Tiết kiệm trở thành đòi hỏi của văn hóa phát triển

Có những thời điểm, một biến động của thế giới lập tức chạm vào từng căn bếp, từng chuyến xe, từng xưởng máy, từng phiên chợ của người dân. Giá xăng dầu là một trong những biến số như thế. Nó không chỉ là câu chuyện của thị trường năng lượng, mà còn là câu chuyện của đời sống xã hội, của chi phí sản xuất, của giá thành hàng hóa, của tâm lý tiêu dùng, và sâu xa hơn, là câu chuyện về sức chống chịu của một nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.

Bởi vậy, Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị không chỉ là một chỉ đạo kinh tế đơn thuần. Ẩn sau những yêu cầu rất cụ thể về dự báo, điều hành, sử dụng công cụ thuế, phí, tín dụng, quản lý giá, chống buôn lậu, chống găm hàng, là một thông điệp rất quan trọng: muốn giữ ổn định đất nước trong bối cảnh bất định, phải khơi dậy được năng lực tự điều chỉnh của toàn xã hội, trong đó có thực hành tiết kiệm trong tiêu dùng. Bộ Chính trị đồng thời yêu cầu sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn; các cấp, các ngành phải chung sức đồng lòng để giữ ổn định kinh tế - xã hội, kiên trì mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026 và các năm tiếp theo.

Nói đến tiết kiệm, nhiều người thường nghĩ đó là việc “thắt lưng buộc bụng”, là sự co lại của nhu cầu, là tâm thế dè sẻn trước khó khăn. Nhưng nếu nhìn từ chiều sâu văn hóa, tiết kiệm không phải là sự nghèo đi trong đời sống, mà là sự trưởng thành trong cách sống. Tiết kiệm là biết đặt cái cần lên trên cái muốn; biết sử dụng nguồn lực một cách có trách nhiệm; biết nghĩ đến lợi ích chung ngay trong hành vi riêng của mỗi người. Trong lúc giá nhiên liệu tăng cao, điều đó càng trở nên rõ hơn: một lít xăng được tiết kiệm hôm nay không chỉ giúp một gia đình giảm chi tiêu, mà còn góp phần giảm áp lực lên nguồn cung, giảm chi phí vận tải, giảm tâm lý đầu cơ tích trữ, giảm sức ép lạm phát cho toàn xã hội.

Thực hành văn hóa tiết kiệm, vì thế, cần được hiểu như một phẩm chất của công dân trong giai đoạn phát triển mới. Một xã hội văn minh không chỉ được đo bằng mức tiêu dùng cao, mà còn bằng năng lực tiêu dùng thông minh. Một quốc gia bản lĩnh không chỉ thể hiện ở chỗ có nhiều nguồn lực, mà còn ở chỗ biết dùng nguồn lực ấy sao cho hiệu quả, bền vững, và có khả năng đi qua khủng hoảng mà không đánh mất trật tự, niềm tin và mục tiêu phát triển.

Trong lịch sử dân tộc, tiết kiệm chưa bao giờ là một khẩu hiệu xa lạ. Từ lối sống trọng chắt chiu của người nông dân Việt Nam, từ nếp nhà quý công sức lao động, từ tư tưởng “liệu cơm gắp mắm”, đến đạo lý không phô trương, không hoang phí, tất cả đã tạo nên một lớp nền đạo đức bền chắc cho đời sống xã hội. Nhưng trong bối cảnh kinh tế thị trường và văn hóa tiêu dùng hiện đại, đức tính ấy có lúc bị che mờ bởi tâm lý chạy theo tiện nghi, phô diễn mức sống, sử dụng tài nguyên như thể là vô tận. Chính trong những thời điểm khó khăn như hiện nay, xã hội càng cần trở lại với giá trị cốt lõi ấy, không phải để quay về nếp sống kham khổ, mà để bước tới một mô hình phát triển tỉnh táo và bền vững hơn.

