1. Đối ngoại là sự vươn xa của nội lực văn hóa dân tộc

Có những thời điểm trong lịch sử, một dân tộc phải tự hỏi mình không chỉ sẽ đi đâu, mà còn sẽ đi ra thế giới bằng tâm thế nào. Với Việt Nam hôm nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, câu hỏi ấy càng trở nên hệ trọng. Bởi thế giới đang đổi thay rất nhanh. Những trật tự cũ bị thử thách. Những trung tâm quyền lực mới hình thành. Những đường biên giữa kinh tế, chính trị, công nghệ, văn hóa, an ninh ngày càng đan xen. Một quyết định về công nghệ ở một quốc gia có thể tác động đến sinh kế của người dân ở quốc gia khác. Một xung đột địa chính trị có thể làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. Một chuẩn mực mới về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tiêu chuẩn xanh hay thương mại số có thể quyết định năng lực cạnh tranh của cả một nền kinh tế.

Trong bối cảnh ấy, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW mang ý nghĩa không chỉ là một chỉ đạo về công tác đối ngoại, mà còn là một định hướng lớn về cách Việt Nam tự định vị mình trong thế giới. Đó là Việt Nam không đứng ngoài dòng chảy thời đại; không thụ động trước biến động; không khép mình trong tư duy tự vệ; cũng không hòa tan trong toàn cầu hóa. Việt Nam bước ra thế giới bằng bản lĩnh của một dân tộc có lịch sử, có văn hóa, có khát vọng và có trách nhiệm.

Điểm mới rất quan trọng được nhấn mạnh là đối ngoại lần đầu tiên được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, bên cạnh quốc phòng, an ninh. Đây là một bước phát triển lớn về tư duy. Đối ngoại không còn được nhìn như hoạt động chỉ diễn ra ở bên ngoài biên giới quốc gia, cũng không chỉ là nghi lễ, bang giao, đàm phán hay xử lý quan hệ quốc tế. Đối ngoại trở thành một phương thức trọng yếu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đối ngoại phải ở tuyến đầu trong nhận diện nguy cơ, ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát; đồng thời kiến tạo cục diện quốc tế thuận lợi cho phát triển.

Nhưng nếu nhìn sâu hơn, ta sẽ thấy thông điệp ấy có một tầng văn hóa rất rõ. Trong truyền thống Việt Nam, đối ngoại chưa bao giờ chỉ là kỹ thuật ứng xử với bên ngoài. Đó là sự biểu hiện của văn hóa giữ nước, văn hóa hòa hiếu, văn hóa trọng nghĩa, văn hóa biết mình, biết người. Cha ông ta từng hiểu rất sớm rằng muốn yên ngoài biên thì trước hết phải hòa trong nước; muốn giữ nước phải biết kết hợp sức mạnh bên trong với sự khôn khéo trong bang giao; muốn bảo vệ độc lập phải vừa kiên cường về nguyên tắc, vừa mềm dẻo trong phương thức.

tong bi thu chu tich nuoc tiep cac dai bieu du dien dan tuong lai asean 2026 8815957 2.avif
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu chụp ảnh lưu niệm với Trưởng đoàn các nước, chuyên gia, học giả và đại diện các tổ chức quốc tế đến Hà Nội tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 lần thứ ba (chiều 9/6/2026) - Ảnh: TTXVN

Từ thời dựng nước, giữ nước đến thời đại Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam luôn mang trong mình một phẩm chất văn hóa đặc biệt: lấy chính nghĩa làm nền tảng, lấy hòa bình làm khát vọng, lấy độc lập tự chủ làm nguyên tắc, lấy nhân văn làm phương thức, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu tối cao. Đó là nền ngoại giao không hiếu chiến nhưng không khuất phục; không cực đoan nhưng không mơ hồ; không khép kín nhưng không đánh mất mình. Chính nền tảng ấy đã giúp Việt Nam đi qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, đồng thời giữ được cốt cách riêng của dân tộc.

Trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tinh thần “đối ngoại là sự vươn xa của đối nội” gợi ra một nhận thức rất sâu sắc: đối ngoại mạnh phải bắt đầu từ nội lực mạnh. Một đất nước muốn có tiếng nói trọng lượng trên trường quốc tế trước hết phải có nền tảng bên trong vững chắc: chính trị ổn định, kinh tế phát triển, xã hội đồng thuận, văn hóa giàu bản sắc, con người có tri thức, niềm tin và khát vọng. Ngoại giao như tiếng chiêng, nhưng chiêng có tốt thì tiếng mới vang xa. Đó không chỉ là một hình ảnh đẹp, mà còn là một triết lý phát triển.

Vì vậy, đối ngoại trong kỷ nguyên mới không thể tách khỏi công cuộc xây dựng nội lực quốc gia. Nội lực ấy không chỉ là GDP, hạ tầng, công nghệ hay năng suất lao động, dù tất cả đều rất quan trọng. Nội lực ấy còn là văn hóa, là niềm tin xã hội, là phẩm chất con người Việt Nam, là uy tín quốc gia, là năng lực giữ lời hứa, là khả năng tổ chức thực thi, là sự minh bạch của thể chế, là chất lượng quản trị, là cách mỗi địa phương, mỗi doanh nghiệp, mỗi công dân góp phần làm cho hình ảnh Việt Nam trở nên đáng tin cậy hơn trong mắt thế giới.

Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực với ngoại lực, đó không chỉ là một công thức chiến lược, mà còn là một bài học văn hóa. Dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử luôn biết tiếp thu tinh hoa bên ngoài để làm giàu cho mình, nhưng không đánh mất mình. Chúng ta tiếp nhận chữ viết, tôn giáo, tư tưởng, kỹ thuật, mô hình quản trị, phương thức sản xuất, nhưng đều Việt hóa, nhân văn hóa, dân tộc hóa để phù hợp với tâm thức, nhu cầu và điều kiện của đất nước. Hôm nay cũng vậy, hội nhập quốc tế phải là quá trình tiếp nhận tinh hoa nhân loại để làm giàu bản sắc Việt Nam, nâng cao năng lực Việt Nam, chứ không phải là sự sao chép thụ động hay lệ thuộc.

Điều này đặc biệt quan trọng trong thời đại khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khi trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, kinh tế số, kinh tế xanh trở thành những trụ cột mới của phát triển, đối ngoại phải góp phần đưa Việt Nam đến gần hơn với các trung tâm tri thức, công nghệ và sáng tạo của thế giới. Nhưng tiếp nhận công nghệ không chỉ là nhập khẩu máy móc hay phần mềm. Đó còn là tiếp nhận cách nghĩ mới, tiêu chuẩn mới, văn hóa đổi mới sáng tạo, tinh thần tôn trọng tri thức, bảo vệ sở hữu trí tuệ, khuyến khích tài năng, chấp nhận thử nghiệm và dám chịu trách nhiệm. Nói cách khác, ngoại giao công nghệ cũng phải gắn với văn hóa phát triển.

Một quốc gia muốn “sánh vai với các cường quốc năm châu” không thể chỉ có khát vọng. Khát vọng phải được nâng đỡ bằng năng lực. Năng lực phải được kiến tạo bằng thể chế, con người, tri thức, công nghệ và văn hóa. Trong ý nghĩa ấy, đối ngoại không chỉ mở cửa cho Việt Nam đi ra thế giới, mà còn đưa những nguồn lực tốt đẹp của thế giới trở về bồi đắp cho Việt Nam. Mỗi quan hệ đối tác, mỗi hiệp định thương mại, mỗi khuôn khổ hợp tác công nghệ, mỗi diễn đàn đa phương, mỗi chương trình giao lưu nhân dân đều phải được nhìn như một dòng chảy hai chiều: Việt Nam tiếp nhận tinh hoa của thế giới và thế giới hiểu hơn, tin hơn, đồng hành nhiều hơn với Việt Nam.

Đó chính là chiều sâu văn hóa của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới: lấy nội lực làm gốc, lấy tự chủ làm nền, lấy hợp tác làm phương thức, lấy phát triển con người làm mục tiêu, lấy bản sắc dân tộc làm sức mạnh để đi vào thế giới một cách tự tin, đàng hoàng và có trách nhiệm.

