Từ khóa: không gian đô thị; đô thị hóa; khủng hoảng căn tính.

Abstract: This article employs the theory of urban spatial production to analyze Ly Lan’s short story Has she gotten married yet, with a focus on the manifestation of the characters’ identities within the context of urbanization. The study investigates how the characters express and construct their identities through aspects of marriage, gender, happiness, and social norms. The work exposes the identity crisis of modern individuals, while also demonstrating the potential for dialogue and transcendence beyond imposed orders. Thereby, the short story depicts an existential tragedy: human beings are both subjected to the influence of the urban cultural system and actively construct new identities through memories and cultural interactions.

Keywords: urban space; urbanization; identity crisis.

1. Đặt vấn đề

Nhà văn Lý Lan là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học miền Nam. Thực hành văn chương của bà giản dị nhưng giàu tính biểu đạt, các tác phẩm triệt để khai thác chiều sâu văn hóa và nhấn mạnh đến sự dịch chuyển của không gian sống trong bối cảnh toàn cầu hóa. Truyện ngắn Chị ấy lấy chồng chưa nằm trong tập Một góc phố Tàu (2001) nổi bật bởi lối khắc họa tiếng nói cộng đồng thiểu số giữa đô thị Sài Gòn, đồng thời thể hiện năng lực tổ chức các mã ký hiệu văn hóa từ cấu trúc hôn nhân đến diễn ngôn giới trong một không gian xã hội đang biến đổi mạnh mẽ.

Các nghiên cứu hiện có về Chị ấy lấy chồng chưa đã khai thác các khía cạnh như hiện thực xã hội, diễn ngôn nữ quyền, tâm lý nhân vật nhưng góc độ nhân học đô thị vẫn chưa được chú trọng. Bài viết sử dụng nhân học đô thị để phân tích cách Lý Lan trình hiện căn tính và xung đột văn hóa, mã hóa hôn nhân, giới tính, hạnh phúc trong đô thị. Đặt trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ của Sài Gòn sau 1975, Chị ấy lấy chồng chưa khắc họa hành trình tìm kiếm ký ức tuổi thơ của nhân vật Mọi hay Jack Miller (tên sau khi sống lưu vong ở Mỹ).

2. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả vận dụng lý thuyết sản xuất không gian trong đô thị, trong đó trọng tâm là các luận điểm của Henri Lefebvre, nhằm làm sáng tỏ quá trình kiến tạo không gian đô thị như một sản phẩm xã hội, đồng thời chỉ ra cơ chế vận hành của nó trong việc định hình căn tính cá nhân và tập thể. Bài viết tập trung làm rõ cách thức mà không gian đô thị được cấu thành từ những va đập văn hóa, lịch sử và xã hội, đồng thời khám phá cơ chế đối thoại và vượt thoát khỏi các trật tự áp đặt được Lý Lan biểu đạt trong truyện ngắn của mình.

Nghiên cứu vận dụng phương pháp tiếp cận nhân học đô thị nhằm phân tích cấu trúc không gian và các yếu tố ký hiệu học trong diễn ngôn văn học, qua đó làm rõ cách căn tính của các nhân vật di dân và cộng đồng thiểu số được kiến tạo và truyền đạt trong tác phẩm của Lý Lan. Phương pháp ký hiệu học cũng được triển khai khi coi không gian đô thị như một trường ký hiệu học đồng hiện và đối thoại với văn bản văn chương, tạo thành một mạng lưới ký hiệu chồng lấn và tương tác. Thao tác phân tích chính được sử dụng là so sánh, nhằm đối chiếu giữa không gian truyền thống (xóm chợ nghèo) với không gian hiện đại (khách sạn sang trọng), đồng thời làm rõ cách khủng hoảng căn tính được kiến tạo trên bình diện vi mô (ký ức cá nhân) và được định hình bởi các lực đẩy vĩ mô (đô thị hóa và toàn cầu hóa).

Nghiên cứu cũng tập trung khảo sát cách nhìn về đô thị hóa của thế hệ đương đại - những người chứng kiến và trải nghiệm sự dịch chuyển văn hóa thông qua tác phẩm của Lý Lan. Nghiên cứu này góp phần định vị Chị ấy lấy chồng chưa như một văn bản đô thị quan trọng, phản ánh tiếng nói của những chủ thể bên lề (cộng đồng lao động nghèo và di dân) vốn ít được văn học chính thống đề cập.

