
Từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 3/9/1945, nghĩa là chỉ một ngày sau khi Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống. Việc chuẩn bị cho tổng tuyển cử đã diễn ra rất khẩn trương trong điều kiện thù trong, giặc ngoài, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hết sức khó khăn. Chúng ta vừa kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải quyết những nhiệm vụ rất cấp bách hàng ngày đặt ra, vừa thực hiện sách lược tạm hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc; đồng thời lại vừa phải đấu tranh để chống lại những hành động phá hoại điên cuồng của chúng. Ngày 8/9/1945, Chính phủ ta đã ra Sắc lệnh số 14/SL về việc Tổng tuyển cử để bầu quốc dân đại hội, thể hiện tính cấp thiết và ý nghĩa quan trọng của việc cần phải tổ chức ngay cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước. Để thực thi công việc hệ trọng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành một loạt sắc lệnh: Sắc lệnh ngày 17/10/1945 về bầu cử quốc dân đại hội; Sắc lệnh số 71 ngày 2/12/1945 bổ khuyết Điều thứ II, Chương V Sắc lệnh ngày 17/10/1945 về thể lệ Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 72 ngày 2/12/1945 bổ khuyết một số đại biểu các tỉnh và thành phố theo Sắc lệnh ngày 17/10/1945 về cuộc Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 76 ngày 18/12/1945 hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6/1/1946.
Trong bối cảnh lịch sử đó, việc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội có ý nghĩa trọng đại về xây dựng Nhà nước, khẳng định sức mạnh và cơ sở pháp lý của Nhà nước cách mạng. Việc tuyên truyền, hướng dẫn công dân tham gia bầu cử trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Để làm tốt công tác bầu cử, báo Cứu quốc của Việt Minh và báo Cờ giải phóng của Đảng Cộng sản Đông Dương đã tập trung tuyên truyền, hướng dẫn việc bầu cử. Cùng với đó, tờ nhật báo Quốc hội ra liền 15 số (từ ngày 17/12/1945 đến ngày 06/01/1946) nêu rõ mục đích của bầu cử: (1) - Định rõ giá trị của cuộc Tổng tuyển cử đối với ngoài nước và trong nước. (2) - Giải thích thể lệ Tổng tuyển cử cho công dân Việt Nam hiểu quyền hạn và bổn phận của mình trong khi chọn và cử người đại biểu vào Quốc hội. (3) - Giúp các bạn ứng cử một cơ quan vận động chung để giới thiệu thành tích, khả năng và chương trình của mình.

Tiếp đến, ngày 31/12/1945 trên Báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài nêu rõ ý nghĩa Tổng tuyển cử là dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết. Người mong toàn thể quốc dân sẽ hăng hái tham gia Tổng tuyển cử. Trong Tuyên bố chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời cũng nêu rõ mục tiêu làm cho Tổng tuyển cử toàn quốc thành công và thống nhất các cơ quan hành chính theo nguyên tắc dân chủ. Còn trong Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu ngày 5/1/1946, Người chỉ rõ: “Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng thụ quyền dân chủ của mình”1. Lời kêu gọi của Người đã thành hiện thực. Lần đầu tiên người dân cả nước được thực hiện quyền dân chủ của mình. Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra thành công trên cả nước. Ở miền Nam, trong hoàn cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cuộc Tổng tuyển cử vẫn diễn ra đúng kế hoạch. Nhiều tỉnh ở miền Nam đã bầu cử từ ngày 23/12/1945. Nhiều đồng chí, đồng bào đã hy sinh ngay trong ngày bầu cử. Riêng ở Sài Gòn – Chợ Lớn có 42 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử ở Hà Nội và trúng cử với tỷ lệ phiếu cao nhất 169.222 phiếu, đạt tỷ lệ 98,4%. Tại Hà Nội, 91,95% cử tri đi bỏ phiếu, 6 trong số 47 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội, người trúng cử số phiếu thấp nhất là 52,5%. Tính chung trên cả nước có 89% số cử tri đi bỏ phiếu và đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội, trong đó 87% số đại biểu là công nhân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu là phụ nữ và 34 đại biểu là dân tộc thiểu số 2. Thành công của cuộc bầu cử đã tạo lập cho sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đại diện cho một chỉnh thể hợp pháp, thiết lập một Nhà nước đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Quốc hội Việt Nam đầu tiên được dân bầu ra là những nhà cách mạng, chí sĩ yêu nước, đại diện cho các tầng lớp lao động, trí thức, doanh nghiệp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo… Một Quốc hội mang tính đoàn kết, hòa hợp dân tộc cao và tín nhiệm cao của Nhân dân.