2. Từ bảo vệ không gian phát triển đến kiến tạo năng lực phát triển quốc gia

Một trong những thông điệp có tính đột phá trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu đối ngoại Việt Nam phải chuyển từ trạng thái “ngoại giao bảo vệ không gian phát triển” sang “ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia”; từ “hội nhập thị trường” sang “kiến tạo thị trường”; từ “tham gia luật chơi” sang “góp phần định hình luật chơi”; từ lớn mạnh riêng lẻ sang cùng ASEAN lớn mạnh. Đây là một bước chuyển rất sâu trong tư duy đối ngoại, đồng thời cũng là một bước chuyển trong tư duy phát triển đất nước.

Trong nhiều thập niên qua, đối ngoại và hội nhập quốc tế đã góp phần rất quan trọng vào công cuộc đổi mới. Chúng ta phá thế bao vây, cấm vận; bình thường hóa quan hệ với các nước; gia nhập ASEAN, WTO; ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; thu hút vốn đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao vị thế quốc tế. Những thành tựu ấy là rất lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhưng khi đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra cũng cao hơn. Việt Nam không thể chỉ hài lòng với việc tham gia, mà phải vươn lên đóng góp. Không thể chỉ mở cửa thị trường, mà phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Không thể chỉ thu hút nguồn lực, mà phải chọn lọc nguồn lực. Không thể chỉ đi theo luật chơi, mà phải có năng lực tham gia xây dựng luật chơi.

Đó là lý do đối ngoại phải gắn chặt hơn nữa với các đột phá chiến lược của đất nước. Mục tiêu đến năm 2030, năm 2045 không thể đạt được nếu đối ngoại chỉ dừng ở quan hệ tốt đẹp về chính trị. Quan hệ chính trị tốt đẹp phải được chuyển hóa thành dự án cụ thể, nguồn lực cụ thể, thị trường cụ thể, công nghệ cụ thể, việc làm cụ thể, cơ hội cụ thể cho người dân và doanh nghiệp. Một chuyến thăm cấp cao thành công phải mở ra những chương trình hợp tác thực chất. Một khuôn khổ đối tác chiến lược phải tạo ra dòng chảy mới về đầu tư, công nghệ, giáo dục, văn hóa, khoa học. Một hiệp định thương mại phải giúp doanh nghiệp Việt Nam đi xa hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Một cam kết quốc tế phải được đo bằng hiệu quả thực hiện, chứ không chỉ bằng văn bản ký kết.

Đây là tinh thần rất mới: đối ngoại phải tạo ra giá trị phát triển. Nếu trước đây, ta nói nhiều đến thu hút đầu tư nước ngoài, thì nay phải nói đến chọn lọc đầu tư nước ngoài. Nếu trước đây, ta quan tâm nhiều đến số lượng dự án, thì nay phải chú ý nhiều hơn đến chất lượng dự án, mức độ chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, đóng góp cho năng suất lao động, tiêu chuẩn môi trường và năng lực đổi mới sáng tạo. Nếu trước đây, ta mở rộng thị trường chủ yếu để xuất khẩu nhiều hơn, thì nay phải mở rộng thị trường để hàng hóa Việt Nam có giá trị cao hơn, thương hiệu Việt Nam có vị trí tốt hơn, doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh bền vững hơn.

Ở đây, văn hóa phát triển trở thành một yếu tố rất quan trọng. Một nền kinh tế muốn đi xa phải có văn hóa chất lượng, văn hóa đổi mới, văn hóa giữ chữ tín, văn hóa tôn trọng tiêu chuẩn, văn hóa hợp tác, văn hóa cạnh tranh lành mạnh. Đối ngoại kinh tế không thể thành công nếu bên trong chúng ta thiếu năng lực tổ chức, thiếu kỷ luật thực thi, thiếu khả năng hấp thụ công nghệ, thiếu đội ngũ nhân lực chất lượng cao, thiếu hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Ngoại lực chỉ trở thành sức mạnh khi gặp được nội lực tương thích. Cơ hội quốc tế chỉ trở thành thành quả quốc gia khi chúng ta đủ năng lực nắm bắt, chuyển hóa và làm chủ.