3. Kết quả và thảo luận

Không gian đô thị như trường văn hóa

Trong bối cảnh miền Nam với lịch sử di cư và giao thoa văn hóa mạnh mẽ, việc ứng dụng phương pháp nhân học đô thị dù còn mới mẻ đã hình thành những định hướng rõ rệt. Nguyễn Thị Thu Hà trong tiểu luận Văn học và đô thị: Một số tiếp cận nhân học đô thị trong văn xuôi Việt Nam đương đại (2020) đã nhấn mạnh đô thị như một trường ký hiệu học. Soi chiếu vào truyện ngắn của Lý Lan khắc họa xóm chợ nghèo và khách sạn sang trọng như hai không gian tương phản; nơi các nhân vật như Hạnh, Mọi, Bèo, Kim Thoa và người dân lao động nghèo xóm chợ tương tác với các hệ giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại.

Trong công trình nền tảng The Production of Space (Sự sản xuất không gian) (1984), Lefebvre lập luận rằng không gian không chỉ là một thực thể vật lý khách quan, mà là sản phẩm xã hội được kiến tạo qua các mối quan hệ quyền lực, thực hành đời sống và tưởng tượng biểu tượng. Theo cách hiểu tổng quát, không gian tồn tại ở ba cấp độ: không gian được nhận thức (perceived space), không gian được quan niệm (conceived space) và không gian được sống (lived space). Trong Chị ấy lấy chồng chưa của Lý Lan, lý thuyết không gian đã soi rọi cách cộng đồng người dân lao động xóm chợ không chỉ cư trú mà còn “sản xuất” không gian văn hóa riêng biệt của họ trong lòng đô thị Sài Gòn.

Theo Lefebvre (1991), đô thị là sản phẩm của các mối quan hệ quyền lực, ký ức tập thể và thực hành văn hóa. Ngoài ra, không gian không mang tính ổn định mà được kiến tạo liên tục thông qua các thực hành xã hội và xung đột quyền lực, đặc biệt tại các ranh giới nơi các hệ giá trị đối lập giao thoa. Kết hợp với lý thuyết “semiosphere” của Yuri Lotman (2005) không gian đô thị hiện lên như một trường ký hiệu học năng động, nơi các mã văn hóa truyền thống và hiện đại, bản địa và ngoại nhập va chạm, sản sinh ý nghĩa mới. Những không gian xã hội trong truyện vừa định hình căn tính các nhân vật, vừa chủ động kiến tạo căn tính thông qua thực hành văn hóa và ký ức.

Mặt khác, trong công trình The Practice of Everyday Life (Thực hành đời sống thường nhật) (1984), Michel de Certeau đề xuất khái niệm “thực hành không gian”. Tức là cách cư dân đô thị hóa không gian, biến xóm chợ thành một trường văn hóa năng động, nơi các giá trị truyền thống và thực tế đô thị giao thoa, xung đột. Đây là không gian của sự sinh tồn, nơi những con người - những chủ thể ký hiệu bị gắn mác nghèo hèn vẫn cố gắng vật lộn với đời sống đô thị.

Ngược lại, không gian nhà hàng năm sao và khách sạn sang trọng đại diện cho một thế giới xa lạ với người dân lao động. Những địa điểm này không được miêu tả chi tiết, nhưng qua hành động của các nhân vật, Lý Lan làm nổi bật sự đối lập giữa hai thế giới. Trong cuộc đời tăm tối của họ, ít khi nào họ được người khác phục vụ; thực đơn toàn đồ ăn Tây xịn cả đời họ chưa được nếm qua, nào là bồ câu rô ti, tôm hùm xuất khẩu, hải sâm, bia lon ngoại nhập. Mấy đứa nhỏ trao tráo mắt nhìn sang, há hốc mồm nhìn những chùm đèn rực rỡ nhấp nháy của nhà hàng khách sạn bờ sông. Buồn thay buổi tiệc nào cũng đến lúc tàn, chúng vùng vằng tiếc nuối, chua chát hỏi nhau: “Về nhà là về đâu? Ngã tư đầu xóm chợ chiều mà là nhà ư?” (Lý Lan, 2001, tr.88).

