
Kinh tế thể thao Việt Nam tại Việt Nam đã hình thành như thế nào?
Trước tiên có thể khẳng định ngay: Chúng ta chưa hề có tư duy về kinh tế thể thao trong giai đoạn đất nước còn thuộc diện chậm phát triển về kinh tế nói chung (giai đoạn kinh tế tập trung bao cấp trước khi tiến hành đổi mới). Mọi thứ chỉ bắt đầu nhen nhóm từ khi có sự đổi mới mang tính bước ngoặt về tư duy quản trị.
Giai đoạn đầu tiên là dần hình thành chủ trương xã hội hóa (thập niên 90 của thế kỷ trước). Sau khi đất nước tiến hành công cuộc “Ðổi mới”, yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý TDTT trở nên cấp thiết. Bước ngoặt quan trọng đến từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII (1993) – văn kiện lần đầu tiên xác lập tư duy “xã hội hóa” trong các lĩnh vực dịch vụ công, bao gồm TDTT. Nghị quyết nhấn mạnh việc huy động nguồn lực từ toàn xã hội, giảm dần gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Tiếp đó, Chỉ thị 36-CT/TW năm 1994 về công tác TDTT đã cụ thể hóa định hướng này trong lĩnh vực thể thao, đặt nền móng cho việc đa dạng hóa hình thức tổ chức TDTT và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia. Ðặc biệt, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” tiếp tục khẳng định mạnh mẽ chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa – thể thao, coi đây là giải pháp chiến lược để phát triển bền vững.
Từ chủ trương của Ðảng là công tác thể chế hóa chính sách (giai đoạn 1999–2008). Nếu các văn kiện của Ðảng mang tính định hướng, thì giai đoạn từ 1999 đánh dấu bước chuyển sang thể chế hóa bằng pháp luật.
Tiêu biểu là Nghị định 73/1999/NÐ-CP – văn bản đầu tiên quy định tương đối đầy đủ các chính sách khuyến khích xã hội hóa, bao gồm lĩnh vực TDTT. Nghị định đã đưa ra hàng loạt cơ chế ưu đãi: Miễn, giảm tiền sử dụng đất và tiền thuê đất; ưu đãi thuế; hỗ trợ tín dụng đầu tư. Những chính sách này tạo điều kiện cho sự ra đời của các cơ sở TDTT ngoài công lập như: Câu lạc bộ thể thao tư nhân; Trung tâm thể hình, giải trí; Học viện đào tạo vận động viên. Tiếp đó, Nghị định 53/2006/NÐ-CP và đặc biệt là Nghị định 69/2008/NÐ-CP đã hoàn thiện khung pháp lý, mở rộng phạm vi và nâng cao mức ưu đãi. Giai đoạn này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khu vực ngoài công lập trong TDTT, đặt nền móng cho thị trường dịch vụ thể thao. Ðặc biệt, Luật Thể dục, Thể thao 2006 (sửa đổi năm 2018) đã xác định rõ: “Phát triển TDTT là sự nghiệp của toàn xã hội” và “khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực TDTT”. Ðây là cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy kinh tế thể thao phát triển theo hướng thị trường.
Tất cả đã tạo thành cơ sở để một số môn thể thao bắt đầu chuyển mình, có cơ chế thu hút nguồn vốn đầu tư từ xã hội và vận dụng hệ thống quản trị thể thao theo định hướng chuyên nghiệp. Tiêu biểu nhất chính là giải bóng đá vô địch quốc gia chuyên nghiệp lần đầu tiên – mùa giải 2000-2001. Lần đầu tiên Quy chế bóng đá chuyên nghiệp được vận dụng, cho phép các CLB được thuê, sử dụng cầu thủ nước ngoài (giới hạn số lượng). “Thương quyền” (hay quyền thương mại) của giải đấu lần đầu tiên được đề cập (nhượng quyền quảng bá hình ảnh, thương hiệu cho đối tác đổi lấy 1 giá trị kinh tế quy đổi thành tiền). Tuy nhiên trong giai đoạn từ 2000-2003, do còn thiếu kinh nghiệm (từ Liên đoàn Bóng đá Việt Nam tới các CLB) nên về thực chất mới chỉ chuyển sang một dạng “bao cấp mới” khi bán trọn thương quyền 2 mùa giải cho đối tác – công ty Strata (trụ sở tại Anh) với giá trị tương đương 2 triệu USD trong khi Strata vừa được gắn với tên giải, vừa được khai thác toàn bộ biển quảng cáo tại sân thi đấu của 10 CLB… Từ mùa giải 2003, thể theo yêu cầu của các CLB, LÐBÐVN đã lần đầu tiên giao quyền khai thác thương mại cho các CLB, tự mình tìm tài trợ chính cho giải, và ngay lập tức đã nâng tổng giá trị thương hiệu của V.Leauge lên hơn gấp đôi ở mùa đầu tiên, sau đó liên tục tăng trưởng ở các mùa tiếp theo. Chỉ trong vài mùa bóng, tổng giá trị thương quyền của giải đấu đã lên tới con số hơn 200 tỷ đồng/năm (bao gồm doanh thu tài trợ của Liên đoàn cũng như nguồn thu từ tài trợ - quảng cáo của các CLB)… Cũng trong giai đoạn này, một loạt các CLB đã chuyển đổi mô hình từ đội bóng thuộc Ngành (công an, quân đội, hải quan…) sang mô hình công ty với cơ chế phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước ở các địa phương (sở hữu sân vận động), đồng thời chuyển dần việc quản lý Trung tâm đào tạo bóng đá trẻ ở địa phương cho CLB. Cá biệt một số CLB đã được chuyển giao toàn bộ cho doanh nghiệp như Hoàng Anh Gia Lai, Gạch Ðồng Tâm Long An… lập tức không chỉ trở thành “miền đất hứa” với các cầu thủ giỏi trong và ngoài nước mà còn nâng cao chất lượng đào tạo trẻ.
