truyền thông, marketing cũng rõ, nhưng khả năng chi trả còn hạn chế.
Theo ông, cùng với thiết bị phải có cơ chế đãi ngộ, giữ chân nhân lực. Đào tạo nghệ sĩ cần sát thực tiễn, bởi người mới về nhà hát thường phải tiếp tục học trong thời gian dài, riêng múa rối có những kỹ năng cần nhiều năm rèn luyện. Ông cũng bày tỏ lo ngại về nguy cơ thiếu hụt thế hệ kế cận của sân khấu truyền thống nếu không có chính sách để người trẻ lựa chọn, gắn bó với nghề.

Cùng nhấn mạnh vai trò con người, NSND Trung Hiếu, Giám đốc Nhà hát Kịch Hà Nội, cho rằng kinh phí quan trọng nhưng chất lượng tác phẩm phụ thuộc năng lực sáng tạo, tổ chức sản xuất và khai thác nguồn lực.
NSND Trung Hiếu chia sẻ, khi Nhà hát Kịch Hà Nội được sửa chữa năm 2019, đơn vị đề xuất cải tạo không gian, làm sân khấu quay và nâng, hạ. Do thực hiện trên kết cấu sẵn có, nhiều ý tưởng phải điều chỉnh. Cuối cùng, hệ thống gồm hai vòng đồng tâm, đường kính khoảng 8m và 3m, có thể quay ngược chiều; phần sân khấu nhỏ bên trong nâng khoảng 70–80cm.
Ê-kíp mất gần một năm cùng đội ngũ cơ khí tìm tòi, thử nghiệm. Khi vận hành, hệ thống vẫn cần bảo dưỡng thường xuyên vì thời tiết, độ co ngót vật liệu và tải trọng đều có thể gây ảnh hưởng. Câu chuyện cho thấy đầu tư công nghệ phải tính cả thiết kế, thi công, sử dụng và bảo trì.
Gần đây, với “Huyền tích Hồ Gươm”, nhà hát phối hợp đạo diễn Khải Anh và đơn vị công nghệ để kết hợp hình ảnh AI với diễn xuất trực tiếp. Các cảnh chiến trận, Lê Lai cứu chúa, không gian gắn với sự tích trả gươm được tính toán để mở rộng bối cảnh trên sân khấu có diện tích hạn chế, tạo sức hấp dẫn với khán giả trẻ.
Tuy nhiên, sân khấu có tính ước lệ, nhịp điệu riêng nên hình ảnh công nghệ phải được phối hợp trong phương án dàn dựng thống nhất. Từ quá trình làm tác phẩm lịch sử, ông đề xuất xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa, lịch sử để tra cứu trang phục, giáp trụ, cờ hiệu, kiến trúc và sinh hoạt từng thời kỳ.
NSND Trung Hiếu cũng lưu ý đào tạo phải đi đôi với giữ người. Người có năng lực cần được đãi ngộ tương xứng và bảo đảm đời sống. Thiết bị hiện đại chỉ phát huy hiệu quả khi có người vận hành, đội ngũ sáng tạo biết khai thác.

Xây dựng dữ liệu và phương thức đồng sáng tạo
Bí thư Đảng ủy Học viện Múa Việt Nam, TS, NSND Trần Ly Ly đặt vấn đề chuyển đổi số trong toàn bộ quá trình sáng tạo, tổ chức sản xuất, phân phối, quản lý và tiếp cận công chúng.
Theo bà, công nghệ làm thay đổi tư duy, phương thức sáng tạo, thành phần ê-kíp và cách tổ chức hoạt động. Mỗi loại hình có cách tiếp cận riêng: sân khấu tròn, mái vòm cao của xiếc thuận lợi để mở rộng không gian hình ảnh; múa rối lại đòi hỏi xử lý tinh tế để giữ ngôn ngữ của con rối.
Một yêu cầu quan trọng là xây dựng hệ thống dữ liệu nghệ thuật biểu diễn. Tư liệu cần giúp người nghiên cứu, người sáng tạo theo dõi sự biến đổi của loại hình qua từng giai đoạn, hiểu truyền thống để lựa chọn chất liệu cho tác phẩm mới. Các chương trình hôm nay cũng cần được lưu giữ để trở thành tư liệu cho thế hệ sau.
Cùng với dữ liệu tác phẩm, cần thông tin về khán giả, bán vé, quản lý và hoạt động của đơn vị. Tuy nhiên, NSND Trần Ly Ly nhấn mạnh tiêu chí đánh giá phải tính đặc thù: một chương trình hàng chục nghìn người xem và một buổi múa rối khoảng 100 khán giả đều có giá trị riêng, không thể chỉ dựa số lượng để đánh đồng hiệu quả.
NSND Trần Ly Ly kiến nghị Bộ VHTTDL xem xét, xây dựng bộ tiêu chí và danh mục dự án ưu tiên; các nhà hát kiểm kê tư liệu, rà soát hạ tầng, xác định nhu cầu. Đầu tư cần phân biệt hạ tầng cơ bản phục vụ lâu dài với công nghệ riêng cho từng tác phẩm; có cơ chế linh hoạt để lựa chọn, thuê và khai thác theo thời gian phù hợp.
Về đào tạo, bà đề xuất mô hình nhóm đồng sáng tạo, có không gian thử nghiệm để đạo diễn, công nghệ, âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật, âm nhạc cùng phát triển dự án ngay từ nhà trường. Đào tạo từng chuyên ngành cần đi cùng rèn luyện khả năng phối hợp, kiểm chứng giải pháp có phù hợp bản chất nghệ thuật hay không.
Nhân lực số cũng cần được có kỹ năng sử dụng thiết bị, bao gồm tổ chức dữ liệu, vận hành hệ thống, quản lý, phân phối vé và kết nối khán giả. Cùng với con người, phải có cơ chế hợp tác rõ ràng giữa nhà hát và doanh nghiệp, xác định quyền lợi, trách nhiệm, lợi ích để đồng hành lâu dài.

