
Tháng Ba, khi mùa Xuân vẫn còn vương vấn trên những cành đào phai, hương xuân còn phảng phất bên những bờ rào đá. Trong ánh nắng trải vàng trên khắp lưng núi, xuyên qua thung sâu, qua những khúc cua tay áo, những đỉnh đèo cao vời vợi và dưới bóng núi xế chiều. Con đường làm tôi choáng ngợp bởi sự hùng vĩ nhưng có phần cô liêu. Đường thênh thang vì không một bóng xe ô tô, chỉ thỉnh thoảng có chiếc xe máy vụt qua rồi lại mất hút sau khúc cua tay áo. Trên cung đường vắng vẻ, thấp thoáng một vài ngôi nhà men theo sườn dốc trong nắng vàng, hương núi. Khi xe tiến thêm về phía trước, tôi có cảm giác như mình đang tìm về nơi bắt nguồn của dòng chảy mang tên sông Miện - dòng sông lách qua bạt ngàn đá núi trên cao nguyên đá Đồng Văn để mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng khô cằn. Tôi dừng lại bên dòng suối, ngắm nhìn những người phụ nữ đang giặt đồ, cạnh đó là đám trẻ con đang nô đùa tắm suối. Xe chạy men theo dòng suối, tôi hít căng vào lồng ngực mình hương vị của đất trời để đến với chợ đêm Ba Tiên.
Tôi không biết mình đã đi qua bao nhiêu núi, qua bao nhiêu dốc và những khúc cua tay áo. Bất chợt, trước mắt là những ngôi nhà nằm cạnh nhau trên một khoảng đất rộng ngay bên đường với cái cổng chào “chợ đêm Ba Tiên”. Trong nắng quái chiều hôm, những người phụ nữ Mông đang thoăn thoắt bày hàng lên các sạp tre, những đứa trẻ được mẹ địu trên lưng má đỏ hồng, còn những đứa trẻ lớn hơn đang chạy tung tăng bên sạp hàng, những dòng người trong váy áo nhiều màu sắc từ trên núi cao đi về chợ. Thật may mắn, hôm nay là thứ năm, chợ họp.
Chợ đêm Ba Tiên, có lẽ là phiên chợ đêm duy nhất còn giữ được bản sắc văn hóa đậm nét trên cao nguyên đá Đồng Văn. Chợ nằm trên sườn dốc thoai thoải ngay bên đường. Bên này là xã Lùng Tám, sang bên kia dốc là xã Đường Thượng. Người dân nơi đây kể rằng: chợ có từ lâu lắm, không biết từ khi nào, có lẽ là từ khi con người đặt chân đến Ba Tiên chọn đất dựng nhà. Chợ thường họp từ ba, bốn giờ chiều đến chín, mười giờ đêm. Chiều là thời điểm người dân mua bán, giao thương hàng hóa. Còn khi màn đêm buông xuống, là nơi dành cho những đôi trai gái trong vùng hò hẹn, tìm hiểu nhau. Và đã có không ít đôi nên duyên vợ chồng từ nơi này.
Tôi lang thang trong chợ. Chợ Ba Tiên không lớn, đi dăm phút đã quay về chỗ cũ. Chợ không ồn ào, náo nhiệt như mọi nơi khác. Nó tĩnh lặng hơn, êm đềm hơn với những ánh mắt thân thiện, hiền lành. Đầu chợ là mấy hàng bán bánh rán và phía đối diện bên kia đường là một nhóm các chàng trai bản xuống chợ đứng túm tụm lại với nhau chuyện trò. Giờ thanh niên xuống chợ không còn đi ngựa nữa, chỉ thấy toàn xe máy. Đi qua nữa là hàng bán rau, quả, bán hạt giống, gạo, ngô… và đặc biệt là một số ẩm thực như tẩu chúa, mèn mén, xôi ngũ sắc cũng được bày bán ở đây. Phiên chợ có lẽ rực rỡ nhất đó là những sạp hàng bày bán váy, áo trang phục dân tộc. Những người bán hàng niềm nở mời chào bằng tiếng địa phương khi tôi đi ngang qua. Tôi dừng lại bên sạp hàng của cô gái có khuôn mặt tròn, đôi mắt sáng long lanh cùng nụ cười để lộ ra chiếc răng khểnh được bọc vàng lấp lánh và chọn cho mình một chiếc váy xòe màu hồng. Nhìn nụ cười rạng rỡ trong nắng chiều, tôi muốn hỏi em: mùa xuân lễ hội Gầu Tào, em có còn hát ống và nhảy điệu múa sênh tiền không?