Thực vậy, thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam. Người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ, mất nước đã trở thành chủ nhân một nước tự do, độc lập và đã khẳng định với thế giới rằng: nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do, có quyền và đã thực sự có đủ khả năng để tự quyết định vận mệnh lịch sử của mình, tự lựa chọn và dựng xây chế độ mới, chế độ Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử cũng đã khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của nhân dân ta; đồng thời, đó cũng là sự biểu thị khát vọng dân chủ của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.
Gần hai tháng sau cuộc Tổng tuyển cử, Quốc hội đã họp kỳ đầu tiên ngày 2/3/1946 để thành lập Chính phủ chính thức. Trong Diễn văn khai mạc kỳ họp thứ nhất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhờ sức mạnh đoàn kết mạnh mẽ của toàn dân, chúng ta đã giành được chính quyền. Nhưng mà vừa giành được chính quyền, vừa lập nên Chính phủ thì chúng ta gặp nhiều sự khó khăn, miền Nam bị nạn xâm lăng, miền Bắc bị nạn đói khổ. Song nhờ sự ủng hộ nhiệt liệt của toàn thể đồng bào và lòng kiên quyết phấn đấu của Chính phủ, chúng ta đã làm được đôi việc:
- Việc thứ nhất là ra sức kháng chiến.
- Việc thứ hai là giảm bớt sự đói kém bằng cách thực hiện tăng gia sản xuất.
- Việc thứ ba là Chính phủ đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử.
- Việc thứ tư là do kết quả cuộc Tổng tuyển cử ấy mà có Quốc hội hôm nay”3.
Theo Người, thắng lợi này là kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già, trẻ, lớn, bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối, hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc. Đồng thời, thắng lợi đó cũng khẳng định niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chính sự lãnh đ ạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp chúng ta vượt qua muôn vàn khó khăn trong cũng như ngoài nước, với những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, chiến đấu với cả giặc đói, giặc dốt..., cùng với những di chứng của chế độ thực dân đế quốc để lại, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 của nước ta đã được tổ chức thành công. Một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Trong lịch sử hiếm có một quốc gia nào vừa giành được độc lập, với biết bao khó khăn đang chồng chất, lại dám tổ chức một cuộc tổng tuyển cử thật sự dân chủ như nước Việt Nam ta khi ấy.
