tong tuyen cu_result.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bỏ phiếu bầu cử ngày 6/01/1946 - Nguồn: qptd.com.vn

Từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên 

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra  đời, ngày 3/9/1945, nghĩa là chỉ một ngày sau khi Người  đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam  Dân chủ Cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo,  tôn giáo, dòng giống. Việc chuẩn bị cho tổng tuyển cử đã  diễn ra rất khẩn trương trong điều kiện thù trong, giặc  ngoài, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hết sức khó khăn.  Chúng ta vừa kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải  quyết những nhiệm vụ rất cấp bách hàng ngày đặt ra, vừa  thực hiện sách lược tạm hòa hoãn với quân Tưởng ở miền  Bắc; đồng thời lại vừa phải đấu tranh để chống lại những hành động phá hoại điên cuồng của chúng. Ngày  8/9/1945, Chính phủ ta đã ra Sắc lệnh số 14/SL về việc  Tổng tuyển cử để bầu quốc dân đại hội, thể hiện tính cấp  thiết và ý nghĩa quan trọng của việc cần phải tổ chức ngay  cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước. Để thực thi công việc  hệ trọng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành một loạt  sắc lệnh: Sắc lệnh ngày 17/10/1945 về bầu cử quốc dân đại  hội; Sắc lệnh số 71 ngày 2/12/1945 bổ khuyết Điều thứ II,  Chương V Sắc lệnh ngày 17/10/1945 về thể lệ Tổng tuyển  cử; Sắc lệnh số 72 ngày 2/12/1945 bổ khuyết một số đại  biểu các tỉnh và thành phố theo Sắc lệnh ngày 17/10/1945  về cuộc Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 76 ngày 18/12/1945  hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6/1/1946. 

Trong bối cảnh lịch sử đó, việc Tổng tuyển cử bầu  Quốc hội có ý nghĩa trọng đại về xây dựng Nhà nước,  khẳng định sức mạnh và cơ sở pháp lý của Nhà nước cách  mạng. Việc tuyên truyền, hướng dẫn công dân tham gia  bầu cử trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm.  Để làm tốt công tác bầu cử, báo Cứu quốc của Việt Minh và  báo Cờ giải phóng của Đảng Cộng sản Đông Dương đã tập  trung tuyên truyền, hướng dẫn việc bầu cử. Cùng với đó,  tờ nhật báo Quốc hội ra liền 15 số (từ ngày 17/12/1945 đến  ngày 06/01/1946) nêu rõ mục đích của bầu cử: (1) - Định rõ  giá trị của cuộc Tổng tuyển cử đối với ngoài nước và trong  nước. (2) - Giải thích thể lệ Tổng tuyển cử cho công dân  Việt Nam hiểu quyền hạn và bổn phận của mình trong khi  chọn và cử người đại biểu vào Quốc hội. (3) - Giúp các bạn  ứng cử một cơ quan vận động chung để giới thiệu thành  tích, khả năng và chương trình của mình. 

QH khoa 15_result.jpg
Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV - Ảnh: VGP