Các đơn vị nghệ thuật cần chủ động đưa số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu
Từ góc độ quản lý, Phó Cục trưởng Cục Thông tin điện tử và Chuyển đổi số Vũ Ngọc Trinh nhấn mạnh các nhà hát đang nắm giữ nguồn tài nguyên có giá trị: tác phẩm, hình ảnh, bản ghi, hiện vật, tư liệu sáng tạo và hoạt động của nghệ sĩ.
Các đơn vị nghệ thuật cần chủ động đưa số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu vào kế hoạch. Chẳng hạn, mỗi con rối có nguồn gốc, câu chuyện riêng; bên cạnh bảo quản hiện vật có thể số hóa bằng hình ảnh, mô hình 3D và hình thức phù hợp để lưu giữ, giới thiệu, khai thác.
Theo bà Vũ Ngọc Trinh, cần tính hai nhóm dữ liệu: phục vụ quản lý và phục vụ khai thác, phát huy giá trị. Kho dữ liệu được tổ chức tốt vừa hỗ trợ nghiên cứu, giáo dục, quảng bá, vừa mở ra cơ hội hợp tác, trao đổi, khai thác thương mại phù hợp.
Việc ghi hình tác phẩm, lựa chọn trích đoạn giới thiệu trực tuyến còn giúp người ở xa, người Việt Nam ở nước ngoài, công chúng quốc tế tiếp cận nghệ thuật. Tuy nhiên, phải quan tâm bản quyền, an toàn thông tin từ đầu, xác định rõ quyền chủ thể và phạm vi sử dụng.
Bà Vũ Ngọc Trinh cũng lưu ý nhà hát cần chủ động cung cấp chất liệu văn hóa, yêu cầu nghệ thuật cho đối tác. Nếu tài nguyên chưa được số hóa, chưa đưa vào khai thác, doanh nghiệp có thể sử dụng hình ảnh có sẵn, thiếu phù hợp với bản sắc tác phẩm.
Đới với việc cập nhật dữ liệu lên bản đồ số văn hóa Việt Nam đang được chuẩn bị ra mắt, các đơn vị cần xác định nhu cầu, đề xuất bố trí nhân lực quản trị, cập nhật và theo dõi khai thác dữ liệu. Các cơ quan phụ trách hạ tầng, bản quyền và đơn vị liên quan cùng hỗ trợ bảo vệ quyền lợi chủ thể.

Tài nguyên văn hóa được số hóa sẽ tạo thêm chất liệu cho nghệ sĩ
Ông Lê Anh Dũng, Giám đốc Trung tâm hạ tầng số VTC (Tổng Công ty VTC) cho rằng dữ liệu văn hóa được số hóa sẽ tạo thêm chất liệu cho nghệ sĩ, đạo diễn xây dựng hình ảnh mang bản sắc Việt Nam. Qua phát triển sản phẩm trò chơi văn hóa, VTC đã quét, thu thập hoặc khai thác dữ liệu số hóa di tích, di sản và nhận thấy ý nghĩa của nguồn tư liệu này.
Công nghệ cũng góp phần đưa tác phẩm đến công chúng thuận tiện hơn. Trong phối hợp phân phối vé trực tuyến với Liên đoàn Xiếc Việt Nam, khán giả có thể chủ động mua vé, chọn chỗ. Theo thông tin đại diện VTC được cập nhật, nhiều buổi diễn ngày thường đạt tỷ lệ lấp đầy hơn 90%, cuối tuần gần như kín chỗ. Kết quả có sự cộng hưởng giữa chất lượng chương trình và thuận tiện trong tiếp cận.
Ông Lê Anh Dũng đề xuất tăng liên kết nhà trường, đơn vị biểu diễn, doanh nghiệp để người học thực hành âm thanh, ánh sáng, đồ họa, công nghệ trình diễn từ khi còn đi học. Đơn vị cũng mong nghiên cứu nền tảng đào tạo nghệ thuật, hỗ trợ đăng bài giảng, video hướng dẫn, giao bài, nhận phản hồi; đồng thời hợp tác với nhà hát trong sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành.