 Không gian khách sạn, qua nhân vật Kim Thoa, làm nổi bật sự tương phản giữa vẻ ngoài hào nhoáng và thực tế nghiệt ngã. Đỉnh điểm của sự giao thoa, nhưng cũng là bi kịch của sự bất tương thích văn hóa được thể hiện qua cảnh Kim Thoa nằm dài trong khách sạn, thân thể tỏa mùi nước hoa hăng hắc rẻ tiền. Suốt đời cô chỉ mơ ước được nằm trên một cái giường tử tế, trong vòng tay một người đàn ông tử tế. Trong không gian tưởng như đỉnh cao của văn minh vật chất (giường êm, đèn hồng, lọ hoa, tivi) lại tràn ngập bi kịch hiện sinh. Không gian khách sạn trở thành phông nền của sự trần trụi, nơi mọi ảo tưởng bị lột trần, phơi bày thân phận và bản chất gãy vỡ của cả hai nhân vật: một Kim Thoa khát khao được làm người và một Jack Miller, hình nộm đứt dây, trở về từ giấc mộng Mỹ với thực tại bệnh tật, nghèo đói và hoài niệm tuổi thơ. Anh nói: “Chúng ta cùng thân phận mà. Ở Mỹ, anh chỉ là một thằng da đen, không gia thế, không văn hóa, không nghề nghiệp, sống bằng phiếu trợ cấp thực phẩm và làm đồ chơi cho bọn đồng tính luyến ái… Anh biết mình sắp chết nên về đây tìm kiếm một ảo vọng của tuổi thơ… Anh đã tiêu đến đồng đô la cuối cùng rồi” (Lý Lan, 2001, tr.89).

Sự đan cài các loại hình không gian như xóm chợ chiều, nhà hàng hay khách sạn, nơi ranh giới giữa các hệ thống ký hiệu chồng lấn, va đập và trượt nghĩa diễn ra đối thoại văn hóa. Không gian trong truyện tái hiện các mã văn hóa (giữa truyền thống với hiện đại, bản địa với ngoại nhập) xung đột, dịch chuyển và sản sinh nghĩa mới. Cụ thể, một trường văn hóa được xây dựng qua ranh giới: giữa xóm chợ và nhà hàng sang trọng, giữa khát vọng và hiện thực, giữa ảo ảnh và sự thật được xây đắp từ đời sống các nhân vật. Lý Lan để họ đối diện với chính mình trong quá trình va chạm của các hệ giá trị và thân phận khi gặp lại Jack Miller và sự phục dịch xa hoa của đồng đô la đem lại, nhằm phơi bày sự phân hóa xã hội và sự sống động của văn hóa.

 “Chị ấy lấy chồng chưa như là dạng thức quan hệ quyền lực phi chính thức và thực hành đời thường

Câu hỏi “Chị ấy lấy chồng chưa” là một ký hiệu văn hóa động, thể hiện sự đối thoại văn hóa. Đặt trong bối cảnh làng quê Việt Nam, ban đầu nó mang ý nghĩa truyền thống, phản ánh quan niệm hôn nhân như thước đo hạnh phúc và địa vị xã hội của phụ nữ. Từ góc nhìn nhân học đô thị, câu hỏi này đóng vai trò như một thực hành văn hóa, định hình các tương tác xã hội và thể hiện sự giao thoa giữa các giá trị truyền thống (hôn nhân như thước đo hạnh phúc) và hiện đại (tự do cá nhân, nữ quyền). Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nơi các giá trị phương Tây thâm nhập vào văn hóa Việt Nam, câu hỏi này trở thành một biểu tượng của sự dịch chuyển ý nghĩa, phá vỡ ranh giới giữa các hệ thống văn hóa, từ đó đặt ra câu hỏi triết học về hạnh phúc và bản sắc cá nhân.

