Từ khóa: dân tộc Ngái; ngôn ngữ; văn hóa; bảo tồn.

Abstract: In the context of globalization, the Ngái ethnic group in Vietnam is facing the risk of losing its language and traditional cultural values due to its small population size and dispersed distribution. This paper provides an overview of existing studies on the Ngái people from historical, linguistic, and cultural perspectives, employing methods of analysis, synthesis, and comparative review of published materials. The findings indicate that current research remains fragmented and lacks systematicity, particularly in the fields of linguistics and in-depth cultural studies; key issues such as cultural transformation, ethnic identity, and preservation policies have not been sufficiently clarified. Based on these observations, the paper proposes an interdisciplinary approach that integrates fieldwork and the application of technology to preserve and promote linguistic and cultural values, thereby contributing to the scientific basis for policy formulation and the implementation of cultural preservation initiatives.

Keywords: Ngái ethnic group; language; culture; preservation.

Untitledjl.jpg
Thành lập Câu lạc bộ Sường cô nhằm góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc Ngái - Ảnh: baothainguyen.vn

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa ngày càng mạnh mẽ, nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ mai một bản sắc, đặc biệt là ngôn ngữ - yếu tố cốt lõi lưu giữ lịch sử, tri thức và giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng.

Dân tộc Ngái là một trong những nhóm có dân số ít nhất trong số 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, dân tộc Ngái là một trong những dân tộc có dân số rất ít, với 1.649 người. Trong đó, 988 người (59,92%) tập trung chủ yếu ở Thái Nguyên và Bình Thuận cũ (nay là tỉnh Lâm Đồng), còn lại 661 người (40,08%) sống rải rác ở các tỉnh, thành còn lại (Tổng cục Thống kê, 2019). Ngôn ngữ mà người Ngái sử dụng là tiếng Ngái, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, được cho là gần với phương ngữ Khách Gia và có sự ảnh hưởng của tiếng Việt.

Hiện nay, việc sử dụng tiếng Ngái đang suy giảm do tác động của đô thị hóa và sự phổ biến của tiếng Việt, dẫn đến nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống. Với quy mô dân số nhỏ và phân bố phân tán, công tác bảo tồn càng gặp nhiều khó khăn.

Với lý do đó, bài viết tổng quan tình hình nghiên cứu về dân tộc Ngái ở Việt Nam, đồng thời xác định khoảng trống nghiên cứu và đề xuất định hướng bảo tồn ngôn ngữ - văn hóa của cộng đồng này. Đồng thời, góp phần hệ thống hóa các hướng nghiên cứu hiện có, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách bảo tồn văn hóa đối với cộng đồng thiểu số rất ít người này.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết được thực hiện theo hướng tổng quan tài liệu nhằm hệ thống hóa và đánh giá các nghiên cứu về dân tộc Ngái ở Việt Nam trên các phương diện lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa. Nguồn tư liệu gồm hơn 20 công trình từ năm 1997 đến nay, bao gồm sách chuyên khảo, bài báo khoa học, luận văn, luận án và tham luận hội thảo trong và ngoài nước. Việc lựa chọn dựa trên các tiêu chí: (i) nội dung trực tiếp liên quan đến người Ngái hoặc nhóm Khách Gia (Hakka); (ii) độ tin cậy khoa học; (iii) phản ánh các hướng nghiên cứu tiêu biểu.

Trên cơ sở đó, bài viết sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống hóa các hướng nghiên cứu và làm rõ kết quả đạt được; đồng thời vận dụng so sánh, đối chiếu để chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt và khoảng trống nghiên cứu. Phương pháp đánh giá phê bình cũng được sử dụng nhằm xem xét tính đầy đủ, hệ thống và hạn chế của các công trình đã công bố.

Về khung phân tích, bài viết tiếp cận theo hướng liên ngành (dân tộc học, ngôn ngữ học, nghiên cứu văn hóa), tập trung vào ba trục nội dung: (i) lịch sử và nguồn gốc tộc người; (ii) đặc điểm và biến đổi ngôn ngữ; (iii) đời sống văn hóa và bản sắc. Trên mỗi trục, bài viết xem xét mức độ đầy đủ dữ liệu, cách tiếp cận lý thuyết và những vấn đề còn bỏ ngỏ, qua đó đánh giá chiều sâu và xu hướng nghiên cứu. Từ đó, bài viết cung cấp cái nhìn tổng thể về tình hình nghiên cứu dân tộc Ngái ở Việt Nam, đồng thời làm cơ sở đề xuất các định hướng nghiên cứu và bảo tồn ngôn ngữ - văn hóa trong bối cảnh hiện nay.