Từ nửa sau của thập niên 2000, Hà Nội T&T đã trở thành “hình mẫu” mới của sự đầu tư – xã hội hóa một cách toàn diện, với hệ thống đào tạo bóng đá trẻ rất bài bản. Cùng thời điểm ấy, sự ra đời của Học viện bóng đá trẻ Hoàng Anh Gia Lai - Arsenal - JMG cũng lần đầu tạo ra tiền đề để các CLB bóng đá có thể hợp tác với các đối tác nước ngoài, tạo nên mô hình đào tạo chất lượng cao qua đó tiến tới “xuất khẩu” cầu thủ.
Sau bóng đá, tới lượt quần vợt, bóng chuyền, bóng bàn, bóng rổ, điền kinh… thu hút sự tham gia đầu tư, tài trợ của các doanh nghiệp. Với nguồn kinh phí xã hội hóa, chất lượng các giải vô địch quốc gia được nâng cao, các đội tuyển quốc gia cũng được hưởng lợi, hình ảnh thể thao nước nhà nhìn chung được cải thiện rất nhanh với sự tiến bộ của đoàn thể thao Việt Nam tại các kỳ SEA Games, Asiad (Ðại hội thể thao châu Á). Sự tham gia tích cực của giới truyền thông – báo chí thể thao cũng góp phần tạo nên “giá trị gia tăng” thu hút các doanh nghiệp tham gia tích cực hơn (vì qua đó họ được sự quảng bá mạnh mẽ hơn cho hoạt động kinh tế của mình)…
Song song với xã hội hóa, khái niệm “kinh tế thể thao” dần được hình thành và phát triển. Một dấu mốc quan trọng là sự ra đời của bóng đá chuyên nghiệp với việc thành lập Công ty Cổ phần Bóng đá Chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) vào cuối năm 2011 (bắt đầu tổ chức mùa giải bóng đá chuyên nghiệp 2012), đánh dấu bước chuyển sang mô hình doanh nghiệp tổ chức thể thao. Trong giai đoạn này hoạt động tài trợ, quảng cáo trong thể thao phát triển mạnh, bản quyền truyền hình các giải đấu bắt đầu có giá trị kinh tế, các doanh nghiệp đầu tư vào thể thao như một kênh marketing hiệu quả.

Tiềm năng và nguồn lực kinh tế thể thao tại Việt Nam
Như đã đề cập, bóng đá là môn thể thao đã tiên phong trong chủ trương xã hội hóa, trong đó nổi bật là thu hút nguồn vốn tài trợ, đầu tư nhiều nhất từ chủ trương xã hội hóa. Nhiều CLB gần như hoạt động 100% từ nguồn vốn tư nhân. Có thể kể tên những đội bóng đã và đang thi đấu nổi bật tại đấu trường V.League các năm qua như Hà Nội FC, Thép Xanh Nam Ðịnh, Ninh Bình FC, Becamex Bình Dương, Hoàng Anh Gia Lai… Một số hoạt động nhờ nguồn tài trợ cộng thêm ngân sách nhà nước đối ứng thông qua Sở VHTT hoặc Sở VHTTDL của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Sông Lam Nghệ An, Hải Phòng, Thanh Hóa… Ngay cả ở giải hạng Nhất cũng đã có những CLB do tư nhân đầu tư, hoạt động chủ yếu từ nguồn lực xã hội hóa như Trường Tươi Ðồng Nai, Xuân Thiện Phú Thọ, Bắc Ninh FC. Các doanh nghiệp tham gia đầu tư, tài trợ cho các CLB bóng đá, ngoài giá trị quảng bá thương hiệu còn đương nhiên cũng hưởng ưu đãi từ địa phương về thuế hay những chính sách về hạ tầng, đầu tư trên địa bàn. Trong vài năm trở lại đây, Bộ Công an – với cơ chế thu hút xã hội hóa thể thao của mình cũng đã “tái sinh” các tên tuổi như Công an Hà Nội, Công an TPHCM ở đấu trường chuyên nghiệp. Trong khi ấy, Tập đoàn Viettel của Bộ Quốc Phòng từ lâu đã duy trì đầu tư cho CLB Thể Công Viettel để tiếp nối truyền thống của CLB Thể Công (hay CLB Quân đội) lừng lẫy một thời… Năm 2024, hợp đồng bản quyền truyền hình của các giải bóng đá chuyên nghiệp quốc gia đã được VPF (Công ty cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam) chuyển giao cho FPT Play với giá trị ước tính lên tới 300 tỷ đồng/5 năm, một bản hợp đồng kỷ lục chưa từng có của bóng đá Việt trước đó!