Mỗi biểu tượng hay ký hiệu được Lý Lan gửi gắm trong tác phẩm đều có mối quan hệ đan bện tạo nên một câu chuyện của một đám dân xóm nghèo. Câu hỏi “Chị ấy lấy chồng chưa” xuất hiện ngay từ nhan đề và trở đi trở lại trong suốt câu chuyện, đóng vai trò như một ẩn dụ xuyên suốt cho mối quan hệ giữa con người với sự chi phối mạnh mẽ của bối cảnh kinh tế, xã hội. Nó mang theo ký ức tập thể về áp lực xã hội lên phụ nữ, nơi hôn nhân được xem như thước đo hạnh phúc và địa vị xã hội. Ngoài ra, nó phản ánh các giá trị bảo thủ chi phối hành vi cá nhân, khi “con gái trong xóm chợ chiều học đến hết tiểu học thì số phận gần như được định đoạt: ở nhà coi em, giặt giũ, phụ cha mẹ làm ăn, làm mướn và đích đến cuối cùng là lấy chồng” (Lý Lan, 2001, tr.78).

Trong ký ức của Mọi và Bèo, một cô giáo Hạnh sống giữa xóm lao động nghèo tái định nghĩa ký hiệu này thông qua sự kháng cự và lòng nhân ái. Cô biến ký hiệu hôn nhân thành biểu tượng của sự bao dung, thách thức mã văn hóa “elitist” (chủ nghĩa tinh hoa) của người yêu, được trình hiện là người thanh lịch, đi vespa, giáo sư đệ nhị cấp. Bài hát trẻ con “Cô dâu xinh xinh/ Chú rể lùn lùn” hoặc “Cô dâu xinh xinh/ Chú rể cào cào” củng cố mã văn hóa truyền thống về sự khập khiễng trong hôn nhân. Không gian xóm chợ vùng ngoại biên “quanh co, lầy lội” là biểu tượng của sự chuyển đổi đô thị chưa hoàn thiện, nơi các bất bình đẳng xã hội được phơi bày qua sự tương tác giữa Hạnh, Mọi, Bèo và người yêu “elitist” của cô.

Hành động của Hạnh từ chối một người đàn ông có trái tim khô héo tình thương đồng loại là một quá trình dịch thuật văn hóa, chuyển đổi ký hiệu hôn nhân thành biểu tượng của sự tự chủ và đạo đức xã hội. Trước đó, Hạnh cũng khao khát “rồi một ngày kia sẽ có một người đàn ông chân chính đến tận ngõ nhà cô, đưa cô ra khỏi con hẻm quanh co, lầy lội này để đến miền hạnh phúc” (Lý Lan, 2001, tr.79). Trong hành trình tầm căn, Mọi nhớ về chị Hạnh với lời hứa: “Đám cưới chị sẽ mời hai em… Sẽ gửi thiệp hồng đàng hoàng, đãi nhà hàng lớn hẳn hoi!”. Hạnh đã xem chúng là những vị khách đàng hoàng. Và cũng vì yêu thương những đứa trẻ bất hạnh mà Hạnh đã xung đột với người yêu: “Khách khứa đều là người học thức có địa vị xã hội. Họ sẽ nghĩ sao nếu em mời hai thằng móc rác ngồi ngang hàng với họ!” hay “Em điên rồi!” (Lý Lan, 2001, tr.85-86). Vì khác quan điểm với người yêu, hôn nhân của Hạnh đổ vỡ.

Mặt khác, khái niệm “elitist” được thể hiện qua thái độ của nhân vật người yêu Hạnh, phản ánh một tư duy đề cao tầng lớp tinh hoa và xem nhẹ những người thuộc giai tầng thấp hơn trong xã hội. Soi chiếu lý thuyết trong chuyên luận The Location of Culture (Vị trí của văn hóa) (1994), Homi Bhabha đề xuất các khái niệm như hybridity (lai ghép), third space (không gian thứ ba) để chỉ ra rằng bản sắc văn hóa không cố định, mà luôn được kiến tạo trong các quá trình giao thoa, đàm phán và tái định nghĩa. Cụ thể, người yêu của Hạnh khẳng định sự vượt trội của tầng lớp có học thức và quyền lực so với những người lao động nghèo.

Trong công trình The Practice of Everyday Life (1984), Bhabha đề cập đến cách thức các cộng đồng bên lề, như người dân xóm lao động nghèo sử dụng “strategies” (chiến lược) phi chính thống để tồn tại. Học giả này lập luận rằng trong hoàn cảnh bị áp bức, các cộng đồng này không trực tiếp đối đầu với quyền lực thể chế. Điển hình là Hạnh không có quyền phá vỡ quy tắc, nhưng lại có thể định hình lại ý nghĩa của chúng thông qua sự lựa chọn đạo đức trong tương tác. Việc cô mời hai đứa trẻ móc rác dự đám cưới là thách thức trực tiếp hệ giá trị mà người yêu cô đại diện: một người đàn ông đi xe vespa, thuộc tầng lớp trí thức, tin vào sự phân biệt “khách có học thức” và “móc rác”.

