
Từ tác phẩm của nhà văn Bình Ca, nhà văn, nhà viết kịch Phạm Ngọc Tiến đã chuyển thể thành kịch bản sân khấu, NSƯT Nguyễn Sĩ Tiến dàn dựng tại Nhà hát Tuổi Trẻ. Những trang viết vốn rộng về không gian, nhiều về nhân vật được thu lại trong một vở diễn có thời lượng giới hạn nhưng vẫn giữ được những nét căn bản của câu chuyện: tuổi trẻ, tình bạn, gia đình, chiến tranh và sự trưởng thành của những đứa trẻ sinh ra trong các gia đình quân nhân ở Khu tập thể Nam Đồng.
Tên gọi Quân khu Nam Đồng vốn đã gợi một nét rất riêng. Đó không phải một “quân khu” theo nghĩa thông thường, mà là cách gọi hóm hỉnh về một khu tập thể “gia binh”, nơi nhiều gia đình cán bộ quân đội cùng sinh sống. Những người cha phần lớn xa nhà, có người đang ở chiến trường; phía sau là những người vợ vừa chăm sóc gia đình vừa chờ đợi, còn những đứa trẻ lớn lên cùng nhau trong một cộng đồng đặc biệt. Chính đời sống của những đứa trẻ ấy trở thành phần hấp dẫn nhất của vở diễn.
Nhà biên kịch không vội đưa chiến tranh lên phía trước. Vở diễn trước hết cho khán giả nhìn thấy một nhóm thanh thiếu niên đang ở tuổi học trò, hồn nhiên, hiếu động, nghịch ngợm, đôi khi bồng bột và ngang ngạnh. Chúng vì bênh vực nhau, vì cái suy nghĩ mình là “chính nghĩa” mà đánh nhau, nghịch dại, có những rung động đầu đời và cả những va chạm tưởng như rất quan trọng ở tuổi mới lớn. Những điều đó khiến câu chuyện trở nên gần gũi.
Các nhân vật không xuất hiện với tư cách những “con người của lịch sử”, càng không được xây dựng ngay từ đầu như những hình mẫu anh hùng. Họ đơn giản là những đứa trẻ đang lớn lên. Đây là một lựa chọn có ý nghĩa của người chuyển thể. Bởi nếu ngay từ đầu nhân vật đã được đặt trong ánh sáng của sự hy sinh, của lý tưởng và những lời nói lớn lao thì khoảng cách giữa họ với người xem hôm nay rất dễ bị nới rộng. Ngược lại, khi được nhìn thấy những cậu học trò biết nghịch, biết yêu, biết làm mẹ buồn, biết nổi nóng và mắc lỗi, khán giả sẽ hiểu họ như những con người bình thường. Chính vì bình thường nên khi họ trưởng thành, sự thay đổi ấy mới có sức nặng.
Chiến tranh trong Quân khu Nam Đồng cũng được đưa vào câu chuyện theo cách khá tiết chế. Không nhất thiết phải có những đại cảnh chiến trường hay quá nhiều âm thanh bom đạn, chiến tranh vẫn hiện hữu trong từng gia đình. Đó là sự vắng mặt của những người cha. Là những lá thư từ nơi xa gửi về. Là sự chờ đợi của những người mẹ. Là những đứa trẻ đã quá quen với chuyện bố mình không có mặt trong những sinh hoạt hằng ngày. Và rồi một ngày, chiến tranh không còn chỉ là câu chuyện của người cha. Những cậu học sinh Nam Đồng cũng đến tuổi khoác ba lô lên đường. Khoảnh khắc ấy tạo ra bước chuyển quan trọng của vở diễn. Những trò nghịch ngợm, những mối tình tuổi mới lớn, những cuộc gây gổ tưởng rất lớn trong thế giới của tuổi học trò bỗng trở nên nhỏ bé trước những lựa chọn của cuộc đời. Không cần nhiều lời giải thích, người xem nhận ra một thế hệ đã phải lớn lên nhanh như thế nào.


