Từ khóa: kinh tế di sản; phát triển; Văn kiện Đại hội XIV.

Abstract: Heritage economics is emerging as a breakthrough strategy to transform cultural and historical values into sustainable economic resources for both the nation and the community. For the first time, the Documents of the 14th National Party Congress officially place heritage economics at the forefront, marking a pivotal shift in perception: moving from viewing heritage solely as a spiritual value to recognizing it as a socio-economic asset that necessitates strategic exploitation and promotion in contemporary society. This article discusses the conceptual framework of heritage economics, analyzes the novel points regarding its development within the 14th National Party Congress Documents, and proposes recommendations for materializing the Party’s orientations within Vietnam’s evolving context.

Keywords: heritage economics; development; Documents of the 14th National Party Congress.

maxresdefault.jpg
Rước nước thiêng ở lễ hội xuân Tràng An - Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

1. Đặt vấn đề

Di sản văn hóa là tài sản quý báu hình thành và trao truyền trong lịch sử lâu dài của một cộng đồng dân tộc, có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cộng đồng cũng như đối với sự phát triển bền vững của nhân loại, đã và đang được nhiều quốc gia quan tâm bảo tồn, phát huy. Trong nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong xã hội đương đại, phát triển kinh tế di sản là một hướng đi ngày càng được nhiều quốc gia lựa chọn. Việc khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế của di sản đã tạo ra một mô hình phát triển vừa hiện đại, vừa đậm nét văn hóa truyền thống, vừa cải thiện đời sống vật chất của nhân dân lại vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc. Việt Nam, với kho tàng di sản vô cùng phong phú, được đánh giá là có tiềm năng to lớn, dồi dào để phát triển kinh tế di sản. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp, triển khai nhiều chương trình, kế hoạch nhằm bảo vệ và khai thác giá trị kinh tế của di sản theo hướng bền vững và đạt được những kết quả to lớn. Tuy nhiên, đây chưa trở thành một định hướng chiến lược cho đến khi Văn kiện Đại hội XIV được ban hành, trong đó lần đầu tiên thuật ngữ “kinh tế di sản” chính thức được đi vào Văn kiện. Đây là một điểm mới quan trọng trong nhận thức lý luận của Đảng, mở ra một cơ hội to lớn cho di sản nói riêng và văn hóa nói chung.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết vận dụng hệ phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử để nhìn nhận di sản là nguồn lực động trong sự phát triển đương đại. Các phương pháp cụ thể bao gồm:

Phân tích văn bản: bóc tách các từ khóa chiến lược để xác lập khung lý thuyết về kinh tế di sản, đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận của Đảng và học thuyết hiện đại.

Logic - lịch sử: nhận diện sự chuyển dịch tư duy của Đảng qua các thời kỳ, từ bảo tồn thuần túy sang xác lập di sản là “tài sản” và “nguồn lực nội sinh” đặc biệt.

Phân tích hệ thống: xem xét kinh tế di sản như một cấu trúc đa diện, hài hòa giữa bảo tồn giá trị cốt lõi, lợi ích kinh tế và công bằng xã hội để chỉ ra các điểm nghẽn chính sách.

Tổng hợp và dự báo: chuyển hóa định hướng từ Văn kiện Đại hội XIV thành các nhóm giải pháp thực tiễn, biến di sản thành động lực tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập.

3. Kết quả và thảo luận

Khái lược về kinh tế di sản

Kinh tế di sản (Heritage economy) là một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, mà trong đó di sản với các giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học, kinh tế, thẩm mỹ... được khai thác, sử dụng nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng, quốc gia đồng thời gắn liền với nhiệm vụ bảo tồn di sản của chính cộng đồng đó. Kinh tế di sản còn tạo ra giá trị gia tăng một cách bền vững, trong đó di sản được chuyển hóa thành tài sản kinh tế đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị đó một cách bền vững.