Nhìn chung, không gian trong truyện vì thế hoạt động như một biên giới ký hiệu học động, nơi diễn ra sự chuyển dịch ngầm giữa hệ hình cũ và mới, giữa sự trì trệ và khát vọng thay đổi. Nó trở thành một đối tượng tham gia vào mạng lưới đối thoại giữa các nhân vật, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa hiện tại và ký ức. Lý Lan đồng thời cũng khám phá các chủ đề đạo đức, ý thức xã hội lột tả chủ nghĩa phân biệt giới tính và phân biệt giai cấp.

Nhân vật như một ký hiệu về căn tính di dân và sự lai ghép văn hóa

 Trong văn học, hình tượng nhân vật được tác giả tạo nên nhằm chuyển tải tư tưởng thẩm mỹ, còn người đọc cũng thông qua hệ thống nhân vật để khám phá thông điệp nghệ thuật của tác phẩm. Như GS Hà Minh Đức nhận định: “Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định” (2012, tr.160). Để gia cố thêm cho luận điểm về chức năng của nhân vật, GS Trần Đình Sử cho rằng: “Chức năng chủ yếu của nhân vật là xác lập mô hình của hiện thực và thể hiện định hướng về giá trị đối với cuộc sống” (2014, tr.114). Dù giữ vị trí quan trọng, trong giai đoạn trước Đổi mới (1986) như Lê Ngọc Trà đã chỉ rõ: “Các nhà văn chỉ mới có điều kiện quan tâm chủ yếu đến cái chung chứ chưa phải cái riêng và do đó, số phận con người chưa có được vị trí xứng đáng trong văn học” (2015, tr.54). Phải đến sau Đổi mới, hình tượng con người cá nhân mới thực sự được đặt vào vị trí trung tâm trong sáng tác văn học.

Hệ thống nhân vật được Lý Lan kiến tạo như những điểm giao thoa của các mã văn hóa khác biệt. Đối thoại văn hóa xảy ra khi các hệ thống ký hiệu khác nhau tương tác tại “ranh giới ký hiệu học” nơi diễn ra quá trình chuyển nghĩa, dịch mã và sáng tạo ý nghĩa mới. Hệ thống nhân vật vì thế không được xây dựng như những cá thể tự thân khép kín, mà là những đơn vị ký hiệu học đa trị, vận hành trong một không gian diễn ngôn mở. Mặt khác, dưới góc nhìn phê bình ký hiệu học mở ra “biên giới không phải là giới hạn, mà là cơ chế sáng tạo năng động nhất trong văn hóa” (Lotman,1990, tr.136). Chính tại biên giới ấy, nhân vật trong truyện ngắn của Lý Lan hiện lên một ký hiệu về căn tính di dân và sự lai ghép văn hóa.

 Truyện Chị ấy lấy chồng chưa kể về Mọi, xuất thân là một thằng da đen, không cha mẹ, không nhà cửa, sống bằng nghề móc rác. Rồi Mọi theo diện con lai sang Mỹ, khi trở lại khu xóm chợ tồi tàn, anh ta mang cái tên Jack Miller. Mọi khao khát được gọi đúng bản dạng của mình, tất thảy họ từ chối rằng: “Họ muốn bạn họ là Jack Miller - người Mỹ. Họ đã là Su, là Che, là Bèo, thêm một thằng Mọi làm gì” (Lý Lan, 2001, tr.83). Nhân vật này xuất thân từ một không gian phi trung tâm, nơi các thực hành đời thường và mối quan hệ quyền lực phi chính thức định hình căn tính di dân và sự lai ghép văn hóa.