3. Kết quả và thảo luận

Tình hình nghiên cứu về dân tộc Ngái ở Việt Nam

Về tình hình nghiên cứu dân tộc Ngái, có thể nhận thấy, các công trình chủ yếu đề cập đến các khía cạnh sau đây:

 Lịch sử, nguồn gốc tộc người

Có thể nói, điểm nhấn trong nghiên cứu về dân tộc Ngái ở Việt Nam là bài viết Người Ngái ở Việt Nam: Lịch sử, văn hóa và ý thức về bản sắc (Nguyễn Văn Chính, 2022). Bài viết đã nghiên cứu sâu về người Ngái và có nhiều đóng góp mới, có giá trị cao về mặt học thuật. Tác giả đề cập đến những vấn đề như tình hình nghiên cứu về lịch sử tộc người của các tác giả trước đó; vấn đề tên gọi và thành phần tộc người; lịch sử định cư tại Việt Nam; dân số và địa bàn phân bố; đặc điểm ngôn ngữ học tộc người và đặc trưng văn hóa tộc người. Tác giả đã tập trung vào bản sắc tộc người và nhấn mạnh bản sắc thay đổi theo bối cảnh xã hội và lịch sử.

Trước công trình nghiên cứu này cũng đã có nhiều bài viết về người Ngái và Khách Gia (Nguyễn Trúc Bình, 1972, 1973; Châu Thị Hải, 2007; Việt Bàng, Diệp Trung Bình, Thi Nhị, 1979; Trần Hồng Liên, 2008; Tuấn Quỳnh, 1974; Nguyễn Thị Huyền Sâm, 2020…). Nhưng những bài viết đó chỉ đề cập đến những vấn đề đơn lẻ như thành phần tộc người, dân tộc học hay xã hội học… Bài viết của Nguyễn Văn Chính là bài viết đầu tiên mang tính tổng hợp, dựa trên những cứ liệu điều tra tin cậy và phương pháp nghiên cứu đúng đắn, cung cấp cho người đọc một bức tranh toàn cảnh về dân tộc Ngái ở Việt Nam.

Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Văn Chính cũng chỉ rõ: Ngái và Khách có nhiều điểm chung về văn hóa, ngôn ngữ và lịch sử, nhưng thường bị tách biệt theo tên gọi và địa danh; nhận thức về dân tộc của họ rất linh hoạt, thay đổi theo môi trường di cư và mối quan hệ với các nhóm dân tộc khác. Nghiên cứu này củng cố quan điểm rằng bản sắc dân tộc không cố định, mà là sản phẩm của các tương tác xã hội và lịch sử biến động.

Có thể thấy, những năm gần đây, nghiên cứu về dân tộc Ngái dưới góc độ lịch sử - nguồn gốc tộc người đã bắt đầu thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước - nổi bật nhất là những nghiên cứu của Nguyễn Văn Chính.

Ngôn ngữ

Bên cạnh các nghiên cứu về lịch sử và nguồn gốc, lĩnh vực ngôn ngữ cũng nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học. Tuy nhiên, cho đến nay, tiếng Ngái vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống. Chúng ta chỉ biết tiếng Ngái được xếp vào họ ngôn ngữ Hán Tạng, nhánh Hán (cùng với tiếng Hoa, tiếng Sán Dìu). Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào mô tả một cách chi tiết, toàn diện về hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ này. Những bài nghiên cứu về tiếng Ngái thường đề cập đến một vài vấn đề liên quan đến ngôn ngữ như: biến đổi ngôn ngữ, tiếp xúc ngôn ngữ thông qua các so sánh nhỏ về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa.