Kinh tế di sản không chỉ đơn thuần là việc khai thác thương mại các di tích. Đó là một chiến lược chuyển hóa vốn văn hóa thành vốn kinh tế. Thay vì coi bảo tồn là một “gánh nặng ngân sách” hay một hoạt động mang tính “tĩnh”, tư duy mới xem di sản là một loại tài sản đặc biệt có khả năng sinh lời bền vững. Khi được quản trị đúng cách, di sản không bị mất đi qua quá trình khai thác mà ngược lại, giá trị của nó còn được bồi đắp và lan tỏa.

Tại Việt Nam, kinh tế di sản được định hình rõ nét qua một hệ sinh thái gắn kết: dịch vụ và du lịch di sản; công nghiệp văn hóa và sáng tạo; kinh tế số và di sản số; phục hồi, tôn tạo và quản trị di sản.

Phát triển kinh tế di sản hàm chứa những chiều kích của các mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hóa, giữa bảo tồn và phát huy, giữa bản sắc và hội nhập: văn hóa không chỉ chịu sự chi phối của kinh tế, được hình thành và biến đổi trên cơ sở điều kiện kinh tế mà văn hóa còn tác động trở lại đối với tăng trưởng kinh tế bền vững với tư cách là nguồn lực. Bảo tồn là cơ sở của phát huy, phát huy tạo động lực để bảo tồn đạt hiệu quả, phát huy giúp di sản không chỉ tồn tại, không bị lãng quên trong xã hội đương đại mà còn được tái sinh trong đời sống cộng đồng.

Mặc dù đến thời hiện đại, kinh tế di sản mới là một thuật ngữ chính thức được định danh và vẫn còn khá xa lạ đối với một số quốc gia cũng như nhiều người, nhưng trong thực tiễn, kinh tế di sản đã phổ biến, thậm chí nó đã hiện diện trong đời sống nhân loại từ cách đây hàng thiên niên kỷ, từ những hoạt động giao thương dựa trên trao đổi buôn bán các sản vật địa phương của người cổ đại, đến Con đường tơ lụa kết nối Đông - Tây với bao huyền thoại về những di sản độc đáo được sinh ra, truyền thừa và tạo nên những lợi ích vật chất to lớn.

Đóng góp mới trong nhận thức lý luận của Đảng tại Văn kiện Đại hội XIV về phát triển kinh tế di sản

Ở Việt Nam, ngay từ năm 1998, trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, mặc dù Đảng ta đã nhận thức được mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, thông qua việc đề ra nhiệm vụ xây dựng kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, nhưng trong tư duy về di sản, Đảng cũng mới dừng lại ở việc khẳng định vai trò và tầm quan trọng của di sản chủ yếu từ góc độ tinh thần: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo các giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr.63).

Đến nhiệm kỳ Đại hội XI, trong Nghị quyết 33, Đảng nêu ra nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa - một lĩnh vực sử dụng nguồn vốn từ văn hóa, mà di sản văn hóa đóng vai trò nguồn lực, nguồn cảm hứng căn cốt kết hợp với công nghệ và khả năng kinh doanh để tạo ra lợi nhuận kinh tế và giá trị mới cho văn hóa nói chung, di sản nói riêng - tuy nhiên chưa thực sự coi đó là những ngành kinh tế.

Cuối năm 2017, thuật ngữ “kinh tế di sản” được đề cập đến trong các văn bản quản lý với thí điểm tiên phong là tỉnh Nghệ An. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định 6103/QĐ-UBND ngày 28/12/2017, đánh dấu lần đầu tiên khái niệm này xuất hiện trong một văn bản chính thức của Việt Nam. Trong đó, kinh tế di sản được nhắc đến với tư cách là một mục tiêu nhằm hướng đến việc khai thác giá trị di sản: “Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, gắn kết hài hòa với phát triển du lịch, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế di sản bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo...”. Trong văn bản này, kinh tế di sản được xem là một mục tiêu chiến lược và là công cụ, chuyển hóa di sản thành tài sản bằng cách thu hút đầu tư và đưa cộng đồng vào trung tâm của chuỗi giá trị du lịch, cũng là để chuyển hóa giá trị văn hóa thành động lực phát triển kinh tế bền vững. Phát triển kinh tế di sản cũng là một giải pháp quan trọng được đề xuất trong Quyết định 6103 để phát huy giá trị di tích: “Nghiên cứu, áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế di sản, nâng cao năng lực và thu nhập của cộng đồng tại khu vực có di tích”. Triển khai thực hiện Quyết định này, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã tổ chức hội thảo quy mô “Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản tỉnh Nghệ An” vào ngày 8/5/2019 với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, trong đó, vấn đề “Kinh tế di sản - một động lực tăng trưởng mới” được bàn thảo khá sôi nổi. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, phát triển kinh tế di sản vẫn là ý tưởng chưa đủ điều kiện để hiện thực hóa thành mô hình nhân rộng hay trở thành chiến lược quốc gia.

Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của di sản văn hóa, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu cấp bách về bảo tồn giá trị di sản văn hóa dân tộc: “Tăng cường công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, các di tích lịch sử văn hóa… Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Từng bước hạn chế, tiến tới xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.135). Tuy nhiên, vấn đề di sản cũng chỉ diễn đạt dưới dạng nhiệm vụ “bảo tồn”, “phát huy” với tư cách là một sản phẩm văn hóa. Nhận thức về yêu cầu phát triển kinh tế di sản nhìn chung vẫn còn mờ nhạt trong khi thực tiễn, hoạt động kinh tế di sản đã phong phú, sôi động và đạt nhiều thành tựu.

Chỉ đến Văn kiện Đại hội XIV, lần đầu tiên, thuật ngữ “kinh tế di sản” mới chính thức được xướng danh, trở thành một từ khóa được nhấn mạnh. Trong Báo cáo chính trị, tại Mục IV, khi bàn về kinh tế, Đảng yêu cầu: “Phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp; công nghiệp phục vụ quốc phòng, an ninh; công nghiệp xây dựng hiện đại; công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản; một số cụm liên kết ngành công nghiệp quan trọng, các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiện đại trên phạm vi vùng và liên vùng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.92). Tại Mục V. Phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam: “Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.97). Như vậy, kinh tế di sản là một vấn đề mang tính liên ngành giữa kinh tế và văn hóa, cũng có nghĩa là một điểm gặp gỡ của mục tiêu kép trong chiến lược phát triển quốc gia: vừa coi trọng tăng trưởng kinh tế, vừa đề cao giá trị văn hóa.

Việc đưa thuật ngữ “kinh tế di sản” vào văn kiện Đảng đã nâng tầm nhiệm vụ này thành chiến lược quốc gia, đánh dấu bước ngoặt tư duy về vai trò của văn hóa trong phát triển. Di sản giờ đây không chỉ là giá trị tinh thần cần bảo tồn tĩnh, mà là nguồn lực kinh tế và động lực tăng trưởng bền vững.

Sự thay đổi này thể hiện qua các bước chuyển then chốt:

Từ tài sản tinh thần sang tài sản kinh tế: biến di sản thành nguồn lực thực tế cho xã hội.

Từ bảo tồn tĩnh sang khai thác động: chuyển từ bảo vệ thụ động sang phát huy giá trị chủ động.

Từ đối tượng sang chủ thể: di sản không còn là mối quan tâm riêng của ngành Văn hóa mà trở thành tâm điểm phát triển kinh tế bền vững cho toàn quốc.

Qua đó, khẳng định văn hóa chính là nền tảng và động lực cốt lõi của sự phát triển hiện đại.

Các trụ cột trong phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam hiện nay

Phát triển kinh tế di sản trong giai đoạn mới phải được đặt trong hệ thống các quan điểm chỉ đạo của Đảng qua Văn kiện Đại hội XIV, trong đó cần tập trung xoay quanh các trụ cột chính:

Gắn kết di sản với du lịch bền vững và kinh tế hóa

Trụ cột này nhấn mạnh việc khai thác di sản phải gắn liền với hiệu quả kinh tế. Tinh thần cốt lõi được thể hiện qua chủ trương “Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản” được nêu ra trong Văn kiện Đại hội XIV. Việc này yêu cầu chuyển hóa di sản từ tài sản văn hóa sang nguồn lực kinh tế có khả năng tái tạo. Cần xây dựng các cơ chế để xã hội hóa nguồn vốn đầu tư vào bảo tồn, nâng cấp hạ tầng di tích, đồng thời đa dạng hóa sản phẩm dựa trên di sản (du lịch trải nghiệm, du lịch chữa lành, du lịch tâm linh...) chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh quốc tế, đồng thời tạo ra các cơ chế thu hút nguồn vốn xã hội hóa để tái đầu tư vào công tác bảo tồn. Mục tiêu là tạo ra vòng tuần hoàn kinh tế, văn hóa tích cực, đảm bảo rằng lợi ích kinh tế thu được từ di sản sẽ phục vụ ngược lại việc giữ gìn và phát huy giá trị nguyên bản của di sản, tránh tư duy khai thác “ăn xổi” làm tổn hại đến giá trị nguyên bản của di sản.

Phát triển công nghiệp văn hóa từ nền tảng di sản

Nhằm cụ thể hóa định hướng “Phát triển mạnh công nghiệp văn hóa” trong Báo cáo chính trị, trụ cột này xác định di sản là nguyên liệu đầu vào vô tận và độc quyền cho ngành công nghiệp sáng tạo. Di sản, từ các giá trị phi vật thể đến vật thể (như kiến trúc, hoa văn, kỹ thuật thủ công), cần được nghiên cứu chuyên sâu để chuyển đổi thành các sản phẩm thương mại có giá trị gia tăng cao. Điều này bao gồm việc phát triển các ngành: thiết kế thời trang lấy cảm hứng từ di sản, điện ảnh khai thác cốt truyện lịch sử, thủ công mỹ nghệ chất lượng cao và các sản phẩm phần mềm, game giáo dục. Việc phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ làm giàu thêm nền kinh tế mà còn là con đường hiệu quả nhất để quảng bá bản sắc văn hóa Việt Nam ra thế giới, biến di sản thành “sức mạnh mềm” mang lại lợi ích kinh tế quốc gia.

Ứng dụng công nghệ số và đổi mới sáng tạo

Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, Báo cáo chính trị đặt “chuyển đổi số” là một trong những khâu đột phá chiến lược, đã chỉ rõ sự cần thiết phải “Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và quản lý tốt môi trường văn hóa; phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa số”. Việc ứng dụng công nghệ số là yêu cầu tất yếu cho kinh tế di sản, công nghệ số là chìa khóa để hiện đại hóa kinh tế di sản. Nó không chỉ giúp số hóa di sản bằng các công nghệ VR/AR để mở rộng trải nghiệm và tiếp cận cho công chúng toàn cầu, mà còn tối ưu hóa công tác quản lý, lập hồ sơ di tích và giúp minh bạch hóa công tác quản lý di sản, xây dựng nền tảng dữ liệu lớn về du khách và thị trường văn hóa, từ đó tối ưu hóa chiến lược kinh doanh và bảo tồn di sản một cách khoa học, hiệu quả hơn.

Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư

Kinh tế di sản lấy con người làm trung tâm, theo đúng tinh thần của Văn kiện về “xây dựng, phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.259). Di sản thuộc về cộng đồng, do cộng đồng giữ gìn, truyền thừa và phát triển. Kinh tế di sản chỉ thực sự bền vững khi phát huy được vai trò của cộng đồng địa phương, chủ thể đích thực của di sản. Do đó, sự tham gia của cộng đồng địa phương phải được coi là trụ cột then chốt để đảm bảo tính bền vững của kinh tế di sản. Điều này đồng nghĩa với việc trao quyền và nâng cao năng lực cho cộng đồng tại các khu vực có di sản. Cộng đồng cần được tham gia vào toàn bộ chuỗi giá trị, từ việc cung cấp dịch vụ du lịch (homestay, ẩm thực), bảo trì di tích, đến sáng tạo sản phẩm thủ công. Khi lợi ích kinh tế được chia sẻ công bằng, cộng đồng sẽ có động lực mạnh mẽ để tự nguyện bảo vệ, giữ gìn di sản, biến di sản trở thành tài sản chung bền vững, thay vì chỉ là đối tượng bị khai thác. Việc chia sẻ lợi ích kinh tế một cách công bằng sẽ củng cố ý thức trách nhiệm và lòng tự hào của người dân, biến họ thành những “người bảo vệ” hiệu quả nhất cho di sản của mình.