Điều đáng quý là Quân khu Nam Đồng không quá nặng nề. Vở diễn có khá nhiều tiếng cười. Tiếng cười đến từ tính cách các nhân vật, từ những câu chuyện học trò, từ những va chạm trong đời sống khu tập thể, từ sự hồn nhiên của tuổi trẻ và cũng từ các “trò” diễn của đạo diễn. Cách xử lý này giúp vở diễn tránh được sắc thái minh họa hay tụng ca thường dễ gặp ở những tác phẩm về chiến tranh. Bởi tuổi trẻ của thế hệ ấy không chỉ có hy sinh và mất mát. Họ từng vui, từng yêu. Từng có những trò nghịch ngợm mà nhiều năm sau vẫn có thể kể lại với bạn bè. Từng có một thời nghĩ rằng một chuyện ở lớp học hay một cuộc cãi nhau với bạn bè là điều vô cùng lớn lao. Chính việc giữ lại những tiếng cười ấy khiến phần sau của vở diễn trở nên xúc động hơn. Khi khán giả đã quen với những chàng trai hồn nhiên, đã nhìn thấy họ trong đời sống bình thường, thì việc một người lên đường hay một người không trở về không còn là thông tin về một nhân vật sân khấu. Nó trở thành mất mát của một con người mà người xem đã kịp yêu mến.
Một nét khác cũng được vở diễn làm nổi bật là đời sống cộng đồng của khu tập thể. Những gia đình ở Nam Đồng không tồn tại như những đơn vị tách biệt. Trong hoàn cảnh nhiều người đàn ông đang ở chiến trường, những người còn lại nương tựa vào nhau. Trẻ con lớn lên gần như trong một đại gia đình. Nhà này biết chuyện nhà kia, người lớn có thể chăm nom, nhắc nhở con cái của nhau, còn đám trẻ thì cùng chơi, cùng học, cùng gây ra đủ thứ chuyện. Từ đó, chữ “Quân khu” trong tên tác phẩm vừa vui vừa có ý nghĩa. Đó là một thế giới nhỏ có trật tự riêng, luật lệ riêng, những mối quan hệ riêng, nhưng trên hết là sự gắn kết của những con người có chung hoàn cảnh.
NSƯT Nguyễn Sĩ Tiến lựa chọn cách kể chuyện linh hoạt, không cố phục dựng quá khứ theo lối tả chân tuyệt đối. Không gian sân khấu hai tầng, sử dụng phần sân khấu xoay có khả năng thay đổi nhanh giữa các phòng trong khu tập thể, trường học và những không gian khác của câu chuyện. Cảnh trí, ánh sáng và âm nhạc cùng tham gia tạo nên cảm giác hồi ức. Đây là một lựa chọn hợp lý. Bởi nếu quá chú trọng vào việc tái tạo từng đồ vật, từng căn phòng, từng chi tiết sinh hoạt của Hà Nội những năm 1970 thì vở diễn rất dễ trở thành một sự phục dựng mang tính minh họa và làm rời rạc mạch theo dõi của khán giả. Đạo diễn Sĩ Tiến đã làm sống lại tinh thần của một thời. Tinh thần ấy nằm trong quan hệ giữa người với người. Trong những người mẹ chờ chồng. Trong cách đám trẻ bảo vệ nhau. Trong một lớp học. Trong một khoảng sân tập thể. Trong cái cách mà cả cộng đồng cùng chia sẻ niềm vui và mất mát.

Dàn diễn viên Nhà hát Tuổi trẻ có lợi thế khi phần lớn các nhân vật trẻ được thể hiện bằng nguồn năng lượng khá tự nhiên. Các tình huống nghịch ngợm, gây gổ, những đối đáp của tuổi học trò nếu diễn quá tay dễ trở thành ồn ào, nhưng nếu quá dè dặt lại mất đi sự sống động. Khi các diễn viên giữ được nhịp diễn nhanh, sự hồn nhiên và khả năng tung hứng, những lớp diễn này tạo ra bầu không khí trẻ trung cần thiết cho vở. Trong khi đó, các nhân vật thuộc thế hệ cha mẹ, thầy cô lại đòi hỏi một màu sắc khác. Ở họ, sự tiết chế quan trọng hơn. Người mẹ có chồng nơi chiến trường không phải lúc nào cũng cần nước mắt. Nỗi lo có khi nằm trong một câu nói, một khoảng lặng hay cách nhìn theo đứa con. Người giáo viên cũng không chỉ là người đứng ra răn dạy đám học trò mà còn là một phần của môi trường đã góp phần tạo nên sự trưởng thành của chúng. Sự đan xen giữa hai thế hệ giúp câu chuyện không chỉ là hồi ức về những đứa trẻ Nam Đồng mà trở thành câu chuyện về một cộng đồng trong chiến tranh.