Bàn đến vấn đề nghiên cứu tiếng Ngái phải nhắc đến bài viết của Hsu Fumei (2019) Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ Ngái/ Hakka ở Việt Nam và khu vực. Nội dung bài viết tập trung vào hiện trạng và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ Ngái/Hakka (Khách Gia) tại Việt Nam. Tác giả kết luận rằng nghiên cứu về tiếng Ngái/Hakka ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, với số ít công trình chuyên sâu. Những gì có chỉ là các khảo sát nhỏ lẻ và so sánh hệ thống âm vị học và từ vựng. Ngoài việc cung cấp tổng quan quan trọng về hiện trạng nghiên cứu, bài viết còn nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ học thực địa và so sánh ngôn ngữ nhằm hiểu sâu biến thể Hakka tại Việt Nam và mối liên hệ với cộng đồng nói Hakka ở diện rộng hơn ở Đông Á. Bên cạnh đó, tác giả cũng so sánh âm vị học và từ vựng giữa tiếng Hakka của Trung Quốc với tiếng Việt, qua đó đánh giá sự tiếp xúc ngôn ngữ và ghi nhận các biến thể ngôn ngữ…

Trong một nghiên cứu khác, Hsu Fumei (2015) phân tích quá trình tiếp xúc ngôn ngữ giữa người Ngái với môi trường Việt ngữ tại Đồng Nai, đặc biệt tập trung vào những hiện tượng chuyển âm/ tách âm tố ngữ âm Hakka (tiếng Ngái). Tác giả khảo sát cách thức ngôn ngữ Ngái chịu ảnh hưởng từ tiếng Việt và môi trường đa ngôn ngữ, lý giải sự thay đổi âm vị theo hướng song ngữ, thể hiện tính biến động và thích nghi ngôn ngữ trong cộng đồng ngôn ngữ thiểu số.

Tác giả Nguyễn Văn Chính (2022) cũng bàn về khía cạnh ngôn ngữ của dân tộc này như: tiếng nói của người Ngái là tiếng Hakka, còn gọi là Hak-ka-fa hoặc Ngai-va; ngôn ngữ Hakka chia sẻ nhiều điểm tương đồng với tiếng Việt; các đặc điểm âm vị học giữa tiếng Hakka và tiếng Việt thể hiện mối liên hệ cổ xưa…

Hsu Fumei và Nguyễn Văn Chính (2019) so sánh biến đổi ngôn ngữ tiếng Ngái giữa các thế hệ sống ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam, xem xét từ góc độ tiếp xúc dân tộc. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tiếng Ngái ở miền Bắc đang trong quá trình biến đổi âm, ngôn ngữ này mang đặc trưng thế hệ cũng như vùng miền và chịu ảnh hưởng từ ngôn ngữ của nhóm dân tộc lân cận, khiến quá trình âm thay đổi diễn ra không đồng nhất.

Cũng so sánh với tiếng Việt, Võ Trung Định đã phân tích những dấu vết của tiếng Khách Gia trong tiếng Việt và đưa ra kết luận “càng đi sâu vào so sánh giữa hai ngôn ngữ trên các bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp thì nghiên cứu có thể nhận diện sự tương ứng khá rõ nét giữa hai thứ tiếng có vị trí địa lý gần nhau này”.

Có thể thấy, mối quan hệ giữa tiếng Ngái/ Khách Gia với tiếng Việt là đề tài thu hút được nhiều sự quan tâm. Gần đây, Hsu Fumei đã bắt đầu quan tâm đến mối quan hệ giữa tiếng Ngái/ Khách Gia với các ngôn ngữ cùng nhánh như tiếng Sán Dìu.

 Văn hóa

So với nhiều dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam, các nghiên cứu về người Ngái nói chung và văn hóa của cộng đồng này nói riêng vẫn còn khá hạn chế. Phần lớn các công trình chỉ đề cập đến người Ngái trong các nghiên cứu tổng quan về các dân tộc ở Việt Nam hoặc trong các nghiên cứu về nhóm cư dân nói tiếng Hán di cư ở khu vực Đông Nam Á như cuốn Các dân tộc Việt Nam (Đặng Nghiêm Vạn chủ biên) hay các nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Những tư liệu này giới thiệu người Ngái với những thông tin cơ bản về nguồn gốc, lịch sử di cư, địa bàn cư trú và một số đặc điểm văn hóa truyền thống (đời sống văn hóa, phong tục tập quán và sinh hoạt cộng đồng…), góp phần xác định vị trí của cộng đồng này trong bức tranh đa dạng tộc người ở Việt Nam.