Nhân vật Mọi như là một ký hiệu đa trị, mang hai danh tính đối lập: Mọi (thằng da đen móc rác, biểu tượng của sự thấp kém và bị loại trừ trong xóm chợ) và Jack Miller (Việt kiều Mỹ, biểu tượng của sự lý tưởng hóa về địa vị và văn hóa ngoại lai). Lý Lan mở đầu tác phẩm bằng hình ảnh đầy ám ảnh: “Cây trứng cá đã qua đời… Ai mà biết trên đời một thằng Mọi ?” (Lý Lan, 2001, tr.76) ngụ ý rằng Mọi giống như cây trứng cá bị xã hội lãng quên và phủ nhận. Cái tên Mọi không chỉ là danh xưng mà còn là ký hiệu học gắn với thân phận, quê hương và sự loại trừ xã hội. Trong khi Jack Miller phản ánh nỗ lực của cộng đồng xóm chợ trong việc định danh anh theo các giá trị được tôn sùng. Ban đầu Mọi gặp Bèo (bạn nối khố), ngay từ cách đặt tên Lý Lan như dự liệu về đời sống của hai nhân vật này, đều là những thứ tầm thường, trôi nổi. Xóm chợ ai cũng nhận ra Mọi, nhưng không còn sự kinh thường mà là vẻ tự hào “một tẹo quốc sỉ trong người khiến cho dân ngã tư những lúc ấy có thu mình lại thành chiếc lá, hòn sỏi bên đường để tránh ống kính của những khách du lịch coi sự nghèo khổ cũng là một cảnh lạ” (Lý Lan, 2001, tr.82).

Theo lý thuyết “urban marginality” (ngoại biên đô thị) được Loïc Wacquant phát triển trong Urban Outcasts: A Comparative Sociology of Advanced Marginality (Những kẻ bị ruồng bỏ nơi đô thị: Xã hội học so sánh về tình trạng ngoại biên đô thị cấp tiến) (2008), không gian đô thị hiện đại, đặc biệt ở các khu vực ngoại biên (urban periphery) là nơi sản sinh một hình thái ngoại biên đô thị cấp tiến (advanced urban marginality), nơi người di dân thường bị gạt khỏi các cấu trúc chính thống của xã hội và trở thành “kẻ ngoài lề”. Cái tên Mọi gắn với sự kỳ thị chủng tộc, nghèo đói và thân phận thấp hèn; còn danh xưng Jack Miller (người Mỹ) như một nỗ lực “tẩy xóa” căn tính cũ để phù hợp với một mô hình giá trị phương Tây hóa. Việc định danh là một cấu trúc quyền lực ký hiệu học, nơi tên gọi trở thành công cụ biểu trưng cho địa vị và khả năng được thừa nhận. Việc “từ chối Mọi” đồng nghĩa với phủ nhận quá khứ, phủ nhận không gian xóm chợ và hé lộ một xã hội vận hành theo thứ bậc ký hiệu học, nơi giá trị con người gắn chặt với danh tính được thừa nhận bởi quyền lực biểu tượng. Dễ dàng lý giải vì sao Mọi lại khao khát ai đó nhận ra và gọi đúng tên mình đến vậy: “Ai gọi nó đi! Để nó là kẻ được nhận ra. Để nó là người có quá khứ… Ai gọi tôi đi!”. Trong không gian văn hóa bị phân tầng bởi các hệ giá trị như dân tộc và ngoại lai, giàu và nghèo; Mọi hiện lên như một thân phận bị trượt khỏi hệ thống định danh quen thuộc, khi không ai gọi tên, không ai đối thoại, bị phủ định căn tính, rơi vào trạng thái vô định nghĩa.

Không gian đô thị trong truyện ngắn của Lý Lan là một trường văn hóa năng động, nơi các môi trường tương phản như xóm chợ nghèo nàn và khách sạn sang trọng tượng trưng cho sự va chạm giữa giá trị truyền thống và hiện đại; dựa trên lý thuyết sản xuất không gian của Henri Lefebvre và không gian ký hiệu của Yuri Lotman để minh họa cách các nhân vật sản xuất và đàm phán ý nghĩa văn hóa thông qua thực hành đời thường và quan hệ quyền lực. Câu hỏi nhan đề “Chị ấy lấy chồng chưa” đóng vai trò như một ký hiệu văn hóa thể hiện quyền lực phi chính thức và chuẩn mực xã hội về hôn nhân, giới tính, hạnh phúc, thách thức hệ thống thứ bậc tinh hoa và thúc đẩy sự dịch thuật văn hóa. Hơn nữa, nhân vật như Mọi (Jack Miller) thể hiện căn tính di dân và sự lai ghép văn hóa, hoạt động như những ký hiệu đa nghĩa về sự loại trừ và đồng hóa ở vùng ngoại biên đô thị, phản ánh tình trạng ngoại biên đô thị và nhấn mạnh khủng hoảng tồn sinh giữa toàn cầu hóa, nơi ký ức và tương tác cộng đồng cho phép tái cấu trúc căn tính và đối thoại vượt qua ranh giới văn hóa.