Trong lời tuyên thệ nhậm chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi, Chính phủ kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tối cao cố vấn đoàn và Ủy viên kháng chiến hội, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin kiên quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền Dân chủ Cộng hòa Việt Nam, mang lại tự do hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ”4. Cũng trong kỳ họp này, Quốc hội đã bầu Ban Thường trực Quốc hội gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết do cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban; Phạm Văn Đồng, Cung Đình Quỳ làm Phó Trưởng ban. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội cũng quyết định lập Ban dự thảo Hiến pháp, Quốc hội quyết định lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ và bài Tiến quân ca là Quốc ca. Với thành công của kỳ họp đầu tiên của Quốc hội, Nhà nước đã được xây dựng, củng cố vững chắc cả về thực tiễn và cơ sở pháp lý. Như vậy, ngày 6/1/1946 - cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội do nhân dân làm chủ. Là hiện thân cho ý chí, sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Quốc hội là đại diện rộng rãi cho mọi tầng lớp nhân dân. Mỗi quyết định của Quốc hội là sự thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, luôn nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Đến hoạt động lập hiến và lập pháp của Quốc hội Việt Nam
Đến nay, Quốc hội Việt Nam đã qua 15 nhiệm kỳ liên tục kế tiếp nhau, trong đó có 9 kỳ Quốc hội thống nhất cả nước từ năm 1976 sau khi miền Nam được giải phóng. Trải qua mỗi thời điểm lịch sử và mỗi nhiệm kỳ khác nhau, Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây và Quốc hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay đã hoàn thành được sứ mệnh cao cả của dân tộc trao cho, xứng đáng là cơ quan dân bầu cao nhất, bao gồm những đại biểu tinh hoa nhất, đại diện cho toàn dân. Họ là những đại biểu có tinh thần yêu nước và trách nhiệm rất cao đối với quyền lợi quốc gia và dân tộc. Với chiều dài của lịch sử nước nhà, Quốc hội đã xây dựng được hệ thống luật pháp ngày càng hoàn thiện để phát triển và bảo vệ đất nước. Quốc hội đã ban hành rất nhiều quyết sách quan trọng của đất nước về kinh tế, chính trị, đối ngoại, an ninh – quốc phòng, văn hóa xã hội, cụ thể hóa kịp thời quan điểm, đường lối của Đảng. Trong những kỳ Quốc hội gần đây, các đại biểu Quốc hội đã phát huy dân chủ, phản ánh được những kiến nghị và nguyện vọng của nhân dân, được Quốc hội ghi nhận. Và từ đó Quốc hội đã phát huy vai trò của mình về quản trị đất nước, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan Chính phủ. Những thành tựu của nước ta do Đảng và Chính phủ công bố vừa qua có sự đóng góp to lớn của Quốc hội; các thành viên của Quốc hội đã làm tròn trách nhiệm của mình, hoàn thành được nhiệm vụ mà cử tri và nhân dân giao phó. Đặc biệt, Quốc hội khóa XV, nhiệm kỳ 2021 – 2026 đã tạo nên những dấu ấn nổi bật trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Theo đó, công tác lập pháp không chỉ dừng lại ở việc khắc phục chồng chéo, mâu thuẫn, điểm nghẽn mà còn mở đường, dẫn dắt cho phát triển của đất nước, khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức lao động, khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển. Quốc hội khóa XV thể chế hóa đầy đủ những chủ trương, chính sách, định hướng lớn đã được Trung ương quyết định, nhất là những vấn đề về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, cơ cấu lại nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội...
Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và tiếp tục cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện thể chế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời, chú trọng việc nâng cao chất lượng của các đạo luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Quốc hội cũng đã tăng cường hoạt động giám sát, tập trung vào những vấn đề bức xúc của cuộc sống và không ngừng cải tiến, đổi mới cách thức thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát; đặc biệt đã xem xét, quyết định nhiều vấn đề quan trọng có tác động đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
Sau 80 năm hình thành và phát triển, Quốc hội đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong hoạt động lập hiến và lập pháp, đóng góp vào các giai đoạn phát triển của đất nước. Hoạt động lập hiến, lập pháp đã thể hiện sâu sắc vị trí, vai trò của Quốc hội. Quốc hội đã ban hành 5 bản Hiến pháp; 567 luật, 236 pháp lệnh và hàng nghìn nghị quyết, tạo cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng hệ thống chính trị, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo đảm việc thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Những con số này là sự đúc kết ý chí chung và nhu cầu thực tiễn của Nhân dân và để phục vụ các mục tiêu chiến lược, từ giành độc lập, thống nhất đến đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả trên là do Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đã nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm, đổi mới mạnh mẽ, đạt kết quả toàn diện trên tất cả các lĩnh vực công tác, tạo nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa sau tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Chủ tịch nước đã khẳng định được vị thế của người lãnh đạo cao nhất của Đảng, người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thể hiện rõ sự năng động, sáng tạo, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, kiên định thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra trong nghị quyết của Đảng, của Quốc hội, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được Nhân dân và cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Nhìn lại gần 80 năm qua, từ Quốc dân Đại hội Tân Trào - tiền thân của Quốc hội Việt Nam - đến sự ra đời của Quốc hội khóa 1 và 15 nhiệm kỳ, Quốc hội luôn đồng hành cùng dân tộc, Quốc hội đã thực hiện tốt chức năng lập pháp, lập hiến, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Theo Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Thanh Mẫn: “Thực tiễn đất nước đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần giải quyết, Nhân dân đang mong chờ và kỳ vọng vào những quyết sách của Đảng, Nhà nước, đòi hỏi Quốc hội phải tiếp tục đổi mới toàn diện, đổi mới cách nghĩ, cách làm, nâng cao năng lực lập phát, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước”5. Đó là định hướng quan trọng để Quốc hội tiếp tục đồng hành cùng dân tộc, tiến bước vững chắc trong kỷ nguyên mới.
