Trà Vinh.jpg

Nhiều nghệ sĩ Việt, với thiên tư truyền đạt thông điệp qua ngôn ngữ hội họa, họ cảm giác không nhất thiết hoặc không giỏi nói về mình hay tác phẩm của mình. Trà Vinh nằm trong số không nhiều người có độ nhất quán cao giữa quan điểm, thực hành sáng tác và lp ngôn. Nghĩa là họa sĩ có quan điểm nghệ thuật và thẩm mỹ tương đối rõ ràng, được hiển ngôn trong tác phẩm lẫn những phát biểu. Từ một phát biểu, mà đúng hơn, một “cách ngôn nghệ thuật” hơn 20 năm trước của anh (2002), người viết phát hiện sự hiển lộ một tam đoạn thức có thể cung cấp cái nhìn về triết lý người họa sĩ ẩn khuất này.

“Hội họa được sinh ra chỉ dừng lại ở sự cảm nhận, đấy là trạng thái của hội họa.” Đây là lập luận đầu tiên được Trà Vinh đưa ra, với tư cách là nguyên nhân thứ nhất (first cause) của hội họa anh. Cảm nhận là bước đầu tiên trong quá trình sáng tạo, nơi họa sĩ tiếp thu và phản ứng lại những yếu tố xung quanh bằng cảm xúc và tri giác. Ở đây, hội họa được miêu tả như một trạng thái thuần cảm nhận, một giai đoạn chưa có sự can thiệp của lý trí hay kỹ năng. Trong trạng thái này, người nghệ sĩ nhạy bén với mọi cảm xúc, màu sắc, hình ảnh và ánh sáng, nhưng chúng vẫn ở dạng thô, chưa được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Nghĩa là, hội họa ở giai đoạn này còn mang tính trừu tượng và tiềm năng, chưa hẳn đã là một sản phẩm hữu hình. Nó có thể là sự hòa quyện của cảm xúc nội tâm, sự đồng điệu với thế giới bên ngoài. Đây là nền tảng cho sự sáng tạo, chất cảm sơ nguyên của tác phẩm, nơi Trà Vinh “cảm nhận” thế giới trước khi chuyển chúng thành những hành động cụ thể trên vóc.

Trà Vinh, Tháng Tư, sơn mài, 2005 - 2024.jpg
Trà Vinh, Tháng Tư, sơn mài, 2005 - 2024

Sự thức nhận thế giới thông qua nghệ thuật của Trà Vinh hẳn đến từ yếu tố tiểu sử cá nhân và bối cảnh hàn vi: Con đường đến tới hội họa, tức Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, của Trà Vinh, và, ở một chừng mực nào đó, được biết đến nhiều hơn, người em trai Trà Phin của anh, không ít chông gai. Tại nơi vùng đất mỏ Cẩm Phả - Quảng Ninh lấm lem bụi than, giấc mơ hội họa của hai anh em đã được người cha nuôi lớn. Đối với Trà Vinh, hẳn ông là một người cha vĩ đại, người bất chấp ngoại cảnh khốn khó khắc nghiệt vẫn kiên quyết không để “giấc mơ con” đè nát “cuộc đời con.” Mọi thứ cảm thức tình yêu, trước và sau khi đến hội họa, phần nhiều đều xuất phát từ tình yêu cha con thuần nhị và dung dị nhất. Trước tiên là sự đáp đền, sau là cởi bỏ ràng buộc đời (chuyện kiếm cơm), nhìn quanh bằng lòng nhân ái và sau cùng là sáng tác nghệ thuật đích thực của mình.

Cách cảm thế giới và nhân sinh của Trà Vinh là thứ chi phối thể tài sáng tạo có phần đa mang của anh, từ những phong cảnh dù là quê hay là m đều phảng phất nét long đong bất định, cho tới những hình tượng nữ phiêu linh giữa chốn tiên cảnh y thảo thụ mộc, hoặc chân dung trên nhiều chất liệu khác nhau, chủ yếu là sơn mài. Biểu tượng nữ và thực vật trong nghệ thuật có mối liên hệ mật thiết, phản ánh sự gắn kết giữa người phụ nữ và tự nhiên, đại diện cho sự sinh sản, nuôi dưỡng và vẻ đẹp thuần khiết. Thực chất, đây là một mẫu số chung tồn hiện trong tâm thức người lẫn tín ngưỡng thời nguyên thủy. Thần thoại Hy Lạp có các nữ thần như Gaia, nữ thần Đất mẹ, và Demeter, nữ thần mùa màng, đều tượng trưng cho kh năng sinh sôi ny n ca t nhiên. Ngh thut Hy Lp và La Mã thường khc ha các n thn này vi các biu tượng cây c, mùa màng để tôn vinh vai trò ca người ph n trong vic duy trì s sng. Một khi biểu tượng đại diện và hiu triu cho sự sống, thì nó là biểu tượng tối thượng. Dịch chuyển sang văn hóa phương Đông, đặc bit là trong Pht giáo và Đạo giáo, hình tượng người ph n cũng gn lin vi thiên nhiên, hàm chỉ an nhiên, trí tuệ và hài hòa với vũ trụ. Các bức họa về Quán Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Quan Âm) thường được vẽ cùng với hoa sen - biểu tượng của sự thuần khiết và giác ngộ. Hoa sen, dẫu mọc từ bùn, nhưng vẫn nở hoa khiết trinh. Trong tranh thủy mặc truyền thống Trung Hoa, hình ảnh người phụ nữ cùng với hoa cỏ, cây trúc hay cây đào là phổ biến, nhằm tôn vinh sự thanh cao, mềm mại và sức sống mãnh liệt. Cõi nhân gian 1&2, Mùa xuân, Tiếng vọng là s giao hòa gia con người n và thiên nhiên c cây. Mc dù vy, khác với những hình tượng nữ quen thuộc trong truyền thuyết và thần thoại, Trà Vinh nhấn mạnh thể hiện bằng sự khôi nguyên, hoàn nhi (Tháng 4, Tháng 5, Tháng 11), cùng những cử chỉ khoáng đạt, mơn gợi trong khúc hoan ca sự sống. Anh tôn vinh v đẹp và sc mnh ca người ph n như là ngun sng, ngun cm hng cho thiên nhiên. Bởi thế, Giao cảm, không đơn thuần chỉ là tiêu đề một loạt tranh, mà trên hết, chính là trạng thái hội họa của Trà Vinh.