Hoàn thiện cơ chế để hợp tác lâu dài
Từ nghiên cứu kinh nghiệm Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc và khảo sát trong nước, TS Trần Thị Minh Thu, Viện Văn hóa Nghệ thuật Thể thao và Du lịch Việt Nam, nhận diện ba điểm nghẽn: nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và tài chính.
Theo bà, những hướng ứng dụng quốc tế như biểu diễn trực tuyến, sân khấu nhập vai, AI, kết hợp nhiều công nghệ trong chương trình thực cảnh và đầu tư hạ tầng số cho thiết chế văn hóa gợi mở nhiều vấn đề cho Việt Nam. Để triển khai cần vai trò kiến tạo, hỗ trợ của Nhà nước, sự tham gia của doanh nghiệp và chủ động của đơn vị nghệ thuật.
Về nhân lực, nghệ sĩ cần hiểu khả năng, giới hạn của công nghệ để lựa chọn giải pháp phục vụ sáng tạo; kỹ sư cần hiểu tư duy thẩm mỹ, ngôn ngữ loại hình. Nếu hai lực lượng thiếu thấu hiểu, khó tạo hiệu quả nghệ thuật.
Qua khảo sát, bà nhận thấy có nhân sự kỹ thuật chưa được đào tạo đúng chuyên ngành; có người được đào tạo nhưng còn khoảng cách với công nghệ mới. Trong khi đó, nhà hát hạn chế khả năng thuê chuyên gia do chi phí cao. Vì thế, cần đồng thời bồi dưỡng công nghệ cho nghệ sĩ và kiến thức nghệ thuật cho người làm kỹ thuật, tạo môi trường cùng thử nghiệm.
Về tài chính, ứng dụng công nghệ cần kinh phí mua hoặc thuê giải pháp, thiết bị và chuyên gia. Với nguồn lực dàn dựng hạn chế, nhiều đơn vị khó tự đáp ứng. Theo bà, cần tháo gỡ vướng mắc trong hợp tác giữa Nhà nước, nhà hát, doanh nghiệp: Nhà nước kiến tạo cơ chế; nhà hát xây dựng nội dung, bảo đảm chuyên môn; doanh nghiệp cung cấp công nghệ, chuyên gia triển khai.
"Sự hợp tác cần chính sách khuyến khích, ưu đãi và phương thức chia sẻ lợi ích phù hợp, bảo đảm các bên cùng có lợi, có trách nhiệm với sản phẩm chung" - TS Trần Thị Minh Thu nhấn mạnh.

Tổng kết Tọa đàm, Tổng Biên tập Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Hoàng Hà đánh giá cao 12 lượt ý kiến phát biểu chất lượng, giàu thông tin thực tiễn.
Ông nhấn mạnh, điểm đáng quý của Tọa đàm là những câu chuyện sinh động từ chính người làm nghề. Đằng sau mỗi chương trình, vở diễn là quá trình tìm tòi, thử nghiệm, vượt khó, cùng những trăn trở và khát vọng cống hiến. Giữa lịch tập luyện, biểu diễn bận rộn, các lãnh đạo nhà hát, nghệ sĩ đã dành thời gian chia sẻ kết quả, bài học kinh nghiệm và những vấn đề cần tháo gỡ.
Đồng thời, Tổng Biên tập Hoàng Hà mong muốn các cơ quan báo chí tham dự tọa đàm tiếp tục lan tỏa những nỗ lực đổi mới, cổ vũ nghệ sĩ hăng say sáng tạo; phản ánh kịp thời khó khăn, vướng mắc, góp tiếng nói đề xuất hoàn thiện chính sách, để các nghệ sĩ yên tâm gắn bó, cống hiến với nghề. Những mô hình hiệu quả cũng cần được giới thiệu để các đơn vị tham khảo, học hỏi.
Các ý kiến, đề xuất tại tọa đàm sẽ được Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổng hợp, báo cáo Bộ VHTTDL.