Trong thời gian tới, để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát cho nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI và các khóa tiếp theo, Quốc hội cần chú trọng các phương hướng đổi mới, theo đó cần phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện và trực tiếp của Đảng; tiếp tục đổi mới tư duy giám sát theo hướng giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, chủ động kiến tạo chính sách pháp luật. Hoạt động giám sát phải gắn chặt với thực tiễn và tiếng nói của người dân, tăng cường khảo sát tại cơ sở, lắng nghe ý kiến từ cử tri và cộng đồng doanh nghiệp; nghiên cứu, rà soát, sửa đổi toàn diện các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, trọng tâm là sửa đổi Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, thiết lập cơ chế bảo đảm sự gắn kết giữa hoạt động giám sát và hoạt động lập pháp… Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ, tinh gọn bộ máy Nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, hoạt động giám sát càng trở nên thiết yếu để đáp ứng yêu cầu “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”. Theo đó, Quốc hội cần đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng công tác lập pháp bao gồm việc đổi mới tư duy xây dựng pháp luật và tháo gỡ các “điểm nghẽn” pháp lý, tăng cường hiệu quả công tác giám sát, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, tăng cường mối quan hệ với nhân dân và hợp tác quốc tế… Đồng thời, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp đáp ứng tốt các yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Pháp luật phải khả thi, dễ thực hiên, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Quốc hội cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của các quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, hoạt động giám sát, nhất là giám sát tối cao của Quốc hội. Quan tâm bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội. Đồng thời, tổ chức các cơ quan của Quốc hội theo hướng tinh, gọn, hiện đại, chuyên nghiệp; tăng số lượng đại biểu chuyên trách; bố trí hợp lý các đại biểu chuyên môn sâu tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội…
Kết luận
Gần 80 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo những vấn đề lý luận và thực tiễn về lập hiến và lập pháp từ Quốc dân Đại hội Tân Trào phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước. Trong kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Quốc hội cần tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động lập hiến và lập pháp. Tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật; triển khai mạnh mẽ tư duy lập hiến, lập pháp mới theo hướng kiến tạo và dự báo, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; định hướng xây dựng pháp luật để tận dụng cơ hội từ cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đặc biệt, đề cao vai trò của Nhân dân, khuyến khích sự tham gia rộng rãi và thực chất của Nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật; hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật… Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Quốc hội khóa XV đã khẳng định vị thế là chủ thể sáng tạo thể chế, kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho những quyết sách chiến lược mang tính đột phá cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.
____________________________
Chú thích:
1,3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr. 166,168.
2. Nguyễn Trọng Phúc, Nhà nước cách mạng Việt Nam (1945-2010), 2011, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 48. 5. Trần Thanh Mẫn, Phát biểu tại hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Quốc hội Việt Nam – 80 năm hình thành và phát triển”, Báo Tuổi trẻ, ngày 10/9/2025, tr. 4.
Tài liệu tham khảo
1. Trần Thanh Mẫn, Phát biểu tại hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Quốc hội Việt Nam – 80 năm hình thành và phát triển”, Báo Tuổi trẻ, ngày 10/9/2025.
2. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4.
3. Nguyễn Trọng Phúc, Nhà nước cách mạng Việt Nam (1945-2010), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.
PHẠM NGỌC HÒA - LÊ THỊ THÚY AN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 628, tháng 12-2025