Phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam - Nguồn: dangcongsan.vn.jpg
Phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam - Nguồn: dangcongsan.vn

1. Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam

Ngay sau khi Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam (Quyết định số 07-QĐ/TW ngày 25/2/2026) nhằm chỉ đạo, lãnh đạo và quán triệt việc thực hiện nghị quyết của Đảng. Việc thành lập Ban Chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng nhằm quán triệt tinh thần, quan điểm của Đảng về phát triển nền văn hóa dân tộc, đồng thời nắm bắt kịp thời tình hình thực tiễn với những vấn đề mới, phức tạp nảy sinh, từ đó đưa ra nhiệm vụ, giải pháp kịp thời, tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, thúc đẩy văn hóa phát triển.

Cùng với việc thành lập Ban Chỉ đạo, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 08-QĐ/TW ngày 2/3/2026 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam.

Về chức năng, Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, giải pháp về phát triển văn hoá Việt Nam.

Về nhiệm vụ, Ban Chỉ đạo có trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định chủ trương, định hướng về xây dựng, thực hiện pháp luật, cơ chế, chính sách, giải pháp về phát triển văn hoá Việt Nam; Chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp với các cấp uỷ, tổ chức đảng hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về phát triển văn hoá; rà soát cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực văn hoá để kiến nghị và yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xem xét, thực hiện; Chỉ đạo, điều phối chiến lược, liên kết nguồn lực, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW và bảo đảm thống nhất, phát huy nguồn lực với các nghị quyết khác; Chỉ đạo các cấp uỷ và tổ chức đảng trực thuộc Trung ương kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên có hành vi trì hoãn, cản trở hoặc không thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển văn hoá, không thực hiện phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác phát triển văn hoá Việt Nam; Chỉ đạo định hướng thông tin, tuyên truyền về chủ trương, định hướng, giải pháp về phát triển văn hoá. Chỉ đạo xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng việc tuyên truyền về phát triển văn hoá làm phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Bên cạnh đó, tổ chức sơ kết, tổng kết và định kỳ hoặc đột xuất báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả về phát triển văn hoá Việt Nam và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo.

Quy định nêu rõ, Ban Chỉ đạo có quyền yêu cầu các tổ chức đảng, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền báo cáo về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và kết quả thực hiện chủ trương, định hướng, giải pháp về phát triển văn hoá; yêu cầu các tổ chức đảng, tỉnh uỷ, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các chủ trương, định hướng, giải pháp về phát triển văn hoá Việt Nam.

2. Tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết

Vào ngày 25/2/2026, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp với hình thức trực tuyến tới 27.284 điểm cầu ở Trung ương, các tỉnh, thành phố, xã, phường, đặc khu, tổ chức đảng trong quân đội, công an và doanh nghiệp, với hơn 2 triệu đại biểu tham dự.

Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa - nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, kết tinh trí tuệ Việt Nam và là động lực dẫn dắt sự phát triển dân tộc, độc lập, tự chủ, tự cường. Văn hóa không chỉ đồng hành với phát triển, mà văn hóa phải đứng ở "vị trí dẫn đường" , là nền tảng định hình chất lượng con người và chất lượng quốc gia. Nếu kinh tế quyết định năng lực đi nhanh, thì "văn hóa quyết định khả năng đi xa". Nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất, thì văn hóa tạo ra bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh tinh thần để đất nước vượt qua thử thách và vươn lên.

Đề cập đến những nguy cơ, thách thức đối với nền văn hóa dân tộc, Tổng Bí thư cho rằng, thách thức lớn nhất đối với văn hóa hôm nay không chỉ là thiếu nguồn lực, mà là nguy cơ xói mòn hệ giá trị, lệch chuẩn hành vi, thực dụng hóa, bạo lực ngôn từ, tin giả, tin thất thiệt và sự tấn công của những yếu tố độc hại trong không gian mạng. Nếu không kịp thời chấn hưng văn hóa, chúng ta có thể tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn nhưng sẽ thiếu điểm tựa dài hạn. Con người có thể giàu lên nhưng nghèo đi về chuẩn mực, về lòng tự trọng, về trách nhiệm công dân và về khát vọng cống hiến.

Để xây dựng, phát triển và chấn hưng nền văn hóa dân tộc, Tổng Bí thư nhấn mạnh 05 nhiệm vụ trọng tâm cần phải khai thực hiện, đó là: (1) Xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới; (2) Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh là nhiệm vụ mang tính nền tảng; (3) Giáo dục và phát triển con người là trục xuyên suốt của chấn hưng văn hóa; (4) Phát triển công nghiệp văn hóa để văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực kinh tế, vừa là sức mạnh mềm của quốc gia; (5) Xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị, đây là gốc của niềm tin xã hội.

Biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam - Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội.jpg
Biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam - Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

3. Xây dựng, ban hành chương trình hành động

Nhằm quán triệt và cụ thể hóa chủ trương của Đảng, đưa nghị quyết vào cuộc sống, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW với mục tiêu: Thể chế hóa và thực hiện đầy đủ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 80-NQ/TW. Xác định nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai đồng bộ, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW để văn hóa thực sự trở thành nền tảng vững chắc và sức mạnh nội sinh của dân tộc, vừa góp phần phát triển nhanh, bền vũng, hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước, vừa hình thành nền văn hóa xứng tầm một quốc gia phát triển, định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, văn hiến rực rỡ ngàn đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại.