Trà Vinh, Chân trời nghiêng IV, sơn mài, 2016 - 2020.jpg
Trà Vinh, Chân trời nghiêng IV, sơn mài, 2016 - 2020

 “Hội họa được sinh ra bằng hành động với sự chăm chỉ, đó là hành vi hội họa.” Hội họa, rõ ràng, không chỉ dừng lại ở sự cảm nhận mà cần sự hành động và chăm chỉ để cụ thể hóa nhng cm xúc đó. Ở mệnh đề thứ hai này, “hành vi hội họa” chính là quá trình lao động của người nghệ sĩ. Không phải chỉ có cảm xúc hoặc cảm nhận là đủ; người nghệ sĩ cần kỹ năng, sự kiên nhẫn và nỗ lực không ngừng để chuyển những ý tưởng từ trí tưởng tượng thành một tác phẩm cụ thể. Hành động ở đây không chỉ đơn thuần là việc vẽ lên toan hay vóc mà còn là s rèn luyn liên tc, s nghiên cu và hoàn thin k năng. Quá trình này yêu cu s chăm ch, bi vì t ý tưởng ban đầu đến thành phm cui cùng là mt hành trình đầy th thách, đòi hi s kiên trì và cam kết ca chủ thể sáng tạo.

Để minh ha cho lun đim trên, Jackson Pollock vào thp niên 50 ca thế k trước gây chn động thế gii và kéo trung tâm nghệ thuật avant-garde về Mỹ nhờ triết lý hội họa hành động (action painting) của mình. Lối vẽ trực tiếp - theo bản năng và có động tính cao, bao gồm việc thao tác tự phát các nét cọ mạnh mẽ, quét và vận dụng hiệu ứng ngẫu nhiên của việc nhỏ giọt và đổ sơn lên toan - chẳng cho thấy một phần khả nhận nào của thế giới thông thường. Nhưng đằng sau những đường nét và lớp lang màu dày đặc, đó là hành động sáng to và năng lượng hoàn toàn th lý ca họa sĩ, để cho người xem biết được hành động thân thể lẫn tâm trí của họ khi dốc sức tạo ra một bức vẽ. Và vượt qua cả chiều cạnh động lực sinh học lẫn động lực vật lý, đi đến tận cùng là sự biểu kiến của cảm xúc.

Trà Vinh, Vòng đời, sơn mài, 2020 -2024.jpg
Trà Vinh, Vòng đời, sơn mài, 2020 - 2024

Chất liệu sở trường của Trà Vinh, sơn mài, đồng thời là một chất liệu của sự nhẫn nại, nhọc công và khổ hạnh. Bởi, khác với độ nhanh của acrylic hay sơn dầu, để có một thành phẩm sơn mài hoàn thiện đến mức hoàn hảo, cần sự đầu tư nỗ lực bền bỉ của họa sĩ, và thời gian tối thiểu từ nửa năm tới một năm để nó phát lộ đủ những phẩm tính lý tưởng của mình, như độ sâu, độ trong sáng và sức bền thường hằng. Quả nhiên, trong quá trình tạo tác một tác phẩm sơn mài, luôn đồng hiện hai yếu tố tưởng chừng mâu thuẫn nhau, một bên là sự biến thiên ngẫu nhiên của cảm hứng và ý muốn, còn bên kia lại là sự miệt mài lặp đi lặp lại của một công đoạn. Anh kiến giải rõ hơn trong một bài viết về lược sử tranh sơn mài truyền thống Việt: “Họa sĩ vẽ cũng tự cảm nhận và mài tới đâu thì dừng, để được hiệu quả như ý muốn. Trước đây là mài bằng đá, sau này mài bằng giấy ráp nước có số to, nhỏ tùy theo ý người thể hiện. Cao hơn nữa khi mài độ linh cảm tốt sẽ có nhiều bất ngờ. Sau đó lại tiếp tục đi nét lại những chỗ bị mất, và vẽ tiếp… Cứ vẽ rồi mài như thế đến khi mình thấy đúng ý thì dừng lại.” Có thể với chất liệu khác, trực họa “một phát ăn ngay” thể hiện sự ngẫu hứng cùng hiệu quả nghệ thuật tức thời, nhưng với sơn mài, hành động là tự tính và là điều kiện tiên quyết.