Bên cạnh các công trình tổng quan, một số nghiên cứu chuyên sâu hơn đã tập trung vào vấn đề bản sắc văn hóa và ý thức tộc người của cộng đồng Ngái. Tiêu biểu là nghiên cứu Người Ngái ở Việt Nam: Lịch sử, văn hóa và ý thức về bản sắc của Nguyễn Văn Chính (2022). Công trình này phân tích quá trình hình thành bản sắc tộc người của người Ngái thông qua lịch sử di cư, ngôn ngữ và các đặc trưng văn hóa, đồng thời cho thấy nhận thức về bản sắc tộc người của cộng đồng này có tính linh hoạt và chịu ảnh hưởng của các mối quan hệ giao lưu với các nhóm dân cư khác trong khu vực. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người Ngái có những đặc trưng văn hóa và lịch sử riêng, không hoàn toàn đồng nhất với các nhóm người Hán ở Trung Quốc. 

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu hiện có đã bước đầu cung cấp những thông tin cơ bản về lịch sử, văn hóa và một số đặc điểm của đời sống tinh thần của người Ngái ở Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu vẫn mang tính khái quát hoặc chỉ tập trung vào một số khía cạnh riêng lẻ của văn hóa tộc người. Những nghiên cứu toàn diện và hệ thống về văn hóa của người Ngái, đặc biệt là các nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa trong bối cảnh hiện đại, vẫn còn khá ít. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về văn hóa và đời sống tinh thần của người Ngái là cần thiết nhằm góp phần bổ sung tri thức về một cộng đồng dân tộc ít người trong bức tranh văn hóa đa dạng của Việt Nam.

Đặc biệt, các vấn đề như sự biến đổi văn hóa trong bối cảnh hiện đại, vai trò của ngôn ngữ trong việc duy trì bản sắc văn hóa, cũng như các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của người Ngái vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Điều này cho thấy cần có thêm những nghiên cứu chuyên sâu hơn nhằm làm rõ đặc điểm văn hóa của người Ngái cũng như góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của cộng đồng này trong bối cảnh xã hội hiện nay.

Những vấn đề chưa được giải quyết

 Vấn đề ngôn ngữ và bản sắc tộc người

Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về đặc điểm ngôn ngữ học (mô tả về hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp…) của tiếng Ngái nói chung cũng như các phương ngữ người Ngái sử dụng (Khách Gia, Hẹ…) nói riêng. Hơn nữa, mối quan hệ giữa tiếng Ngái với các ngôn ngữ cùng nhánh trong họ Hán Tạng nếu được nghiên cứu và làm sáng tỏ thì sẽ góp phần có được cái nhìn chính xác về lịch sử tộc người cũng như mối quan hệ mang tính cội nguồn. Bên cạnh đó, sự tiếp xúc và biến đổi về ngôn ngữ - văn hóa do địa bàn sinh sống xen kẽ với các dân tộc khác như người Hoa, Tày, Nùng… cũng cần phải được xem xét để thấy được ảnh hưởng của bối cảnh xã hội đến ngôn ngữ và văn hóa của người Ngái; và chính các yếu tố này sẽ quyết định đến ý thức dân tộc của họ. Ngoài ra, các điều tra ngôn ngữ - xã hội học về mức độ sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Ngái tại thời điểm hiện tại, quá trình chuyển đổi sang tiếng Việt hay các ngôn ngữ phổ thông vùng, dấu hiệu mai một hay phục hồi của ngôn ngữ này… cũng rất cần được khảo sát để xem xét về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bản sắc của tộc người này.

 Vấn đề về văn hóa vật thể và phi vật thể

Hiện, các công trình nghiên cứu ghi chép đầy đủ về văn hóa dân gian của người Ngái như truyền thuyết, cổ tích, truyện kể, thành ngữ, tục ngữ, văn học truyền miệng hay các bài dân ca (sường cô), dân vũ…; phong tục, tín ngưỡng, nghi lễ đặc trưng… còn rất hạn chế. Trang phục truyền thống cũng như kiến trúc nhà ở cũng không được phân biệt một cách rõ ràng với các nhóm lân cận. Điều này làm cho nghiên cứu khó có thể nhận diện và phân biệt những yếu tố văn hóa đặc thù với các yếu tố ảnh hưởng bởi các nhóm dân tộc khác. Những khía cạnh nói trên tuy đã được đề cập đến nhưng vẫn chưa được sưu tầm và lưu giữ một cách đầy đủ, hệ thống.