Từ góc độ ấy, thông điệp về “tự chủ chiến lược” và “tự cường” có ý nghĩa đặc biệt. Tự chủ chiến lược không phải là khép kín, càng không phải là đứng ngoài thế giới. Tự chủ chiến lược là năng lực làm chủ vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế, lựa chọn đúng hướng đi, ứng phó linh hoạt trước biến động, không để bị cuốn vào đối đầu, không để rơi vào lệ thuộc, không đánh mất lợi ích cốt lõi. Tự cường là phát huy nội lực, củng cố niềm tin dân tộc, làm cho quốc gia mạnh lên từ bên trong. Một đất nước chỉ có thể hội nhập sâu rộng một cách vững vàng khi có năng lực tự chủ và tinh thần tự cường.

Điều đó càng đúng trong quan hệ với các nước lớn. Việt Nam phải chủ động, tích cực định hình, giữ gìn, phát triển quan hệ cân bằng, hài hòa, cùng có lợi, không để rơi vào thế đối đầu hoặc lệ thuộc. Đây là một nghệ thuật đối ngoại đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ và văn hóa ứng xử rất cao. Bởi trong môi trường cạnh tranh chiến lược gay gắt, giữ được cân bằng không phải là trung lập thụ động, mà là chủ động tạo thế, tạo lực, tạo lòng tin, tạo đan xen lợi ích để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó cũng là biểu hiện của văn hóa chính trị Việt Nam: kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, hòa hiếu trong phương thức, rõ ràng trong lợi ích, chân thành trong hợp tác nhưng không mơ hồ trước các thách thức.

Đối với các nước láng giềng và ASEAN, thông điệp củng cố “vành đai an ninh - phát triển” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không gian phát triển của Việt Nam trước hết gắn với môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực. Quan hệ láng giềng không chỉ là quan hệ địa chính trị, mà còn là quan hệ văn hóa, lịch sử, cộng đồng, sinh kế, dòng sông, đường biên, thương mại, giao lưu nhân dân. Càng trong bối cảnh bất định, càng cần tăng cường tin cậy chính trị, kết nối hạ tầng, năng lượng, logistics, văn hóa, khoa học kỹ thuật; xử lý hài hòa các vấn đề biên giới, an ninh nguồn nước, an ninh không gian và các thách thức phi truyền thống; củng cố đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN.

Tầm nhìn “cùng ASEAN lớn mạnh” là một thông điệp có chiều sâu văn hóa khu vực. Việt Nam không thể phát triển bền vững nếu khu vực bất ổn. Việt Nam không thể vươn lên một mình trong một ASEAN chia rẽ, yếu thế, thiếu năng lực tự chủ. Do đó, đối ngoại Việt Nam phải gắn khát vọng phát triển quốc gia với khát vọng xây dựng một cộng đồng ASEAN đoàn kết, tự cường, bao trùm, lấy người dân làm trung tâm. Đó cũng là cách Việt Nam góp phần kiến tạo môi trường khu vực thuận lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển.

Một điểm rất quan trọng khác là đối ngoại phải gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong kỷ nguyên mới, không gian phát triển không chỉ nằm ở đất đai, tài nguyên hay lao động giá rẻ. Không gian phát triển mới nằm trong dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, công nghệ cao, tiêu chuẩn mới, mô hình kinh doanh mới và mạng lưới tri thức toàn cầu. Vì vậy, ngoại giao công nghệ phải trở thành một mũi nhọn. Việt Nam cần chủ động tham gia định hình các khuôn khổ hợp tác về dữ liệu, AI, thương mại số, tiêu chuẩn xanh, kết nối với các trung tâm đổi mới sáng tạo của thế giới, hỗ trợ doanh nghiệp và địa phương vươn ra thị trường bên ngoài.

Nhưng công nghệ, xét đến cùng, cũng phải phục vụ con người. Đây là điểm nhân văn xuyên suốt trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: mục tiêu phát triển là để người dân được thụ hưởng; lấy hạnh phúc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân làm nền tảng. Đối ngoại không phải là những câu chuyện xa xôi chỉ thuộc về hội nghị, diễn đàn, tuyên bố chung hay hiệp định quốc tế. Đối ngoại phải đi vào đời sống bằng việc làm tốt hơn, sản phẩm tốt hơn, môi trường tốt hơn, cơ hội học tập tốt hơn, dịch vụ công tốt hơn, năng lực sáng tạo tốt hơn và niềm tự hào quốc gia lớn hơn.