Ở góc độ này, tiết kiệm không đối lập với tăng trưởng. Ngược lại, nó là điều kiện để tăng trưởng có chất lượng. Một nền kinh tế càng hướng tới hiệu quả, càng phải coi trọng chống lãng phí năng lượng, tối ưu hóa chi phí logistics, tổ chức giao thông hợp lý, đổi mới công nghệ sản xuất, và tái cấu trúc tiêu dùng theo hướng xanh hơn. Tiết kiệm vì vậy không phải là câu chuyện của sự thiếu thốn, mà là một cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Văn hóa tiết kiệm phải trở thành nếp sống xã hội

Điểm rất đáng chú ý trong các chỉ đạo gần đây là Nhà nước không chỉ tập trung vào khâu điều hành vĩ mô, mà còn đặt vấn đề khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng như một giải pháp quan trọng để ổn định thị trường. Kết luận số 14-KL/TW nêu rất rõ yêu cầu khuyến khích tiết kiệm để bảo đảm ổn định nguồn cung và giảm thiểu tác động tiêu cực của biến động giá nhiên liệu trong nước. Sau đó, tại cuộc họp ngày 21/3, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục yêu cầu các bộ, ngành, địa phương có giải pháp thiết thực để khuyến khích người dân và doanh nghiệp tiết kiệm trong tiêu dùng, ưu tiên sử dụng giao thông công cộng, xe điện, nhiên liệu sinh học; đồng thời kêu gọi toàn xã hội coi việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả là cơ hội để thúc đẩy chuyển đổi năng lượng theo tinh thần Đại hội XIV.

Điều đó cho thấy, tiết kiệm ở đây không phải lời khuyên đạo đức chung chung, mà đã trở thành một định hướng chính sách gắn với ổn định vĩ mô, an ninh năng lượng và chuyển đổi xanh. Vấn đề còn lại là làm sao để tinh thần ấy đi vào đời sống một cách tự nhiên, bền bỉ, không hình thức.

Che Do Lai Xe Nao Ti.jpeg
Sử dụng tiết kiệm nhiên liệu - Ảnh minh họa: internet

Trước hết, trong mỗi gia đình, văn hóa tiết kiệm cần bắt đầu từ những thay đổi rất nhỏ nhưng rất thật. Đi gần thì đi chung xe, kết hợp nhiều việc trong một chuyến đi, hạn chế những hành trình không cần thiết, ưu tiên phương tiện công cộng khi có điều kiện, bảo dưỡng phương tiện định kỳ để giảm tiêu hao nhiên liệu, sử dụng điện, gas, xăng dầu hợp lý hơn trong sinh hoạt thường ngày. Những điều ấy tưởng như nhỏ, nhưng nếu hàng chục triệu hộ gia đình cùng thay đổi, hiệu quả tích lũy sẽ rất lớn. Quan trọng hơn, trẻ em lớn lên trong những gia đình ấy sẽ học được một bài học căn bản: tiêu dùng là một hành vi văn hóa, không chỉ là hành vi mua sắm.

Ở các cơ quan công sở, tiết kiệm cần trở thành chuẩn mực quản trị. Giảm hội họp hình thức, tăng ứng dụng công nghệ số, tổ chức lịch công tác khoa học để giảm những chuyến đi dàn trải, sử dụng xe công đúng mục đích, tiết kiệm điện năng, kiểm soát chi phí vận hành… Đó không chỉ là câu chuyện tiết kiệm ngân sách, mà còn là biểu hiện của một nền hành chính hiện đại, có kỷ luật, có trách nhiệm và nêu gương. Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang được yêu cầu hành động quyết liệt để giữ ổn định thị trường và tâm lý xã hội, khu vực công càng phải đi đầu trong thực hành tiết kiệm.