 Vấn đề về lịch sử di cư và quan hệ dân tộc của người Ngái

Vấn đề này có lẽ được nhiều nhà khoa học quan tâm hơn cả. Tuy nhiên, vẫn rất cần những nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ hơn với các tài liệu lịch sử và bằng chứng dân tộc học cụ thể về lịch sử di cư vào Việt Nam của người Ngái hay mối quan hệ giữa nhóm người này với các nhóm Hán khác (Hoa, Sán Dìu) hoặc các dân tộc thiểu số khác (Tày, Nùng…). Những nghiên cứu này khắc họa một bức tranh toàn cảnh về lịch sử tộc người, quan hệ mang tính cội nguồn cũng như quá trình hình thành và phát triển cộng đồng của người Ngái ở Việt Nam.

Vấn đề chính sách và nhận thức xã hội

Vấn đề chính sách và nhận thức xã hội cũng cần nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu dân tộc học - xã hội học. Là một dân tộc thiểu số rất ít người, người Ngái ít được đại diện trong các chương trình phát triển, giáo dục, bảo tồn văn hóa của Nhà nước. Việc thiếu các tổ chức cộng đồng, thiếu đại diện chính thức càng làm cho tiếng nói của người Ngái bị hạn chế trong đời sống chính trị - xã hội. Thêm vào đó, nhận thức của cộng đồng người Ngái về quyền lợi văn hóa và bản sắc dân tộc còn hạn chế… Tất cả những yếu tố trên dễ dẫn đến nguy cơ ngôn ngữ - văn hóa - ý thức tự giác dân tộc của nhóm người này ngày càng mai một.

 Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo

Từ những khoảng trống nghiên cứu đã chỉ ra, cần định hướng nghiên cứu một cách hệ thống các lĩnh vực: ngôn ngữ, văn hóa truyền thống, biến đổi văn hóa trong bối cảnh hiện đại, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bản sắc, cũng như bảo tồn văn hóa người Ngái gắn với phát triển cộng đồng. Các định hướng này được cụ thể hóa bằng những nội dung nghiên cứu cụ thể.

Thứ nhất, người nghiên cứu cần sử dụng phương pháp điền dã ngôn ngữ - xã hội học cùng với các thủ pháp như quan sát, phỏng vấn… tại các địa bàn có người Ngái sinh sống để khảo sát về các đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, cấu trúc xã hội của tộc người này. Cũng nhờ phương pháp này mà ta có thể thu thập được các tài liệu về ngôn ngữ, lịch sử di cư, thành phần tộc người, kho tàng văn hóa dân gian… của người Ngái.

Riêng các nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ, cần có các công trình điều tra ngôn ngữ học thực địa về tiếng Ngái và phương ngữ của nó, bao gồm ngữ âm - từ vựng - ngữ pháp…; khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ của các thế hệ, quá trình chuyển đổi ngôn ngữ cũng như vai trò của tiếng Ngái tại địa bàn sinh sống hay nhu cầu giáo dục tiếng mẹ đẻ của họ.

Để khảo sát về văn hóa dân gian và văn hóa phi vật thể, nghiên cứu cần triển khai các chương trình sưu tầm, ghi âm, ghi hình các yếu tố văn hóa dân gian như truyện cổ, thành ngữ - tục ngữ, phong tục, tín ngưỡng, nghi lễ, âm nhạc, lễ hội… của người Ngái. Đồng thời, sự tương đồng và khác biệt với văn hóa Tày, Nùng, Hoa cần phải được phân tích nhằm phân định rõ bản sắc văn hóa tộc người của dân tộc Ngái.