Đêm dần buông, không khí bắt đầu lạnh và lặng lẽ hơn. Gió từ trên đỉnh núi lùa về đem theo cả mùi hương hoa núi thoang thoảng. Cuối cùng, khi dừng chân tại quán nhỏ bán thắng cố, trăng đã lên, đèn đã được thắp sáng. Trong mái lều tranh được dựng lên làm quán, mấy cô gái vừa ăn uống, vừa chuyện trò vui vẻ, khuôn mặt nào cũng hiện lên lấp lánh một niềm vui nho nhỏ. Qua cuộc trò chuyện, tôi được biết, họ là những cô giáo từ dưới xuôi lên đây dạy học, thỉnh thoảng họ đến chợ cho vơi nỗi nhớ nhà, nhớ người thương. Bàn bên cạnh là mấy người đàn ông Mông tầm trung tuổi, vừa uống rượu vừa rít thuốc lào. Họ đang nói chuyện với nhau bằng tiếng dân tộc mà tôi nghe không hiểu. Bàn ngay phía ngoài, tôi nghĩ đó là một đôi vợ chồng cùng với bạn bè của họ. Người phụ nữ Mông với chiếc khăn ngũ sắc vấn trên đầu, miệng luôn nở nụ cười. Còn người đàn ông ngồi bên cạnh cô, đầu đội mũ nồi, mặc chiếc áo tà pủ với hàng cúc áo được làm bằng vải, vắt ngang vai là chiếc khèn có buộc sợi vải màu đỏ. Giọng một người đàn ông trong nhóm, với tiếng phổ thông không được rõ lắm:
- Pó à, mày thật may mắn đấy.
- Có gì là may đâu.
- Vì ở Lùng Hẩu cả bản ai cũng bảo vợ chồng mày đẹp đôi.
- Cũng là may gặp nhau ở Ba Tiên thôi, mỗi người một xã mà.
- Tao mời vợ chồng mày một bát, lâu rồi không gặp...
Tôi thấy người đàn ông tên Pó cùng người phụ nữ Mông có chiếc khăn ngũ sắc vấn trên đầu đưa bát rượu lên cụng với bạn, họ uống một ngụm hào sảng. Men rượu khiến cho đôi má người phụ nữ rực hồng, dưới ánh đèn quyện cùng với ánh trăng đêm. Người ta nói, phụ nữ nơi đây không biết hờn dỗi khi người yêu hay chồng say rượu, vì họ quan niệm rằng một người đàn ông tốt thì mới được bạn mời rượu. Chồng mình là người tốt thì mới được bạn mời rượu. Nếu như ở miền xuôi “miếng trầu là đầu câu chuyện”, thì nơi này “bát rượu là đầu câu chuyện”. Rượu là kỷ niệm, là thể hiện tình đoàn kết cộng đồng, là hơi ấm để họ đi qua những mùa đông buốt giá… Trong hương rượu, hương núi mọi người tới đây, nơi phiên chợ này, mang trong mình mỗi người một cảm xúc, một tâm tư. Và, một năm đôi lần, vợ chồng Pó lại đến chợ đêm Ba Tiên để gặp lại bạn bè cũng như để ôn lại kỷ niệm ngày xưa hai người yêu nhau.
Qua câu chuyện bên bàn rượu, tôi được biết người đàn ông tên Pó hôm nay xuống núi đi thổi khèn ở đám về, còn người vợ tên Mai từ nhà mang rau ra chợ bán. Họ gặp nhau khi buổi chợ gần tàn, cùng ngồi bên nhau để kể về những chuyện đã qua, nói về những ngày chưa tới. Có lẽ vì Pó là thày thổi khèn, và chiếc khèn là linh hồn, là vật linh thiêng, là công cụ kết nối linh hồn người chết với người sống nên dù ngồi uống rượu chiếc khèn vẫn được vắt trên vai. Không biết, có bao nhiêu linh hồn đã được về với tổ tiên nhờ những âm thanh của chiếc khèn này!
Ở góc bên kia, phía cuối cái quán liêu xiêu này, tôi bỗng nghe thấy tiếng sáo. Những âm thanh nửa như mời gọi, nửa như chia ly. Khi dồn dập vui tươi, lúc lại miên man một nỗi sầu thăm thẳm. Tiếng sáo, tiếng sáo ai? Tôi dồn ánh mắt và cả trái tim hướng về nơi phát ra âm thanh đó. Nhưng, tôi chỉ nhìn thấy tấm lưng của người đang thổi sáo, trong chiếc áo tà pủ đen. Tim tôi bỗng cất lên: Tiếng sáo ơi! Sao mà da diết thế/ Lúc u buồn, lúc lại mênh mang... Tiếng sáo như dòng nước mát chảy ra từ khe núi, tắm mát trái tim khát khô, chạm vào tận cùng cơ thể của tôi. Trong gió núi, trong sương đêm, tôi ngồi lặng đi, ở nơi đó, để nghe tiếng sáo. Tôi thấy mình như lạc trôi, ở nơi đây, chốn này.
Tất cả những gì tôi thấy, tôi cảm khiến trái tim tôi không thể không thốt lên: Con người nơi đây đẹp quá! Vẻ đẹp thật hồn nhiên, căng tràn nhựa sống. Họ giống như cỏ cây ở đây vậy, dù cho đất có hiếm hoi, dù cho đông có buốt giá thì cây vẫn cứ đâm chồi nảy lộc và nở hoa kết trái. Còn Ba Tiên - một mảnh đất quá đỗi yên bình. Nơi mà không có đau khổ nào có thể làm nguội lạnh tình yêu, nơi ánh trăng lên đẹp như cổ tích. Nơi chỉ có gió và trăng, tình yêu và hạnh phúc.
Tôi bước chân ra khỏi quán. Vương vấn, vang vọng trong lòng tiếng sáo của một người đàn ông chưa rõ mặt. Tôi nhìn vầng trăng sáng nhẹ trôi trên đỉnh núi Ba Tiên, có gì như tan loãng, như vấn vít, ở cái ngã ba mà nhìn đâu cũng là núi cao ngất đỉnh trời.