Đối với doanh nghiệp, văn hóa tiết kiệm càng có ý nghĩa sống còn. Giá nhiên liệu tăng kéo theo chi phí vận tải, nguyên liệu, kho bãi, logistics và tín dụng đều có thể gia tăng. Doanh nghiệp nào chỉ trông chờ vào trợ lực của Nhà nước mà không chủ động tái cấu trúc quản trị nội bộ thì sẽ rất khó thích ứng. Tiết kiệm ở đây không chỉ là cắt giảm chi phí, mà là tổ chức lại chuỗi sản xuất theo hướng tinh gọn hơn, đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, tối ưu hóa vận chuyển, chuyển đổi sang nguyên liệu ít phụ thuộc hơn vào biến động bên ngoài, và xây dựng văn hóa lao động hiệu quả trong từng khâu sản xuất. Đây chính là cách tiết kiệm có chiều sâu, tiết kiệm để mạnh lên, chứ không phải tiết kiệm để co cụm.

Một trong những thước đo của năng lực phát triển quốc gia trong giai đoạn mới chính là khả năng biến ứng xử tiết kiệm thành nếp sống xã hội. Nếu người dân hiểu rằng việc hạn chế một số tiêu dùng không cần thiết hôm nay là để bảo vệ sự ổn định của ngày mai; nếu doanh nghiệp hiểu rằng đầu tư vào hiệu quả năng lượng là đầu tư vào sức cạnh tranh; nếu cơ quan công quyền hiểu rằng tiết kiệm là trách nhiệm nêu gương trước nhân dân, thì xã hội sẽ hình thành một mặt bằng ý thức mới. Và khi ấy, tiết kiệm không còn là phản ứng tình thế trước khủng hoảng, mà trở thành phẩm chất ổn định của văn hóa phát triển.

Từ ứng phó trước mắt đến tầm nhìn dài hạn

Trong Công điện số 22/CĐ-TTg ngày 11/3/2026, Thủ tướng đã yêu cầu theo dõi sát diễn biến thị trường, bảo đảm cung ứng đủ xăng dầu cho sản xuất và tiêu dùng, đẩy nhanh bổ sung dự trữ quốc gia, phối hợp điều hành giá công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Sau đó, Kết luận số 14-KL/TW tiếp tục nâng tầm vấn đề lên thành định hướng của Bộ Chính trị, trong đó nhấn mạnh cả giải pháp trước mắt lẫn yêu cầu xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn.

Điều này gợi mở một yêu cầu lớn hơn: chúng ta không thể chỉ đối phó với mỗi đợt tăng giá bằng các biện pháp ngắn hạn, mà cần hình thành một nền văn hóa sử dụng năng lượng có trách nhiệm, gắn với an ninh năng lượng quốc gia, với mô hình tăng trưởng xanh và với bản lĩnh phát triển của đất nước.

Nền văn hóa ấy, trước hết phải được xây dựng trên nhận thức đúng. Xăng dầu không chỉ là hàng hóa; trong nhiều thời điểm, nó là yếu tố chiến lược, liên quan trực tiếp tới an ninh kinh tế, an ninh xã hội và cả năng lực tự chủ của quốc gia. Khi thị trường thế giới biến động vì chiến sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay cạnh tranh địa chính trị, mọi nền kinh tế phụ thuộc mạnh vào năng lượng nhập khẩu đều phải đối diện với rủi ro. Bởi vậy, cách ứng xử văn minh nhất không phải là hoang mang, đổ xô tích trữ, hay đẩy chi phí lên cho người khác gánh chịu, mà là bình tĩnh, tiết chế, tin vào điều hành của Nhà nước, và điều chỉnh hành vi tiêu dùng theo hướng có trách nhiệm. Bộ Chính trị cũng đã yêu cầu Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chỉ đạo báo chí, truyền thông thông tin phù hợp để ổn định tâm lý thị trường, cho thấy yếu tố tâm lý xã hội là cực kỳ quan trọng trong giai đoạn này.