Để cụ thể hóa mục tiêu trên, Chính phủ đề ra 08 nhiệm vụ trọng tâm, đó là: (1) Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới; (2) Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa; (3) Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, văn minh; (4) Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa; (5) Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm, nhận diện và ứng xử thích hợp với tài nguyên văn hóa; (6) Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia, gắn với phát triển du lịch văn hóa; (7) Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới; (8) Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.

4. Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá, thúc đẩy văn hóa phát triển

Nhằm tạo môi trường, hàng lang pháp lý thuận lợi, thông thoáng, khuyến khích và thu hút các chủ thể tham gia phát triển văn hóa, ngày 24/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết đã đưa ra nhiều quyết sách quan trọng, tháo gỡ những rào cản, điểm nghẽn, tạo động lực cho văn hóa phát triển. Một số chính sách nổi bật được đề cập trong Nghị quyết, tiêu biểu như: Nghị quyết quy định ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam; người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển để thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ.

Nghị quyết đề ra cơ chế, chính sách đột phá nhằm thu hút nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa với nhiều chính sách ưu đãi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào một số lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm của văn hóa, như chính sách về miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp; chính sách ưu đãi về đất đai;  miễn thuế nhập khẩu, phí hải quan, thuế giá trị gia tăng đối các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa, bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị đang ở nước ngoài được tổ chức, cá nhân mua, đấu giá, đưa về Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận để trưng bày theo quy định của Luật Di sản văn hóa hoặc tặng cho, chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.

Nghị quyết cũng đã quy định cụ thể cơ chế ưu đãi đầu tư; chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống và bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm; Chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng, nhân lực đặc thù về nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao; Quy định cơ chế đặt hàng, khoán chi đối với hoạt động sáng tạo văn hóa sử dụng ngân sách nhà nước; Chính sách quảng bá, xúc tiến, phát triển sản phẩm, thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam; Chính sách chuyển đổi số và phát triển hạ tầng văn hóa số; thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật.

Để phát triển văn hóa, nguồn nhân lực chất lượng cao có nghĩa đặc biệt quan trọng. Nghị quyết cho phép đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao được áp dụng cơ chế tuyển dụng không qua thi tuyển đối với: (a) Người học được đào tạo, tốt nghiệp ở trong nước và nước ngoài thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao có thành tích chuyên môn đặc biệt xuất sắc; (b) Vận động viên, nghệ sĩ tài năng đạt huy chương, giải thưởng cấp quốc gia, khu vực, quốc tế. Người được tuyển dụng theo quy định tại khoản này được hưởng chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài theo quy định của pháp luật.

Viên chức, người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập nghệ thuật biểu diễn, đơn vị nghệ thuật biểu diễn thuộc lực lượng vũ trang được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn theo lộ trình với mức phụ cấp ưu đãi nghề từ mức 40% đến 60% mức lương hiện hưởng.

Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Nghị quyết của Quốc hội đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương, nhất là cấp xã, phường trong việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thành cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp với điều kiện và tính đặc thù văn hóa vùng miền. Nghị quyết nhấn mạnh:

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: (a) Bố trí quỹ đất cho xây dựng các công trình văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí các cấp, không gian trưng bày tác phẩm nghệ thuật tại nơi công cộng; (b) Ưu tiên bố trí quỹ đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước được giao quản lý, trụ sở công dôi dư để thu hút các dự án đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, thể thao; cho tổ chức, cá nhân thuê trụ sở công dôi dư và công trình thuộc sở hữu nhà nước để hoạt động văn hóa, thể thao; (c) Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuê bất động sản khác là tài sản công đối với nhà xuất bản, cơ sở sản xuất phim tài liệu và khoa học 100% vốn nhà nước trên địa bàn theo quy định của Chính phủ.

Đối với chính quyền địa phương thực hiện thí điểm mô hình đô thị di sản theo tiêu chí do Chính phủ quy định được quyết định các cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, phí, lệ phí trên địa bàn đối với hoạt động nhằm mục đích khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa.

Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định giao tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở; kiểm tra, giám sát bảo đảm hoạt động thường xuyên, hiệu quả.

Tính chất phân quyền và trao trách nhiệm cho chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ cở là bước tiến trong tư duy lập pháp, phù hợp với mô hình quản trị hiện đại khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.

Việc thực thi đồng bộ các chính sách đột phá trong mối tương quan, phù hợp với cơ chế, chính sách pháp luật hiện hành sẽ tạo nền tảng, bệ phóng quan trọng để văn hóa không ngừng phát triển, có nhiều sáng tạo, cống hiến, đóng góp xứng đáng vào quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước trong bối cảnh mới.

Có thể khẳng định rằng ngay sau khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV được thông qua, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc bằng tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Chính sách, cơ chế đã có và đang được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn. Tuy nhiên, điểm mấu chốt nhất là khâu tổ chức thực hiện. Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cần khẩn trương xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai cụ thể, phân công rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ kết quả và rõ trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu. Kiên quyết chấn chỉnh tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm hình thức, qua loa. Bằng những biện pháp quyết liệt, tư duy chiến lược, tinh thần hành động của cả hệ thống chính trị, nền văn hóa dân tộc sẽ có những bước phát triển mới, chuyển hóa mạnh mẽ tài nguyên văn hóa thành động lực, sức mạnh mềm của quốc gia để cùng với các nguồn lực, các lĩnh vực khác thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

TS NGUYỄN HUY PHÒNG

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 

Nguồn: Tạp chí VHNT số 643, tháng 5-2026