Đối với người viết, Nam Đồng lại có một chút gần gũi riêng. Tôi từng có người bạn thân sống trong Khu tập thể Nam Đồng, từng là học sinh cấp III ở khu vực này. Anh trai tôi cũng là cựu chiến binh chống Mỹ, cùng thế hệ với những nhân vật mà vở diễn kể tới. Khi ấy, Nam Đồng chỉ đơn giản là những con đường, khu nhà quen thuộc của đời sống hằng ngày. Xem Quân khu Nam Đồng mới nhận ra trước tuổi trẻ của thế hệ mình, ở chính những khoảng sân và dãy nhà ấy đã có một thế hệ khác từng đi học, từng vui chơi, từng yêu và từng lớn lên. Chỉ có điều tuổi trẻ của họ đi qua những năm tháng đất nước còn chiến tranh. Có lẽ cảm giác ấy cũng giải thích vì sao tác phẩm có thể tạo ra những cách tiếp nhận khác nhau đối với từng thế hệ khán giả. Người từng sống qua những năm tháng ấy có thể nhìn thấy tuổi trẻ của mình. Những người sinh ra sau chiến tranh lại có cơ hội hiểu thêm về một thế hệ mà lâu nay họ thường chỉ biết qua sách vở, phim ảnh hoặc những câu chuyện trong gia đình. Ở phương diện này, Quân khu Nam Đồng không chỉ là một tác phẩm về hoài niệm. Nếu chỉ có hoài niệm, vở diễn sẽ chủ yếu dành cho những người đã từng trải qua thời đó. Nhưng những vấn đề mà tác phẩm đặt ra vẫn khá gần với người trẻ hôm nay: tình bạn, tình yêu, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, khoảng cách thế hệ, trách nhiệm đối với gia đình và cách mỗi người trưởng thành.
Khác biệt chỉ nằm ở hoàn cảnh. Những người trẻ hôm nay có rất nhiều lựa chọn cho tương lai. Thế hệ trong Quân khu Nam Đồng lớn lên giữa một lựa chọn khắc nghiệt hơn: khi đất nước cần, nhiều người trong số họ sẵn sàng đi vào chiến tranh. Điều này khiến những lớp cuối của vở diễn mang một sắc thái khác hẳn phần đầu. Những chàng trai từng gây ra đủ chuyện ở khu tập thể bắt đầu khoác áo lính. Những cuộc vui bị thay bằng những cuộc chia tay. Những bà mẹ đã từng chờ chồng lại tiếp tục chờ con. Có người trở về. Có người nằm lại. Nhưng vở diễn không tìm cách đẩy bi kịch lên quá mức. Sự hy sinh được đặt trong mạch tự nhiên của cuộc đời nhân vật. Chính vì thế, cảm xúc cũng tự nhiên hơn. Khi một chàng trai ra đi, điều người xem nhớ không phải chỉ là anh đã trở thành người lính. Người xem còn nhớ trước đó anh đã từng là một cậu học trò. Từng có bạn bè. Từng yêu một cô gái. Từng bị người lớn trách mắng. Từng có những dự định rất bình thường. Đó chính là cách Quân khu Nam Đồng làm cho câu chuyện chiến tranh trở nên gần gũi. Chiến tranh không chỉ lấy đi những người lính. Nó lấy đi những người con, người bạn, người yêu; lấy đi những cuộc đời còn đang ở những năm tháng đẹp nhất.
Và từ một địa danh cụ thể của Hà Nội, câu chuyện vì thế mở rộng hơn. Nam Đồng có thể là hình ảnh của rất nhiều khu tập thể, khu phố, làng quê Việt Nam thời chiến, nơi những người cha ra trận, những người mẹ chờ đợi, những đứa trẻ lớn lên rồi chính chúng lại tiếp tục lên đường. Cái riêng của Nam Đồng gặp cái chung của một thế hệ. Có lẽ đây là giá trị đáng kể nhất của vở diễn.
Quân khu Nam Đồng không cố kể một câu chuyện lớn bằng những lời lớn lao. Nó đi từ những chuyện rất nhỏ của con người: một trò nghịch, một tình bạn, một rung động đầu đời, một người mẹ đợi chồng, một cậu học trò đến ngày nhập ngũ. Nhưng lịch sử vốn được tạo nên từ chính những điều nhỏ bé ấy. Khi ánh đèn sân khấu tắt, điều còn lại không chỉ là câu chuyện về một khu tập thể Hà Nội. Đó là ký ức về một thế hệ từng có một tuổi trẻ rất đẹp trong những năm tháng rất khó khăn. Một thế hệ từng sống, từng yêu, từng nghịch ngợm như mọi người trẻ khác. Và rồi khi đất nước cần, họ đã trưởng thành. Vì vậy, câu chuyện vẫn sống động, vẫn nằm trong kịch mục của Nhà hát, vẫn diễn được hằng tuần và khá thành công.


CAO NGỌC
Nguồn: Tạp chí VHNT số 653, tháng 8/2026