Giải pháp để hiện thực hóa quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế di sản ở nước ta hiện nay

Nâng cao nhận thức toàn diện và đầy đủ về kinh tế di sản

Trong thời gian tới, cần phải giáo dục nâng cao nhận thức toàn xã hội về giá trị di sản, biến việc bảo tồn thành ý thức tự giác và trách nhiệm chung. Sự phát triển bền vững của kinh tế di sản đòi hỏi mọi người dân phải thấu hiểu và coi di sản là tài sản vô giá, từ đó chủ động tham gia vào việc bảo vệ, giữ gìn. Nâng cao nhận thức cũng là giải pháp cốt lõi để phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, biến họ thành lực lượng bảo vệ và khai thác di sản hiệu quả nhất.

Đặc biệt, cần chú trọng tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chuyên biệt về quản lý di sản, du lịch thông minh và công nghiệp sáng tạo, đảm bảo đội ngũ nhân lực có đủ kỹ năng và phẩm chất để làm chủ công nghệ và khai thác di sản một cách bền vững.

Đồng thời, cần chú trọng nghiên cứu khoa học về kinh tế di sản. Trước hết, cần nhận diện các loại hình kinh tế trong ngành kinh tế di sản. Từ đó, phân tích đặc trưng, đặc điểm cũng như giá trị của kinh tế di sản, xử lý các mâu thuẫn phát sinh khi phát triển kinh tế di sản ở cơ sở...

Kịp thời xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách

Thể chế, chính sách phải tạo điều kiện cho các sản phẩm sáng tạo dựa trên di sản được hình thành và thương mại hóa trên thị trường quốc tế, từ đó biến di sản thành động lực tăng trưởng kinh
tế mới.

Hệ thống luật pháp phải chuyển đổi từ việc tập trung vào bảo tồn di sản vật thể trong trạng thái nguyên trạng sang nhấn mạnh giá trị năng động của di sản, từ đó, cơ chế quản lý cũng phải chuyển từ việc can thiệp, ngăn cấm sang quản lý sự thay đổi và thúc đẩy sáng tạo trên nền tảng giá trị cốt lõi của di sản. Để có thể có sự chủ động về chính sách, đảm bảo thực hiện được chiến lược dài hơi cho phát triển kinh tế di sản, cần có tầm nhìn dài hạn. Sự ưu tiên lợi ích kinh doanh ngắn hạn có thể nhanh chóng dẫn đến sự suy giảm chất lượng và tính chân thực của di sản, làm suy yếu thương hiệu quốc gia đã đạt được. Cần tiến hành quy hoạch các loại hình trong ngành kinh tế di sản; tập trung xây dựng chiến lược dài hạn trong chiến lược tổng thể phát triển quốc gia cũng như kế hoạch ngắn hạn hướng vào phát triển ngành kinh tế này, hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo như đã trình bày trong Văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIV.

Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho kinh tế di sản

Để phát triển kinh tế di sản thành công, cần tập trung vào ba trụ cột chính:

Đột phá về nguồn vốn: chuyển dịch từ tư duy dựa vào ngân sách sang đa dạng hóa nguồn vốn xã hội. Thiết lập các quỹ đầu tư di sản chuyên biệt và cơ chế xã hội hóa hấp dẫn để thu hút nguồn lực từ doanh nghiệp và cộng đồng.

Sử dụng vốn minh bạch, hiệu quả: mọi dự án phải đảm bảo tính khả thi, giải ngân chặt chẽ và có cơ chế tái đầu tư cho bảo tồn. Việc lồng ghép vốn vào các chương trình phát triển kinh tế, xã hội sẽ tạo sức cộng hưởng, biến nguồn lực tài chính thành đòn bẩy thực sự.