Tiếp đến, ngày 31/12/1945 trên Báo Cứu quốc, Chủ tịch  Hồ Chí Minh viết bài nêu rõ ý nghĩa Tổng tuyển cử là dịp  cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài,  có đức để gánh vác công việc nước nhà. Tổng tuyển cử tức  là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết. Người mong  toàn thể quốc dân sẽ hăng hái tham gia Tổng tuyển cử.  Trong Tuyên bố chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm  thời cũng nêu rõ mục tiêu làm cho Tổng tuyển cử toàn  quốc thành công và thống nhất các cơ quan hành chính  theo nguyên tắc dân chủ. Còn trong Lời kêu gọi quốc dân đi  bỏ phiếu ngày 5/1/1946, Người chỉ rõ: “Ngày mai là một  ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai  là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là  ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên  trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng thụ quyền dân chủ của mình”1. Lời kêu gọi của Người đã  thành hiện thực. Lần đầu tiên người dân cả nước được  thực hiện quyền dân chủ của mình. Ngày 6/1/1946, cuộc  Tổng tuyển cử đã diễn ra thành công trên cả nước. Ở miền  Nam, trong hoàn cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cuộc Tổng tuyển cử vẫn diễn ra đúng kế hoạch.  Nhiều tỉnh ở miền Nam đã bầu cử từ ngày 23/12/1945.  Nhiều đồng chí, đồng bào đã hy sinh ngay trong ngày bầu  cử. Riêng ở Sài Gòn – Chợ Lớn có 42 cán bộ, chiến sĩ đã hy  sinh khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử. Chủ tịch Hồ Chí  Minh ứng cử ở Hà Nội và trúng cử với tỷ lệ phiếu cao nhất  169.222 phiếu, đạt tỷ lệ 98,4%. Tại Hà Nội, 91,95% cử tri đi  bỏ phiếu, 6 trong số 47 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu  Quốc hội, người trúng cử số phiếu thấp nhất là 52,5%.  Tính chung trên cả nước có 89% số cử tri đi bỏ phiếu và đã  bầu được 333 đại biểu Quốc hội, trong đó 87% số đại biểu  là công nhân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu là phụ nữ và  34 đại biểu là dân tộc thiểu số 2. Thành công của cuộc bầu  cử đã tạo lập cho sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam  Dân chủ Cộng hòa, đại diện cho một chỉnh thể hợp pháp,  thiết lập một Nhà nước đầu tiên của nước Việt Nam độc  lập. Quốc hội Việt Nam đầu tiên được dân bầu ra là  những nhà cách mạng, chí sĩ yêu nước, đại diện cho các  tầng lớp lao động, trí thức, doanh nghiệp, các đảng phái,  các dân tộc, các tôn giáo… Một Quốc hội mang tính đoàn  kết, hòa hợp dân tộc cao và tín nhiệm cao của Nhân dân. 

Thực vậy, thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử đánh dấu  bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam. Người dân Việt Nam từ thân phận  nô lệ, mất nước đã trở thành chủ nhân một nước tự do,  độc lập và đã khẳng định với thế giới rằng: nhân dân Việt  Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do, có quyền và đã  thực sự có đủ khả năng để tự quyết định vận mệnh lịch sử của mình, tự lựa chọn và dựng xây chế độ mới, chế độ Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  Nam. Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử cũng đã khẳng định  niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh  thần yêu nước của nhân dân ta; đồng thời, đó cũng là sự biểu  thị khát vọng dân chủ của nhân dân và sức mạnh của khối  đại đoàn kết toàn dân. 

Gần hai tháng sau cuộc Tổng tuyển cử, Quốc hội đã  họp kỳ đầu tiên ngày 2/3/1946 để thành lập Chính phủ chính thức. Trong Diễn văn khai mạc kỳ họp thứ nhất  nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh  khẳng định: “Nhờ sức mạnh đoàn kết mạnh mẽ của toàn  dân, chúng ta đã giành được chính quyền. Nhưng mà vừa  giành được chính quyền, vừa lập nên Chính phủ thì  chúng ta gặp nhiều sự khó khăn, miền Nam bị nạn xâm  lăng, miền Bắc bị nạn đói khổ. Song nhờ sự ủng hộ nhiệt  liệt của toàn thể đồng bào và lòng kiên quyết phấn đấu  của Chính phủ, chúng ta đã làm được đôi việc: 

- Việc thứ nhất là ra sức kháng chiến. 

- Việc thứ hai là giảm bớt sự đói kém bằng cách thực  hiện tăng gia sản xuất.

- Việc thứ ba là Chính phủ đã tổ chức cuộc Tổng  tuyển cử. 