Thứ hai, việc ứng dụng các lý thuyết về bản sắc và đa văn hóa như Khung lý thuyết của Fredrik Barth về ranh giới dân tộc; Lý thuyết về bản sắc lai ghép, bản sắc di cư của Stuart Hall, Homi Bhabha nhằm phân tích sự hình thành và thay đổi của bản sắc trong bối cảnh đa văn hóa, đặc biệt là trong các tình huống di cư và giao thoa văn hóa để áp dụng cho trường hợp người Ngái ở Việt Nam. Việc nghiên cứu lịch sử di cư và quan hệ tộc người cần kết hợp sử liệu, truyền thuyết dân gian cũng như phương pháp nhân học lịch sử để xác định các làn sóng di cư và quan hệ họ hàng giữa người Ngái với các nhóm tộc người khác. Đây là cơ sở để xác định danh tính và vị trí của người Ngái trong cấu trúc dân tộc Việt Nam.

Thứ ba, các điều tra xã hội học cần có những khảo sát định lượng và định tính về đời sống xã hội, trình độ học vấn, thực trạng sử dụng ngôn ngữ, nhu cầu giáo dục ngôn ngữ, khả năng tiếp cận dịch vụ công… và mức độ tham gia xã hội của người Ngái. Kết quả khảo sát này là cơ sở cho việc đề xuất các chính sách phù hợp nhằm bảo tồn ngôn ngữ - văn hóa, hỗ trợ phát triển bền vững và nâng cao ý thức cộng đồng về bản sắc dân tộc của người Ngái.

Thứ tư, việc hợp tác quốc tế và liên ngành cần được đẩy mạnh. Chúng ta có thể thiết lập một mạng lưới nghiên cứu và bảo tồn bằng cách khuyến khích cũng như tạo điều kiện cho các trường đại học, các viện nghiên cứu, các bảo tàng, chính quyền địa phương cùng hợp tác xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện hình ảnh, âm thanh, văn bản liên quan đến người Ngái ở Việt Nam và người Ngái ở Đài Loan (Trung Quốc), Trung Quốc, Malaysia… Song song với công việc đó là xây dựng các mô hình cộng đồng bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế, xã hội.

Nghiên cứu dân tộc Ngái theo hướng liên ngành (dân tộc học, ngôn ngữ học, sử học, xã hội học) là cách tiếp cận toàn diện nhằm hiểu rõ cộng đồng từ nhiều góc độ. Hướng này kết hợp khảo sát thực địa với tư liệu và phân tích chuyên sâu, lấy người Ngái làm trung tâm, tránh nghiên cứu rời rạc và áp đặt. Tính liên ngành thể hiện ở việc: từ ngôn ngữ hiểu văn hóa; từ lịch sử lý giải biến đổi văn hóa; từ xã hội học đánh giá chính sách và mức độ hội nhập; và từ dân tộc học đề xuất giải pháp bảo tồn bản sắc.

Thứ năm, cần phải ứng dụng công nghệ vào nghiên cứu dân tộc Ngái. Đây là xu hướng tất yếu giúp tăng độ chính xác, tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả và tính trực quan của nghiên cứu. Cụ thể, những việc cần làm trong lĩnh vực này như: lập cơ sở dữ liệu số về dân tộc Ngái; sử dụng GIS (Hệ thống thông tin địa lý); ứng dụng công nghệ xử lý âm thanh - ngôn ngữ; ứng dụng công nghệ hình ảnh và 3D; khai thác dữ liệu lịch sử bằng số hóa tư liệu; triển khai khảo sát và phân tích dữ liệu bằng công nghệ; kết hợp công nghệ tương tác - mạng xã hội; ứng dụng AI/ML (trí tuệ nhân tạo, học máy); bảo mật và chia sẻ dữ liệu…

Tuy nhiên, những phương pháp nghiên cứu truyền thống vẫn có những giá trị riêng của nó. Việc kết hợp phương pháp điền dã, điều tra xã hội học, nghiên cứu liên ngành với ứng dụng công nghệ vào việc nghiên cứu dân tộc Ngái sẽ đem đến cho chúng ta những kết quả tin cậy và có giá trị khoa học cao.

Có thể thấy, các vấn đề như biến đổi văn hóa, vai trò của ngôn ngữ và công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của người Ngái vẫn chưa được quan tâm đầy đủ. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu theo các hướng: hệ thống ngôn ngữ - văn hóa truyền thống, biến đổi văn hóa và giải pháp bảo tồn. Những nghiên cứu này không chỉ bổ sung tri thức khoa học mà còn góp phần gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa của một dân tộc ít người trong bức tranh đa dạng văn hóa Việt Nam.