Ở môn bóng chuyền (cũng luôn thu hút lượng khán giả lớn đến với các nhà thi đấu) cũng vậy, với nhiều đội bóng mang tên các doanh nghiệp như LPBank Ninh Bình, Ngân hàng Công Thương, Hóa chất Ðức Giang, VTV Bình Ðiền Long An, Xi măng Long Sơn Thanh Hóa, Geleximco Hưng Yên, Hà Nội Tasco Auto, Sanest Khánh Hòa…
Môn bóng rổ với đặc thù riêng cũng có sự đầu tư từ không ít doanh nghiệp, trong đó có các đối tác nước ngoài, qua đó hình thành giải VBA (giải bóng rổ nhà nghề Việt Nam) ra đời từ năm 2016 với các tên tuổi như Hanoi Buffaloes, Hochiminh city wings, Danang Dragons, Cantho Catfish… Với sức hấp dẫn cao, giải đã thu hút nhiều VÐV Việt kiều hoặc VÐV nước ngoài đến đầu quân thi đấu, qua đó không ngừng nâng cao chất lượng. Phong trào bóng rổ trong học sinh, sinh viên (đặc biệt là hình thức chơi bóng rổ 3x3 phù hợp với không gian nhỏ, dễ tổ chức ở các trường phổ thông) cũng thu hút lượng “fan” đông đảo, tạo nên một nền tảng mạnh mẽ từ phong trào tới đỉnh cao.
Gần đây nhất là sự phát triển của các môn như điền kinh hay pickleball. Trong đó, các nội dung chạy việt dã và marathon ngày càng được ưa chuộng với số lượng người tham gia rất đông đảo. Có những giải như Tiền Phong Marathon, VnExpress, Techcombank Marathon, VP Bank Marathon… do các cơ quan báo chí, ngành TDTT địa phương phối hợp Liên đoàn điền kinh VN và các doanh nghiệp lớn tổ chức thu hút hàng vạn người tham gia, trong đó có hàng nghìn VÐV đến từ nước ngoài sẵn sàng bỏ tiền mua suất tham dự (mua bib) để được trải nghiệm với các giải đấu được tổ chức ở các địa điểm du lịch nổi tiếng tại Hà Nội, TPHCM, Quảng Ninh, Ðà Nẵng, Sa Pa, Lý Sơn, Nha Trang... Ðương nhiên, các giải đấu này cũng đã góp phần tinh cực vào phát triển du lịch nói riêng và kinh tế địa phương nói chung (vừa quảng bá cho địa phương, vừa đẩy mạnh các dịch vụ khách sạn, nhà hàng, vật phẩm lưu niệm…).
Trong khi ấy, môn pickleball, dù chưa có Liên đoàn quốc gia cũng từ một trào lưu mang tính tự phát đã thu hút lượng người chơi ngày càng lớn, được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong vòng 5 năm trở lại đây với vô vàn các giải đấu từ phong trào tới thành tích cao, kéo theo đó là các dịch vụ dạy kèm, huấn luyện viên – hướng dẫn viên cá nhân, thậm chí cả sự ra đời của một số đơn vị chuyên cung cấp các dịch vụ tổ chức, truyền thông trong lĩnh vực này.
