Theo đó, Nghị định gồm 5 chương và 20 điều, nhằm phát triển hạ tầng văn hóa số; cơ sở dữ liệu về văn hóa, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, nền tảng số dùng chung trong lĩnh vực văn hóa; chính sách thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số; trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Đồng thời, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động phát triển, xây dựng, quản lý, quản trị, vận hành, khai thác, sử dụng hạ tầng văn hóa số, phát triển, sản xuất nội dung số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số và trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa tại Việt Nam.
Đặc biệt, Nhà nước khuyến khích đầu tư, phát triển hạ tầng văn hóa số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số theo phương thức đối tác công tư: khuyến khích, thu hút các tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số trong nước và nước ngoài đầu tư, hợp tác đầu tư, tài trợ, chuyển giao công nghệ, phát triển hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, nền tảng số dùng chung, giải pháp công nghệ cao phục vụ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa và sản phẩm, dịch vụ văn hóa số. Việc đầu tư, phát triển hạ tầng văn hóa số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số theo phương thức đối tác công tư được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư, pháp luật về dữ liệu, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan.
Nghị định thể hiện rõ nét tinh thần cải cách triệt để khi triệt tiêu các rào cản, không phát sinh thêm bất kỳ thủ tục hành chính phiền hà nào cho người dân và doanh nghiệp.

Kiến tạo cơ chế để giải quyết 8 bài toán cốt lõi
Nghị định tập trung kiến tạo cơ chế để giải quyết 8 bài toán cốt lõi thông qua mô hình quản trị dựa trên dữ liệu. Đó là:
1. Bảo tồn di sản trong bối cảnh biến đổi nhanh: Nhiều giá trị văn hóa đang đứng trước nguy cơ mai một do thời gian, thiên tai, đô thị hóa và sự thay đổi của đời sống xã hội. Hạ tầng văn hóa số giúp: (i) Số hóa hiện vật, di tích, tư liệu, nghệ thuật biểu diễn; (ii) Lưu trữ lâu dài theo chuẩn quốc tế; (iii) Phục dựng bằng AI, 3D, XR khi hiện vật bị hư hỏng; (iv) Tạo “bản sao số” (Digital Twin) của di sản. Nhờ đó, giá trị văn hóa không bị mất đi ngay cả khi hiện vật gốc bị hủy hoại.
2. Mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa: Trước đây, người dân phải đến bảo tàng, thư viện, nhà hát. Khi có hạ tầng văn hóa số, mọi người có thể tham quan bảo tàng trực tuyến; học nghệ thuật trên nền tảng số; xem biểu diễn chất lượng cao; tra cứu di sản ở bất cứ đâu. Văn hóa trở thành dịch vụ công số phục vụ toàn dân.
3. Tạo nguyên liệu cho AI và kinh tế sáng tạo: Trong thời đại AI, dữ liệu chính là nguyên liệu. Muốn AI hiểu văn hóa Việt Nam cần kho dữ liệu tiếng Việt; dữ liệu di sản; dữ liệu nghệ thuật; dữ liệu lễ hội; dữ liệu âm nhạc; dữ liệu trang phục; dữ liệu mỹ thuật,... Nếu không có hạ tầng dữ liệu văn hóa, AI sẽ học chủ yếu từ dữ liệu nước ngoài và khó phản ánh bản sắc Việt Nam.
4. Thúc đẩy công nghiệp văn hóa: Phim, trò chơi điện tử, hoạt hình, âm nhạc, thiết kế, quảng cáo, xuất bản… đều cần dữ liệu văn hóa. Một hạ tầng văn hóa số tốt sẽ giúp doanh nghiệp khai thác dữ liệu hợp pháp; tái sử dụng tài nguyên số; giảm chi phí sáng tạo; phát triển nhiều sản phẩm mới. Hạ tầng văn hóa số vì vậy giống như đường cao tốc của ngành công nghiệp văn hóa.