“Hành vi kỹ thuật” của Trà Vinh là phương cách anh gii-thế gii thành nhng Chân trời nghiêng. Hợp quần nhân sinh, thuyền, thùng phi vần vũ được chuyển hóa thành những khối kỷ hà bất quy tắc, thách thức lại chân trời tuyến tính. Ở chân trời kiến lập bằng sơn mài này, ta không dng li ở quan sát, mà phi quan trc, để bng mt quá trình nào đó tách ri các tác nhân và thuc tính trong mi liên h vi tng th hệ thống, rồi nhìn chúng trong mối liên hệ bộ phận với nhau. Từ Chân trời nghiêng 1 tới Chân trời nghiêng 5, dường như người xem được đi lại con đường của sự thay đổi cái nhìn về thực tại, chuyển hóa từ tự nhiên sang hình học, từ cận thực đến bến b phi thực. Rồi ở một đối cực khác, qua Giao cảm, bằng tư duy mảng, Trà Vinh phân hóa thế giới thành những thành tố bảng lảng, vô định trong không gian/không trung.

Trà Vinh, Trăng lên, sơn mài, 2007 - 2024.jpg
Trà Vinh, Trăng lên, sơn mài, 2007 - 2024

“Hội họa được sinh từ cảm nhận đến biết và hiểu rồi hành động được. Ấy chính là hội họa hiện thân.” Đây là hp đề cui cùng, sự gặp gỡ và kết nối hai giai đoạn trước đó - cảm nhận và hành động - dẫn đến việc tạo nên sự hoàn thiện của quá trình sáng tạo. Khi nghệ sĩ không chỉ cảm nhận mà còn “biết” và “hiểu” những gì mình đang làm, hành động của người này không còn là ngẫu nhiên mà đã mang tính có ý thức và có mục đích. Hội họa lúc này trở thành hiện thân, tức là một sự kết hợp hoàn hảo giữa trí tuệ, cảm xúc và kỹ năng. Hội họa hiện thân là khi người nghệ sĩ đạt đến một trạng thái cao hơn, nơi hành động sáng tạo không còn chỉ là kỹ thuật mà đã trở thành một phần bản thể của chính mình. Tác phẩm nghệ thuật lúc này là sự phản ánh trọn vẹn của tư duy, cảm xúc và hiểu biết sâu sắc của nghệ sĩ. Hội họa không chỉ là một hành vi tạo hình mà đã trở thành một phương tiện để thể hiện tâm hồn và triết lý của nghệ sĩ một cách chân thành nhất.

Với Trà Vinh, để đạt được “hội họa hiện thân”, anh đã xác lập một lộ trình: từ cảm nhận ban đầu, qua sự lao động chăm chỉ, đến sự hiểu biết và sáng tạo có ý thức. Khi cả ba yếu tố này hòa quyện với nhau, nghệ thuật mới thực sự đạt đến đỉnh cao, phản ánh trọn vẹn tâm hồn và triết lý sống của bất kỳ cá tính nghệ sĩ. Và ha sĩ nhấn mạnh rằng, nghệ thuật không chỉ là sự thể hiện kỹ thuật mà là một quá trình tinh thần, nơi mà mỗi hành động đều mang ý nghĩa và mục đích sâu sắc, tạo nên sự hiện thân thực sự của hội họa. Tính quá trình này luôn l din trong chui tác phm ca Trà Vinh, khi gia các tác phm luôn có mt mi liên h vn động tnh tiến cả về kỹ thuật, cái nhìn lẫn nội hàm cảm xúc. Lòng mẹNhững đứa trẻ, là những mảnh ghép nhất phiến. Nhưng tới Vòng đời, tam liên họa sơn mài được thực hiện trong vòng 16 năm (2004 - 2020), thì có thể coi là một tác phẩm lớn trong sự nghiệp của Trà Vinh, mang tầm vóc triết lý hiện sinh và suy niệm về bản thể người, mà người viết cho rằng, đây chính là Thánh đường linh thiêng nơi tín đồ ngoan đạo Trà Vinh tìm thấy chốn thuộc về. Và cứ thế, Trà Vinh đi…

Từ tam đoạn thức là cảm nhận, hành độnghiện thân, đó là phép bin chng hội họa để Trà Vinh tự khẳng định hoàn kết bản thân, phản ánh bản thể luận lẫn nguyên lý trong sáng tạo của mình.

Trà Vinh, Giao Cảm II, sơn mài, 2004 - 2005.jpg
Trà Vinh, Giao Cảm II, sơn mài, 2004 - 2005

PHẠM MINH QUÂN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 638, tháng 3-2026