Tiếp đến, nền văn hóa ấy phải gắn với giáo dục và truyền thông. Không thể đợi đến lúc giá xăng tăng mới nói đến tiết kiệm. Cần đưa tinh thần tiết kiệm năng lượng vào trường học, vào phong trào ở khu dân cư, vào tiêu chí xây dựng cơ quan văn hóa, doanh nghiệp văn hóa, đô thị văn minh. Các phương tiện truyền thông cần kể những câu chuyện gần gũi về những mô hình hay: khu dân cư đi chung xe, doanh nghiệp giảm mạnh chi phí nhiên liệu nhờ đổi mới công nghệ, địa phương phát triển tốt giao thông công cộng, trường học giáo dục học sinh về tiêu dùng có trách nhiệm. Khi giá trị được kể bằng câu chuyện sống động, nó mới đi vào lòng người.

Xa hơn nữa, nền văn hóa sử dụng năng lượng có trách nhiệm phải song hành với chuyển đổi cấu trúc phát triển. Khi Thủ tướng kêu gọi ưu tiên giao thông công cộng, xe điện, nhiên liệu sinh học và coi đây là cơ hội thúc đẩy chuyển đổi năng lượng, điều đó cho thấy Việt Nam đang nhìn cuộc khủng hoảng hiện tại không chỉ như một thách thức, mà còn như một lực đẩy cho cải cách. Nếu hạ tầng giao thông công cộng tốt hơn, nếu đô thị được quy hoạch để giảm nhu cầu di chuyển không cần thiết, nếu công nghiệp đầu tư mạnh vào công nghệ tiết kiệm năng lượng, nếu người dân có thêm lựa chọn xanh với chi phí hợp lý, thì văn hóa tiết kiệm sẽ không còn là lời kêu gọi đạo đức đơn lẻ, mà được nâng đỡ bằng chính sách và hạ tầng.

Ở đây, tiết kiệm không phải chỉ để vượt qua khó khăn hôm nay, mà còn để bảo vệ năng lực phát triển ngày mai. Một đất nước muốn tăng trưởng nhanh và bền vững không thể dựa trên mô hình tiêu hao tài nguyên quá lớn, chi phí năng lượng cao và hành vi tiêu dùng lãng phí. Trong kỷ nguyên mới, khi Việt Nam đặt ra những mục tiêu phát triển rất lớn, càng phải coi tiết kiệm là một dạng “nguồn lực mềm” của quốc gia. Nó là năng lực tự kiềm chế, tự điều chỉnh, tự vượt khó của xã hội. Nó làm nên sức bền của nền kinh tế, sức mạnh của tinh thần cộng đồng, và sự đồng lòng giữa Nhà nước với nhân dân.

Vì thế, Kết luận số 14-KL/TW được ban hành, có lẽ điều quan trọng nhất không chỉ là bàn xem giá xăng dầu sẽ tăng bao nhiêu, thị trường còn biến động thế nào, mà là tự hỏi: chúng ta sẽ ứng xử ra sao trước thử thách này? Nếu mỗi người chỉ nghĩ đến sự tiện lợi của riêng mình, xã hội sẽ thêm áp lực. Nhưng nếu mỗi người biết tiết chế một chút, chia sẻ một chút, thay đổi một chút, đất nước sẽ có thêm một vùng đệm quý giá để giữ vững ổn định.

Văn hóa tiết kiệm, rốt cuộc, không nằm ở những lời hô hào lớn lao. Nó nằm trong cách ta bật một công tắc điện, chọn một phương tiện đi lại, tổ chức một chuyến công tác, điều hành một dây chuyền sản xuất, hay đưa một chính sách vào cuộc sống. Từ những điều nhỏ bé ấy, một phẩm chất lớn của quốc gia được hình thành: biết quý trọng nguồn lực, biết nghĩ cho cộng đồng, biết biến khó khăn thành động lực đổi mới.

Và đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa của thực hành văn hóa tiết kiệm trong lúc này: không chỉ để giảm bớt gánh nặng trước mắt cho mỗi gia đình, mỗi doanh nghiệp, mà còn để cùng nhau giữ cho guồng quay phát triển của đất nước không chệch nhịp, giữ cho niềm tin xã hội không bị xao động, và giữ cho Việt Nam vững vàng bước tiếp trên con đường phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và nhân văn.