
“Sắp xếp lại giang sơn” là một quyết sách chiến lược, có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu giai đoạn phát triển mới trong sự nghiệp hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước và tổ chức không gian phát triển của đất nước. Cải cách thể chế không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ trọng tâm, mang tính sống còn để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới. Thể chế có chất lượng, phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân là yếu tố hàng đầu quyết định thành công của đất nước.
Cải cách thể chế thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước
Thứ nhất, cải cách thể chế tạo động lực cho sự phát triển. Cải cách thể chế đóng vai trò đặc biệt quan trọng, được xác định là một trong ba đột phá chiến lược hàng đầu của Việt Nam, nhằm tạo động lực mạnh mẽ, căn cơ cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Thể chế hiệu lực và hiệu quả có vai trò quyết định đối với sự phát triển đất nước, tháo gỡ các “điểm nghẽn” về pháp lý, hành chính, tạo môi trường thuận lợi, công bằng cho người dân và doanh nghiệp: “Thể chế, pháp luật có chất lượng, phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn và nguyện vọng của Nhân dân là yếu tố hàng đầu quyết định thành công của mỗi quốc gia”(1). Từ đó, biến “điểm nghẽn” thành “lợi thế cạnh tranh”, khơi thông, giải phóng tối đa các nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Cải cách thể chế tạo nền tảng xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hướng tới phát triển bền vững. Đồng thời, xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.
Thứ hai, cải cách thể chế là “đột phá của đột phá” khơi thông mọi nguồn lực phát triển, nâng cao vị thế quốc gia. Cải cách thể chế tạo nền tảng, điều kiện thuận lợi và là bước đi cần thiết mở đường cho các đột phá trong những lĩnh vực khác, đặc biệt khoa học công nghệ và nguồn nhân lực. Việc sửa đổi, bổ sung thể chế là cơ sở nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định kinh doanh, giải quyết dứt điểm các nút thắt, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp: “Công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng”(2). Thể chế tốt sẽ tạo điều kiện pháp lý, môi trường thuận lợi cho các nguồn lực (nhân lực, tài chính, công nghệ,...) được huy động và sử dụng một cách hiệu quả nhất, giải phóng năng lực sản xuất. Cải cách thể chế chính là yếu tố xương sống, là điều kiện tiên quyết khơi dậy mọi tiềm năng, thúc đẩy sự năng động, sáng tạo và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ ba, cải cách thể chế tạo nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cải cách thể chế giúp biến lợi thế về dân số, vị trí địa lý,... thành lợi thế cạnh tranh thực sự của Việt Nam trên trường quốc tế. Thể chế tốt là yếu tố tiên quyết gia tăng thứ hạng quốc gia: “Hoàn thiện thể chế, pháp luật để giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước, tận dụng mọi cơ hội phát triển”(3). Một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, chống tham nhũng hiệu quả giúp nâng cao hình ảnh quốc gia, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có chất lượng, công nghệ cao. Thể chế linh hoạt cho phép thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới trong các lĩnh vực công nghệ số, kinh tế xanh sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cải cách hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước giúp nâng cao hiệu quả điều hành, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyết liệt đẩy mạnh cải cách thể góp phần “sắp xếp lại giang sơn” trong kỷ nguyên phát triển mới
Trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi mang tính thời đại, đất nước ta đang thực sự tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. “Để đất nước vươn mình phát triển mạnh mẽ, chúng ta dứt khoát nói “không” với bất cứ hạn chế, bất cập nào trong thể chế, pháp luật; không thỏa hiệp với bất kỳ yếu kém nào trong thiết kế chính sách, soạn thảo pháp luật, hay tổ chức thực thi”(4). Cùng với việc thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, phấn đấu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, cải cách thể chế phải được đổi mới căn bản, góp phần “sắp xếp lại giang sơn”, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Cụ thể:
Một là, chủ động rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật còn bất cập, mâu thuẫn. Tăng cường rà soát toàn diện quy định trong các luật, pháp lệnh hiện hành, chủ động phát hiện, xác định cụ thể những quy định có mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn, nêu rõ các điều, khoản, luật, nghị định, thông tư, quy định liên quan. Kịp thời đề xuất phương án hiệu quả, khả thi để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định, điều khoản cụ thể trong các luật, nghị định, quyết định, thông tư, văn bản pháp luật có liên quan, nhằm khẩn trương tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống người dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng: “Công tác xây dựng pháp luật phải thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng; xuất phát từ lợi ích toàn cục của đất nước; dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được”(5). Chú trọng rà soát các quy định về thẩm quyền của các cấp; các quy định có nhiều thủ tục qua các tầng nấc trung gian, hình thức, không thực chất trong xem xét, quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh và đời sống người dân để đề xuất cụ thể các quy định cần sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền. Tăng cường tính chủ động, linh hoạt, tự chịu trách nhiệm của địa phương, cơ sở; giảm các tầng nấc trung gian, cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, làm mất thời gian, tăng chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp; tăng cường giám sát, kiểm tra, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; không để tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm, sợ sai, chống tiêu cực, lãng phí,...
Hai là, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch, khả thi, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bảo đảm quyền lợi chính đáng của Nhân dân. Xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, bảo đảm chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả. Quy định rõ hơn quy trình xây dựng chính sách, phân định rõ quy trình lập pháp và quy trình xây dựng văn bản dưới luật. Phát huy tính năng động, sáng tạo, tích cực, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong quy trình lập pháp: “Khẩn trương rà soát toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo từng ngành, từng lĩnh vực để kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật bảo đảm sát thực tiễn và khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, chưa phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”(6). Đa dạng hóa nguồn pháp luật, đề cao và coi trọng đạo luật, đơn giản hóa, giảm tầng nấc, loại hình văn bản trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Xác định đúng, rõ các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tăng cường xây dựng các đạo luật có nội dung cụ thể, hiệu lực trực tiếp; kiểm tra, giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết chống tiêu cực, “lợi ích nhóm” trong công tác xây dựng pháp luật.
Ba là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước, chuyển đổi từ mô hình hành chính quản lý sang hành chính phục vụ. Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn bộ hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ cấp Trung ương đến địa phương về vai trò của công nghệ và mục tiêu phục vụ người dân, doanh nghiệp. Xây dựng chính quyền kiến tạo, phục vụ làm trọng tâm, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả công việc. Xây dựng nền tảng chính quyền điện tử hiện đại, sử dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động quản lý, điều hành. Đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, thực hiện số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính: “Ưu tiên nguồn lực xây dựng, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu lớn, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ đổi mới, hiện đại hóa công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, liên thông, dễ khai thác, dễ sử dụng, an toàn thông tin và bí mật nhà nước”(7). Rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Ban hành các chương trình, nghị quyết cụ thể về chuyển đổi số quốc gia, xác định rõ lộ trình, mục tiêu và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị. Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức để vận hành hiệu quả các hệ thống công nghệ, đáp ứng yêu cầu của mô hình hành chính phục vụ. Từ đó, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời, góp phần minh bạch hóa quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, mang lại sự thuận tiện và hài lòng cao hơn cho người dân và doanh nghiệp.
________________________
Tài liệu tham khảo
1, 3, 4, 5. Tô Lâm, Đột phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình, Tạp chí Cộng sản, số 1.061, tháng 5/2025, tr.6, 3, 6, 5.
2, 7. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về “Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, Hà Nội, tr.2, 4.
6. Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận số 221-KL/TW ngày 28/11/2025 về “Tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp”, Hà Nội, tr.1.
PHẠM VĂN LONG - NGUYỄN QUANG BÌNH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 628, tháng 12-2025