Phát huy vai trò cộng đồng: cộng đồng không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể trung tâm sáng tạo và bảo tồn. Cần ưu tiên đào tạo năng lực và đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân địa phương, giúp họ trực tiếp tăng thu nhập từ chính di sản của mình.

Tích cực ứng dụng hiệu quả thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là số hóa

Giải pháp đột phá để hiện thực hóa trụ cột ứng dụng công nghệ số và đổi mới sáng tạo chính là ứng dụng tối đa khoa học và công nghệ với trọng tâm là chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị kinh tế di sản. Cần ưu tiên đầu tư và áp dụng các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) và dữ liệu lớn (Big Data). Việc này có ý nghĩa kép: một mặt, phục vụ công tác bảo tồn và quản lý di sản bằng cách số hóa di sản, tạo ra bản sao kỹ thuật số để giám sát, nghiên cứu và ngăn ngừa xuống cấp. Mặt khác, phục vụ khai thác kinh tế bằng cách phát triển các sản phẩm văn hóa số độc đáo, các mô hình du lịch thông minh và marketing di sản theo xu hướng toàn cầu. Qua đó, công nghệ không chỉ đảm bảo tính bền vững của di sản mà còn là đòn bẩy để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho lĩnh vực di sản.

Tăng cường liên kết vùng và hợp tác quốc tế

Kinh tế di sản là một lĩnh vực kinh tế mang tính liên ngành cao, vì vậy, để toàn bộ hệ thống kinh tế di sản vận hành hiệu quả, cần tăng cường sự kết nối nội tại và hội nhập toàn cầu. Giải pháp này đòi hỏi phải thúc đẩy liên kết đa ngành, đa lĩnh vực giữa các địa phương có di sản, các khu vực du lịch trọng điểm với các ngành công nghiệp sáng tạo và dịch vụ liên quan. Sự liên kết này giúp hình thành các chuỗi giá trị di sản tích hợp, tối ưu hóa nguồn lực.

Đồng thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế một cách chủ động và toàn diện bởi đây là con đường để tranh thủ vốn, công nghệ bảo tồn tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, marketing di sản của thế giới, và đặc biệt là đưa các sản phẩm công nghiệp văn hóa từ di sản Việt Nam ra thị trường quốc tế, khẳng định vị thế và sức hấp dẫn của văn hóa quốc gia. Đặc biệt nên gắn kinh tế di sản với đối ngoại về văn hóa để thấy sự đóng góp của kinh tế di sản vào xây dựng quyền lực mềm và thương hiệu, vị thế quốc gia trong mối quan hệ quốc tế.

4. Kết luận

Kinh tế di sản là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, tương lai, giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn và phát triển sáng tạo. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, kinh tế di sản là hướng đi tất yếu, không chỉ mang lại lợi ích vật chất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội mà còn củng cố bản sắc, khẳng định và lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia trên trường quốc tế. Việc Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chính thức đưa vấn đề kinh tế di sản vào trọng tâm đã thể hiện tầm nhìn xa trông rộng và quyết tâm chuyển đổi tư duy một cách sâu sắc. Bước ngoặt lý luận này đã chuyển di sản từ chỗ chỉ là một tài sản tinh thần cần bảo quản tĩnh sang một nguồn lực kinh tế quan trọng và năng động (bảo tồn động). Qua đó, văn hóa, mà cụ thể là di sản, được khẳng định không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là động lực mạnh mẽ cho sự tăng trưởng bền vững của quốc gia. Tuy nhiên, phát triển kinh tế di sản là một quyết sách chiến lược, đòi hỏi sự chuyển đổi tư duy sâu sắc và toàn diện; đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà quản lý, nhà chuyên môn, nhà đầu tư và cộng đồng để biến di sản thành tài sản chung bền vững, khẳng định vị thế quốc gia theo đúng tinh thần của Đại hội XIV.

___________________________

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập 2). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. (Tập 2). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 15/2/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 18/3/2026; Ngày duyệt đăng: 28/3/2026.

TS NGHIÊM THỊ THU NGA

Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026