4. Kết luận

Nhìn chung, bài viết đã làm sáng tỏ sự dịch chuyển và phá vỡ các ranh giới ký hiệu giữa các hệ thống văn hóa truyền thống và hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa. Thông qua việc phân tích các ký hiệu trung tâm như hôn nhân, giới tính, hạnh phúc và chuẩn mực xã hội đã phơi bày bi kịch tồn sinh của con người hiện đại bị giằng xé giữa các hệ thống định danh áp đặt và khát vọng tự chủ, vừa khẳng định khả năng đối thoại và tái cấu trúc căn tính của các nhân vật. Hướng nghiên cứu này còn làm nổi bật quá trình vượt thoát và kiến tạo căn tính qua câu chuyện của các nhân vật như Hạnh, Mọi hay Kim Thoa đối thoại, chất vấn với các hệ giá trị đối lập tạo ra những khả thể mới cho căn tính cá nhân và tập thể. Cách tiếp cận này không chỉ mở ra một góc nhìn mới để khám phá văn chương nữ Việt Nam mà còn hy vọng góp phần thúc đẩy ứng dụng nhân học đô thị vào các tác phẩm văn học đương đại khác, hy vọng làm phong phú hơn lý luận phê bình văn học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

___________________________

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Thị Thu Hà. (2020). Văn học và đô thị: Một số tiếp cận nhân học đô thị trong văn xuôi Việt Nam đương đại. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TP.HCM.

2. Hà Minh Đức. (2012). Cơ sở lý luận văn học. Nxb Giáo dục Việt Nam.

3. Lê Ngọc Trà. (2015). Lý luận - phê bình văn học. Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM.

4. Lý Lan. (2001). Một góc phố Tàu. Nxb Hội Nhà văn.

5. Trần Đình Sử. (2014). Lý luận và phê bình văn học. Nxb Giáo dục Việt Nam.

6. Nguyễn Thị Thanh Xuân. (2020). Sự biến chuyển trong cách thể hiện nhân vật nữ trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986. Tạp chí Khoa học, Đại học Sài Gòn. 66(2).

7. Trần Hoài Anh. (2007). Văn xuôi nữ Việt Nam đương đại: Đặc điểm giới và phong cách nghệ thuật. Nxb Văn Nghệ.

8. Lý Ngọc Yến Nhi. (2023). Quan niệm về người phụ nữ trong chủ nghĩa nữ quyền Pháp. Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam. (2).

9. Đăng Văn Vũ. (2024). Vẻ đẹp người phụ nữ trong văn chương của Lý Lan. Tạp chí Khoa học, Đại học Thủ Dầu Một. (3).

10. Bhabha, H. K.(1994). The location of culture (Vị trí của văn hóa). Routledge.

11. Lefebvre, H. (1991). The production of space (Sự sản xuất không gian). Blackwell.

12. Lotman, Y. M. (2005). Universe of the mind: A semiotic theory of culture (Vũ trụ của tâm trí: Lý thuyết ký hiệu học về văn hóa). I. B. Tauris.

13. Michel de Certeau. (1984). The practice of everyday life (Thực hành đời sống thường nhật). University of California Press.

14. Wacquant, L. (2008). Urban outcasts: A comparative sociology of advanced marginality (Những kẻ bị ruồng bỏ nơi đô thị: Xã hội học so sánh về tình trạng ngoại biên đô thị cấp tiến). Polity Press.

15. Lotman, Y. M. (2005). On the semiosphere. Sign Systems Studies (Về không gian ký hiệu. Nghiên cứu hệ thống ký hiệu). https://doi.org/10.12697/SSS.2005.33.1.09

Ngày nhận bài 22/11/2025; Ngày biên tập 9/12/2025; Ngày duyệt 30/12/2025.

HOÀNG THỊ DIỆU LINH:

Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026