- Việc thứ tư là do kết quả cuộc Tổng tuyển cử ấy mà  có Quốc hội hôm nay”3

Theo Người, thắng lợi này là kết quả của sự hy sinh,  tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh  dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam, sự đoàn  kết của toàn thể đồng bào không kể già, trẻ, lớn, bé, gồm  tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam  đoàn kết chặt chẽ thành một khối, hy sinh không sợ nguy  hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc. Đồng thời, thắng  lợi đó cũng khẳng định niềm tin của nhân dân vào sự lãnh  đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà  người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Chính sự lãnh đ ạo tài tình, sáng suốt của  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp chúng ta vượt qua  muôn vàn khó khăn trong cũng như ngoài nước, với  những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định  tiêu diệt cách mạng Việt Nam, chiến đấu với cả giặc đói,  giặc dốt..., cùng với những di chứng của chế độ thực dân  đế quốc để lại, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 của  nước ta đã được tổ chức thành công. Một cuộc bầu cử thật  sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Trong lịch sử hiếm có một quốc gia  nào vừa giành được độc lập, với biết bao khó khăn đang chồng chất, lại dám tổ chức một cuộc tổng tuyển cử thật  sự dân chủ như nước Việt Nam ta khi ấy. 

Trong lời tuyên thệ nhậm chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh  khẳng định: “Chúng tôi, Chính phủ kháng chiến nước  Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tối cao cố vấn đoàn và Ủy  viên kháng chiến hội, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin kiên quyết lãnh đạo nhân  dân kháng chiến, thực hiện nền Dân chủ Cộng hòa Việt  Nam, mang lại tự do hạnh phúc cho dân tộc. Trong công  việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó  khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ”4. Cũng  trong kỳ họp này, Quốc hội đã bầu Ban Thường trực Quốc  hội gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết do  cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban; Phạm Văn Đồng,  Cung Đình Quỳ làm Phó Trưởng ban. Kỳ họp thứ nhất  của Quốc hội cũng quyết định lập Ban dự thảo Hiến pháp,  Quốc hội quyết định lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ và bài  Tiến quân ca là Quốc ca. Với thành công của kỳ họp đầu  tiên của Quốc hội, Nhà nước đã được xây dựng, củng cố vững chắc cả về thực tiễn và cơ sở pháp lý. Như vậy, ngày  6/1/1946 - cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, mở ra kỷ nguyên độc  lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội do nhân dân làm  chủ. Là hiện thân cho ý chí, sức mạnh của nhân dân và  khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Quốc hội là đại diện rộng rãi cho mọi tầng lớp nhân dân. Mỗi quyết định của Quốc  hội là sự thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân,  luôn nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc. 

Đến hoạt động lập hiến và lập pháp của Quốc hội  Việt Nam 

Đến nay, Quốc hội Việt Nam đã qua 15 nhiệm kỳ liên  tục kế tiếp nhau, trong đó có 9 kỳ Quốc hội thống nhất cả nước từ năm 1976 sau khi miền Nam được giải phóng.  Trải qua mỗi thời điểm lịch sử và mỗi nhiệm kỳ khác  nhau, Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  trước đây và Quốc hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay đã hoàn thành được sứ mệnh  cao cả của dân tộc trao cho, xứng đáng là cơ quan dân bầu  cao nhất, bao gồm những đại biểu tinh hoa nhất, đại diện  cho toàn dân. Họ là những đại biểu có tinh thần yêu nước  và trách nhiệm rất cao đối với quyền lợi quốc gia và dân  tộc. Với chiều dài của lịch sử nước nhà, Quốc hội đã xây  dựng được hệ thống luật pháp ngày càng hoàn thiện để phát triển và bảo vệ đất nước. Quốc hội đã ban hành rất  nhiều quyết sách quan trọng của đất nước về kinh tế,  chính trị, đối ngoại, an ninh – quốc phòng, văn hóa xã hội,  cụ thể hóa kịp thời quan điểm, đường lối của Đảng. Trong  những kỳ Quốc hội gần đây, các đại biểu Quốc hội đã phát  huy dân chủ, phản ánh được những kiến nghị và nguyện  vọng của nhân dân, được Quốc hội ghi nhận. Và từ đó  Quốc hội đã phát huy vai trò của mình về quản trị đất  nước, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan  Chính phủ. Những thành tựu của nước ta do Đảng và  Chính phủ công bố vừa qua có sự đóng góp to lớn của  Quốc hội; các thành viên của Quốc hội đã làm tròn trách  nhiệm của mình, hoàn thành được nhiệm vụ mà cử tri và  nhân dân giao phó. Đặc biệt, Quốc hội khóa XV, nhiệm kỳ 2021 – 2026 đã tạo nên những dấu ấn nổi bật trong quá  trình xây dựng và phát triển đất nước. Theo đó, công tác  lập pháp không chỉ dừng lại ở việc khắc phục chồng chéo,  mâu thuẫn, điểm nghẽn mà còn mở đường, dẫn dắt cho  phát triển của đất nước, khuyến khích sáng tạo, giải  phóng toàn bộ sức lao động, khơi thông mọi nguồn lực  cho phát triển. Quốc hội khóa XV thể chế hóa đầy đủ những chủ trương, chính sách, định hướng lớn đã được  Trung ương quyết định, nhất là những vấn đề về chất  lượng tăng trưởng, năng suất lao động, chuyển đổi xanh,  chuyển đổi số, cơ cấu lại nền kinh tế và bảo đảm an sinh  xã hội... 

Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp  luật để kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của  Đảng và tiếp tục cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, đáp ứng  yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng trong việc xây dựng,  hoàn thiện thể chế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời, chú trọng việc nâng cao chất  lượng của các đạo luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp,  tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Quốc hội cũng đã  tăng cường hoạt động giám sát, tập trung vào những vấn  đề bức xúc của cuộc sống và không ngừng cải tiến, đổi  mới cách thức thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát; đặc biệt đã xem xét, quyết định  nhiều vấn đề quan trọng có tác động đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. 

Sau 80 năm hình thành và phát triển, Quốc hội đã đạt  được nhiều thành tựu nổi bật trong hoạt động lập hiến và  lập pháp, đóng góp vào các giai đoạn phát triển của đất  nước. Hoạt động lập hiến, lập pháp đã thể hiện sâu sắc vị trí, vai trò của Quốc hội. Quốc hội đã ban hành 5 bản Hiến  pháp; 567 luật, 236 pháp lệnh và hàng nghìn nghị quyết,  tạo cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ yêu cầu phát triển  kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng hệ thống chính trị,  phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo đảm việc thực hiện  quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.  Những con số này là sự đúc kết ý chí chung và nhu cầu  thực tiễn của Nhân dân và để phục vụ các mục tiêu chiến  lược, từ giành độc lập, thống nhất đến đổi mới và hội  nhập quốc tế. 

Kết quả trên là do Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội  đã nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm, đổi mới  mạnh mẽ, đạt kết quả toàn diện trên tất cả các lĩnh vực  công tác, tạo nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa sau  tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao hơn nữa chất  lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Chủ tịch nước  đã khẳng định được vị thế của người lãnh đạo cao nhất  của Đảng, người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước  Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối  ngoại, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đóng góp  tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính  phủ, Thủ tướng Chính phủ thể hiện rõ sự năng động,  sáng tạo, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, kiên định  thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra trong nghị quyết của  Đảng, của Quốc hội, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực  trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được Nhân  dân và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. 

Nhìn lại gần 80 năm qua, từ Quốc dân Đại hội Tân  Trào - tiền thân của Quốc hội Việt Nam - đến sự ra đời  của Quốc hội khóa 1 và 15 nhiệm kỳ, Quốc hội luôn  đồng hành cùng dân tộc, Quốc hội đã thực hiện tốt chức  năng lập pháp, lập hiến, giám sát tối cao và quyết định  các vấn đề quan trọng của đất nước. Theo Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam  Trần Thanh Mẫn: “Thực tiễn đất nước đang đặt ra  những vấn đề cấp bách cần giải quyết, Nhân dân đang  mong chờ và kỳ vọng vào những quyết sách của Đảng,  Nhà nước, đòi hỏi Quốc hội phải tiếp tục đổi mới toàn  diện, đổi mới cách nghĩ, cách làm, nâng cao năng lực lập  phát, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng  của đất nước”5. Đó là định hướng quan trọng để Quốc  hội tiếp tục đồng hành cùng dân tộc, tiến bước vững  chắc trong kỷ nguyên mới. 

