
Người Cơ Tu quan niệm, việc đan lát là việc của đàn ông. Do đó, từ lúc biết đi rừng, biết cầm rựa phát rẫy, những người đàn ông trong gia đình đã được dạy, từ cách lựa chọn các loại cây trong rừng, cách chẻ nan, vót nan, chuốt nan, đến cách đan những vật dụng trong gia đình, từ những đồ vật đơn giản cho đến phức tạp. Riêng một số sản phẩm như chiếu, gối lại thường là công việc của phụ nữ.
Nghệ nhân Cơ Lâu Nhất (sinh năm 1943, thôn Pơrning, xã Tây Giang) cho biết: “Người Cơ Tu ở Pơrning, xã Lăng đan được hầu hết các vật dụng khác nhau như gùi vận chuyển (gồm các loại: gùi ba lỗ cho đàn ông, gùi đựng đồ dùng trang sức và thổ cẩm, gùi có nắp, gùi trẻ em gái, gùi đựng vật dụng trong các lễ hội truyền thống, gùi đựng lúa ở nhà...) và các sản phẩm khác bao gồm nhiều loại như: Nia sảy lúa, nong phơi lúa, gùi ba ngăn của đàn ông, mâm ăn cơm các loại, mâm dùng để đựng đồ cúng trong các lễ hội truyền thống đến rổ đựng cơm hoặc đựng rau...”.

Nguyên liệu dùng trong đan lát của người Cơ Tu thôn Pơrning thường được khai thác từ tự nhiên có sẵn ở vùng rừng núi, bao gồm các loại cây thuộc họ tre (tre, nứa, lồ ô…) hoặc loại dây leo (mây, dây rừng…); ngoài ra, còn có các loại vỏ cây có vỏ mềm, dai, là nguyên liệu rất tốt để làm đế hoặc dây quai cho các sản phẩm đeo như gùi... Trước đây, những nguyên liệu nêu trên rất dồi dào, quanh địa bàn cư trú và rất dễ kiếm. Tuy nhiên, do nạn khai thác rừng bừa bãi, nhất là tình trạng phá rừng làm nương rẫy nên nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm; muốn lấy nguyên liệu, người làm nghề đan lát có khi phải đi bộ 4-5 giờ; phải vào rừng già mới có thể lấy được các loại như mây, lá dứa rừng…

Việc lựa chọn tre, lồ ô để đan lát dựa vào kinh nghiệm thực tế của người đan. Nghệ nhân Bhling Bai (sinh năm 1964 thôn Pơrning, Tây Giang) chia sẻ kinh nghiệm: “Chúng tôi thường chọn những cây tre hoặc lồ ô có độ tuổi từ 3 năm trở lên, vì nếu tre non thì rất giòn, dễ gãy; chỉ chặt vào những ngày cuối tháng không có trăng, bởi vì cây tre đầu tháng chứa nhiều nước nên mất nhiều thời gian khi sấy và dễ bị mọt. Tre phải thẳng đều và dài thì mới cho ra sợi nan suôn mượt, để khi đan không phải nối nhiều đoạn. Đối với cây mây, chúng tôi chỉ chọn lấy những dây mây già, có màu vàng hoặc xanh để đảm bảo độ dẻo…”.
Tre, mây khi đem về không được để quá lâu vì cây khô sẽ khó chẻ nan và cũng không giữ được độ dẻo thích hợp. Sau khi đã chọn được mây, tre đủ tiêu chuẩn, người đan sẽ bắt tay vào việc chẻ nan. Công đoạn này rất quan trọng nó thể hiện tài năng khéo léo, óc thẩm mỹ và kinh nghiệm lâu năm của người đan. Nan được chẻ, vót, chuốt mỏng hay dày là tuỳ thuộc vào sản phẩm sẽ được đan. Chẻ nan xong thì phải chuốt nan sao cho nan có độ̣ mềm, nhẵn và đều, để khi đan các nan khít vào nhau và không tạo ra kẽ hở. Nan chuốt xong sẽ đem treo lên giàn bếp trong một thời gian nhất định để tạo độ bóng, màu sắc, đồng thời tạo độ bền cho sản phẩm, chống mối mọt.

Kỹ thuật đan lát của người Cơ Tu rất phức tạp, nhất là đan gùi và không phải ai cũng đan được. Để tạo ra một sản phẩm là chiếc gùi, thường mất rất nhiều thời gian, từ việc đi lấy nguyên liệu (tre, mây, lồ ô...). Tùy thuộc vào từng sản phẩm mà người Cơ Tu phải áp dụng nhiều kỹ thuật đan khác nhau. Ngoài các sản phẩm trên, để phục vụ cho nhu cầu tại chỗ, người Cơ Tu còn đan một số loại: lờ để bắt cá, đan bẫy sò để bắt chuột, sóc... Kỹ thuật đan các loại sản phẩm này đơn giản theo lối lóng mốt, ai ai cũng đan được.
Hiện nay, thành phố Đà Nẵng rất quan tâm đến việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy những nghề truyền thống đồng bào dân tộc miền núi nói chung và đồng bào Cơ Tu nói riêng, trong đó có nghề đan lát. Trong những năm qua, thành phố đã có nhiều chính sách hỗ trợ kinh phí để khôi phục lại nghề đan lát tại các xã trên địa bàn các xã miền núi nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch cộng đồng. Đây là hướng đi quan trọng trong việc bảo tồn những nét văn hóa bản địa đặc sắc, những ngành nghề thủ công truyền thống của đồng bào Cơ Tu.
Bài và ảnh: LÂM ĐĂNG KHOA
Nguồn: Tạp chí VHNT số 628, tháng 12-2025