5. Xây dựng thương hiệu quốc gia: Ngày nay, sức mạnh quốc gia không chỉ nằm ở kinh tế mà còn ở sức hấp dẫn văn hóa. Các quốc gia thành công đều có hệ sinh thái số quảng bá văn hóa: Hàn Quốc với K-content; Nhật Bản với anime, manga; Trung Quốc với nền tảng văn hóa số và game. Việt Nam muốn xây dựng thương hiệu văn hóa số thì cần hạ tầng đủ mạnh để kết nối dữ liệu, nội dung và doanh nghiệp. Hạ tầng văn hoá số là nền tảng giúp phát triển thương hiệu văn hóa số Việt Nam: VietCreative và VietGames.
6. Tạo thị trường văn hóa số minh bạch: Nếu không có hạ tầng thì khó xác định bản quyền; khó giao dịch tài sản số; khó chia sẻ doanh thu; khó bảo vệ nghệ sĩ và tác giả. Hạ tầng văn hóa số cho phép hình thành cơ sở dữ liệu bản quyền; định danh tác phẩm; sàn giao dịch tài sản văn hóa số; cơ chế thanh toán và phân chia lợi ích. Đây là nền tảng của kinh tế văn hóa số.
7. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước: Cơ quan quản lý có thể theo dõi hoạt động văn hóa theo thời gian thực; thống kê ngành công nghiệp văn hóa; đánh giá tác động chính sách; phân tích xu hướng tiêu dùng văn hóa; dự báo nhu cầu thị trường. Quản lý chuyển từ “kinh nghiệm” sang “quản trị dựa trên dữ liệu”.
8. Bảo đảm chủ quyền văn hóa trên không gian số: Không gian mạng đang trở thành không gian văn hóa mới. Nếu Việt Nam không có hạ tầng của chính mình thì dữ liệu văn hóa nằm trên nền tảng nước ngoài; nội dung Việt Nam khó được ưu tiên; thuật toán nước ngoài quyết định khả năng tiếp cận của người dùng; nguy cơ lệ thuộc về dữ liệu và lan truyền các giá trị ngoại lai.
Đồng hành cùng doanh nghiệp và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo
Nghị định xác lập một số công nghệ số ưu tiên phát triển trong lĩnh vực văn hóa gồm: Điện toán đám mây (Cloud Computing); Điện toán biên (Edge Computing); Trí tuệ nhân tạo (AI); Dữ liệu lớn (Big Data); Bản sao số (Digital Twin); Internet vạn vật (IoT); Chuỗi khối (Blockchain); Thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), thực tế mở rộng (XR), trải nghiệm nhập vai (IR), thực tế hỗn hợp (MR); Công nghệ quét ba chiều (LiDAR), trắc lượng ảnh (Photogrammetry), hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình hóa thông tin (BIM/HBIМ); và công nghệ số khác theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, phát triển công nghệ số, sản phẩm công nghệ số cũng như các sản phẩm, dịch vụ văn hóa số sẽ được hưởng đầy đủ chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo pháp luật hiện hành về đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, công nghiệp công nghệ số, chuyển đổi số và pháp luật có liên quan khi đáp ứng điều kiện, tiêu chí tương ứng theo quy định của pháp luật. Song song đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ phát triển thị trường, xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp với các đơn vị văn hóa, nghệ thuật, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển sản phẩm theo các chương trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bên cạnh đó, mô hình Trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa chính thức được định danh pháp lý. Các trung tâm này được triển khai theo phương thức hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp hoặc tổ chức hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Trung tâm được đặt trong cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo ngành hoặc nhóm ngành đặc thù trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao, các trung tâm văn hóa, thể thao cấp tỉnh, cấp xã.
Đồng thời, trung tâm sẽ thực hiện sứ mệnh cốt lõi là hỗ trợ sáng tạo nội dung số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số và kết nối cộng đồng sáng tạo với các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp. Sự cộng hưởng này hứa hẹn sẽ biến nguồn tài nguyên văn hóa quý báu của cha ông thành động lực phát triển kinh tế sáng tạo mạnh mẽ và bền vững trong tương lai.
Bộ VHTTDL có trách nhiệm: Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, tổ chức thực hiện Nghị định này; Thực hiện quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển hạ tầng văn hóa số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số; Ban hành quy định, hướng dẫn phát triển và khai thác dữ liệu văn hóa số theo mô hình một nguồn cung cấp, nhiều bên cùng sử dụng thông qua Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia và các nền tảng dùng chung quy định tại Nghị định này.