Song song với các giải đấu là sự phát triển của các loại hình truyền thông xã hội liên quan, thậm chí còn được đánh giá là hiệu quả hơn cả báo chí truyền thống. Facebook, Instagram, Youtube, Tik Tok… tràn ngập các trang về bóng đá, bóng bàn, bóng chuyền, bóng rổ, điền kinh, pickleball… Truyền hình thể thao cũng đã có nhiều thay đổi khi không chỉ trên các phương tiện phát sóng truyền thông mà tăng cường các dịch vụ OTT trên các ứng dụng điện thoại di động (smart phone) và cả smart TV. Nhiều doanh nghiệp đã nắm bắt được nhu cầu thưởng thức sản phẩm truyền thông thể thao của đông đảo khán giả, đưa ra hàng loạt gói cước linh hoạt như FPT Play (sản phẩm của công ty FPT Telecom thuộc Tập đoàn FPT), TV360 (Viettel)…
Một điều đáng ghi nhận nữa là hoạt động sản xuất trang thiết bị, dụng cụ, phụ kiện cho thể thao cũng liên tục phát triển trong những năm qua. Nổi bật nhất trong các doanh nghiệp – nhà sản xuất trong nước chính là Ðộng Lực (xem bài cùng số này). Không chỉ có sản phẩm bóng đạt tiêu chuẩn FIFA Approved (đủ điều kiện sử dụng tại các giải hàng đầu thế giới) từ rất lâu – nhiều năm là bóng đá thi đấu chính thức tại các giải quốc gia, Ðộng Lực còn có hàng trăm sản phẩm thiết bị thể thao với hệ thống các siêu thị thể thao Olympic, đặc biệt là việc liên kết với các nhãn hiệu lớn như Mitre (Anh), Jogabola (Nhật Bản) để sản xuất, kinh doanh các nhãn hàng này tại Việt Nam. Rất nhiều doanh nghiệp khác trong nước cũng đã tham gia thị trường thể thao (vốn ngày càng sôi động) như các công ty Vifa Sport, KingSport, Daiviet Sport (dụng cụ, trang thiết bị, phụ kiện), Donnex, Paramax, Wika (thời trang thể thao), thậm chí cá biệt có cả sản phẩm đã góp phần vào World Cup bóng đá thế giới như lưới cầu môn của TechNet – một công ty chuyên sản xuất lưới đánh cá đã nhanh nhạy chuyển mình để tham gia một phân khúc nhỏ trong thị trường thể thao toàn cầu. Hay công ty TNHH Ðại Dũng đã trực tiếp tham gia cung cấp và thi công kết cấu thép cho một số SVÐ tại Qatar ở World Cup 2022!
Trong những năm gần đây, người ta cũng nhắc rất nhiều tới phát triển các sản phẩm du lịch thể thao nhằm phát huy tối đa tiềm năng du lịch của nhiều địa phương. Như Ðà Nẵng từ lâu đã là điểm đến của các sự kiện Ironman, Triathlon (môn thi kết hợp bơi, chạy, đạp xe) thử thách sức chịu đựng của cơ thể tới cực đại, thu hút hàng trăm, thậm chí hàng nghìn du khách mỗi năm. Các giải marathon, siêu marathon (quãng đường lên tới 100km) vốn rất “hút khách” quốc tế cũng được tổ chức tại một số nơi có phong cảnh đẹp như Sa Pa (Lào Cai) hay Ðà Lạt (Lâm Ðồng). Bên cạnh đó, tiềm năng du lịch thể thao cao cấp, nổi bật là du lịch golf cũng đã được đề cập rất nhiều tại các diễn đàn, có thể thu hút lượng khách không đông, nhưng “chất” khi ngày càng nhiều sân golf Việt Nam được xếp hạng đẹp của thế giới (hiện có 4 sân golf trong tốp 100 sân golf đẹp nhất thế giới 2025 là FLC Halong Bay GC & Luxury Resort, The Bluffs Grand Ho Tram Strip, Laguna Lang Co và Ba Na Hills Golf Club).
Quá trình đổi mới tư duy quản lý và thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước, TDTT Việt Nam đã từng bước huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, hình thành nền kinh tế thể thao với nhiều tiềm năng phát triển, dù thực tiễn cũng chỉ ra rằng còn nhiều hạn chế, cản trở (trong đó có những việc chậm cập nhập, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới cơ chế, chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư…).
“Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045” tiếp tục xác định: Phát triển kinh tế thể thao là một trong những trụ cột; hình thành thị trường thể thao hiện đại, hội nhập quốc tế. Trong giai đoạn tới, việc hoàn thiện thể chế (trong đó có việc sửa đổi Luật TDTT, bên cạnh đó là những văn bản quy phạm pháp luật liên quan còn đang là trở ngại cho xã hội hóa thể thao), nâng cao năng lực quản lý và thúc đẩy đổi mới sáng tạo sẽ là chìa khóa để TDTT Việt Nam không chỉ phát triển về phong trào mà còn trở thành một ngành kinh tế có đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng quốc gia.

HỮU BÌNH
Nguồn: Đặc san Thể thao & Đời sống số 1, tháng 5-2026