4. Kết luận

Dân tộc Ngái là một cộng đồng nhỏ nhưng giữ vị trí quan trọng trong bức tranh đa dạng văn hóa Việt Nam; việc nghiên cứu toàn diện không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn góp phần đảm bảo quyền văn hóa và sự hiện diện của họ. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay còn rời rạc, thiếu chiều sâu và chưa hệ thống, đặc biệt ở các khía cạnh như lịch sử di cư, quan hệ tộc người, ngôn ngữ, bản sắc văn hóa, cũng như các yếu tố xã hội và chính sách. Bài viết đã chỉ ra những khoảng trống này, đồng thời đề xuất hướng tiếp cận liên ngành (dân tộc học, ngôn ngữ học, sử học, xã hội học) kết hợp điền dã và ứng dụng công nghệ hiện đại (số hóa dữ liệu, GIS, mô hình 3D, xử lý ngôn ngữ, trí tuệ nhân tạo) nhằm bảo tồn và phân tích hiệu quả giá trị văn hóa, ngôn ngữ của người Ngái.

Việc nghiên cứu người Ngái không chỉ dừng ở mô tả mà còn góp phần tái khẳng định vị trí của họ trong không gian văn hóa, xã hội Việt Nam, làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách bảo tồn và phát triển bền vững. Bài viết hy vọng mở ra các hướng nghiên cứu sâu hơn và thúc đẩy những chương trình thực địa thiết thực đối với một cộng đồng đang đứng trước nguy cơ bị lãng quên trong bối cảnh hội nhập.

__________________________

Tài liệu tham khảo

1. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. (1997). Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

2. Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên). (2000). Các dân tộc Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Hsu, F. (2015). Tiếp xúc ngôn ngữ và biến đổi ngôn ngữ: Trường hợp tiếng Ngái ở Đồng Nai, Ngôn ngữ học Việt Nam 30 năm đổi mới và phát triển. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

4. Hsu, Fumei, Nguyễn Văn Chính. (2019). A Comparative Study of Generational Changes of Ngai Language between the Northern and the Southern Vietnam from the Perspective of Ethnic Contact (Nghiên cứu so sánh về sự thay đổi ngôn ngữ Ngái qua các thế hệ giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam từ góc độ tiếp xúc dân tộc). Hội thảo về người Ngái, Đại học Yuan Ze, Đài Loan (Trung Quốc).

5. Hsu, Fumei. (2019). Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ Ngái/ Hakka ở Việt Nam và khu vực. Tham luận tọa đàm, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.

6. Ito, M. (2018). We Are Not the Hoa: Vietnamese state policies towards the ‘Chinese’ in Vietnam and the modern history of the Ngai living in northern rural areas (Chúng tôi không phải là người Hoa: Chính sách nhà nước Việt Nam đối với người ‘Hoa’ ở Việt Nam và lịch sử hiện đại của người Ngái sinh sống ở vùng nông thôn phía Bắc). Asian and African Area Studies. 17(2).

7. Kawai, H. (2018). The Ngai people as a trans-border ethnic group: Reconsidering the Han ethnic groups in Vietnam (Người Ngái như một nhóm dân tộc xuyên biên giới: Xem xét lại các nhóm dân tộc Hán ở Việt Nam). Asian and African Area Studies. 17(2).

8. Nguyễn Văn Chính. (2022). Người Ngái ở Việt Nam: Lịch sử, văn hóa và ý thức về bản sắc. Tạp chí Dân tộc học. Số 2.

9. Nguyễn Văn Chính. (2018). Memories, migration and the ambiguity of ethnic identity: The cases of Ngái, Nùng and Khách in Vietnam (Ký ức, quá trình di cư và sự mơ hồ của bản sắc tộc người: Trường hợp cộng đồng người Ngái, Nùng và Khách tại Việt Nam). Asian and Ethnic Studies.

10. Tổng cục Thống kê. (2019). Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.

11. Võ Trung Định, Dấu tích tiếng Khách Gia trong tiếng Việt. https://csdlkhoahoc.hueuni.edu.vn/data/article/tieng_Hakka_trong_tieng_Viet.pdf

Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/3/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 14/4/2026; Ngày duyệt đăng: 26/4/2026.

TS NGUYỄN THỊ KIM THOA

Nguồn: Tạp chí VHNT số 642, tháng 5-2026