Trong thời gian tới, để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu  quả hoạt động giám sát cho nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI  và các khóa tiếp theo, Quốc hội cần chú trọng các phương  hướng đổi mới, theo đó cần phát huy vai trò lãnh đạo toàn  diện và trực tiếp của Đảng; tiếp tục đổi mới tư duy giám  sát theo hướng giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước,  người dân và doanh nghiệp, chủ động kiến tạo chính sách  pháp luật. Hoạt động giám sát phải gắn chặt với thực tiễn  và tiếng nói của người dân, tăng cường khảo sát tại cơ sở,  lắng nghe ý kiến từ cử tri và cộng đồng doanh nghiệp;  nghiên cứu, rà soát, sửa đổi toàn diện các quy định của  pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, trọng tâm  là sửa đổi Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội  đồng nhân dân, thiết lập cơ chế bảo đảm sự gắn kết giữa  hoạt động giám sát và hoạt động lập pháp… Đặc biệt,  trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ,  tinh gọn bộ máy Nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân  quyền, hoạt động giám sát càng trở nên thiết yếu để đáp  ứng yêu cầu “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực -  hiệu quả”. Theo đó, Quốc hội cần đổi mới tổ chức bộ máy,  nâng cao chất lượng công tác lập pháp bao gồm việc đổi  mới tư duy xây dựng pháp luật và tháo gỡ các “điểm  nghẽn” pháp lý, tăng cường hiệu quả công tác giám sát,  nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đổi mới phương  thức hoạt động của Quốc hội, tăng cường mối quan hệ với  nhân dân và hợp tác quốc tế… Đồng thời, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp đáp ứng tốt các  yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Pháp  luật phải khả thi, dễ thực hiên, lấy người dân và doanh  nghiệp làm trung tâm. Quốc hội cần nâng cao hơn nữa  chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của các quyết định những  vấn đề quan trọng của đất nước, hoạt động giám sát, nhất  là giám sát tối cao của Quốc hội. Quan tâm bồi dưỡng  kiến thức, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của  đại biểu Quốc hội. Đồng thời, tổ chức các cơ quan của  Quốc hội theo hướng tinh, gọn, hiện đại, chuyên nghiệp;  tăng số lượng đại biểu chuyên trách; bố trí hợp lý các đại  biểu chuyên môn sâu tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban  của Quốc hội… 

Kết luận 

Gần 80 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng  kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo những vấn đề lý  luận và thực tiễn về lập hiến và lập pháp từ Quốc dân Đại  hội Tân Trào phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất  nước. Trong kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn  mình của dân tộc, Quốc hội cần tiếp tục hoàn thiện, nâng  cao chất lượng hoạt động lập hiến và lập pháp. Tiếp tục  thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp  luật; triển khai mạnh mẽ tư duy lập hiến, lập pháp mới  theo hướng kiến tạo và dự báo, tạo hành lang pháp lý  thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; định hướng xây  dựng pháp luật để tận dụng cơ hội từ cách mạng công  nghiệp lần thứ tư. Đặc biệt, đề cao vai trò của Nhân dân,  khuyến khích sự tham gia rộng rãi và thực chất của Nhân  dân vào quá trình xây dựng pháp luật; hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật… Bước  vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Quốc hội khóa  XV đã khẳng định vị thế là chủ thể sáng tạo thể chế, kiến  tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho những quyết sách  chiến lược mang tính đột phá cho sự phát triển nhanh và  bền vững đất nước.

____________________________

Chú thích:

1,3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr. 166,168. 

2. Nguyễn Trọng Phúc, Nhà nước cách mạng Việt Nam (1945-2010), 2011, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 48. 5. Trần Thanh Mẫn, Phát biểu tại hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Quốc hội Việt Nam – 80 năm hình thành và phát triển”, Báo Tuổi trẻ, ngày 10/9/2025, tr. 4. 

Tài liệu tham khảo

1. Trần Thanh Mẫn, Phát biểu tại hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Quốc hội Việt Nam – 80 năm hình thành và phát triển”, Báo Tuổi trẻ, ngày 10/9/2025.

2. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4.

3. Nguyễn Trọng Phúc, Nhà nước cách mạng Việt Nam (1945-2010), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

PHẠM NGỌC HÒA - LÊ THỊ THÚY AN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 628, tháng 12-2025