Khi một người nông dân có thể bán sản phẩm đạt chuẩn ra thị trường quốc tế, đó là thành quả của đối ngoại. Khi một doanh nghiệp nhỏ tiếp cận được công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, đối tác mới, đó là thành quả của đối ngoại. Khi một sinh viên Việt Nam có cơ hội học tập, nghiên cứu, khởi nghiệp trong mạng lưới tri thức toàn cầu và trở về đóng góp cho đất nước, đó là thành quả của đối ngoại. Khi một địa phương biến di sản, cảnh quan, ẩm thực, làng nghề, nghệ thuật truyền thống thành sản phẩm du lịch và công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh, đó cũng là thành quả của đối ngoại. Đối ngoại, vì thế, phải được đo bằng lợi ích cụ thể của đất nước, doanh nghiệp, địa phương và người dân.

3. Lan tỏa văn minh Việt Nam, đóng góp cho nhân loại và hành động đến nơi đến chốn

Nếu phần đầu của phát biểu nhấn mạnh vị trí trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại; phần tiếp theo nhấn mạnh sứ mệnh kiến tạo phát triển; thì một chiều sâu đặc biệt khác chính là thông điệp về lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam và nâng tầm vị thế quốc gia tương xứng với tầm vóc lịch sử, bản sắc văn hóa, tiềm lực kinh tế và vai trò chính trị ngày càng gia tăng của đất nước.

Đây là thông điệp rất đáng suy ngẫm. Bởi trong nhiều năm, khi nói đến đối ngoại, chúng ta thường nghĩ trước hết đến chính trị, an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư. Tất cả những điều đó đều đúng và rất quan trọng. Nhưng một quốc gia muốn có ảnh hưởng bền vững trong thế giới hiện đại thì không chỉ cần sức mạnh cứng, mà còn cần sức mạnh mềm; không chỉ cần năng lực đàm phán, mà còn cần năng lực thuyết phục; không chỉ cần lợi ích, mà còn cần giá trị; không chỉ cần hiện diện, mà còn cần bản sắc.

Việt Nam có một nguồn lực văn hóa rất lớn. Đó là lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là nền văn hóa nhân nghĩa, khoan hòa, yêu chuộng hòa bình. Đó là những di sản vật thể và phi vật thể phong phú. Đó là tiếng Việt, là ký ức làng quê, là tín ngưỡng, lễ hội, ẩm thực, áo dài, âm nhạc, mỹ thuật, văn học, điện ảnh, nghệ thuật trình diễn, là bản lĩnh con người Việt Nam trong khó khăn, là tình nghĩa đồng bào trong hoạn nạn, là khát vọng học hỏi, vươn lên và hội nhập. Nếu biết tổ chức, hiện đại hóa và kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại, những giá trị ấy sẽ trở thành một nguồn lực đối ngoại vô cùng quan trọng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu biến ngoại giao văn hóa, ngoại giao di sản thành nguồn lực nội sinh đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương. Đây là một gợi mở rất lớn cho ngành Văn hóa, cho các địa phương, cho các doanh nghiệp sáng tạo và cho toàn bộ hệ thống đối ngoại. Ngoại giao văn hóa không thể chỉ dừng lại ở những ngày văn hóa, tuần lễ văn hóa, chương trình biểu diễn hay triển lãm mang tính sự kiện. Ngoại giao văn hóa phải trở thành chiến lược dài hạn về thương hiệu quốc gia, về công nghiệp văn hóa, về du lịch văn hóa, về truyền thông quốc tế, về giáo dục, về giao lưu nhân dân và về năng lực kể chuyện Việt Nam với thế giới.

Một di sản được UNESCO ghi danh không chỉ là niềm tự hào, mà còn là một cam kết văn hóa với nhân loại. Một bộ phim Việt Nam được bạn bè quốc tế chú ý không chỉ là thành công của nghệ sĩ, mà còn là cơ hội để thế giới hiểu hơn tâm hồn Việt Nam. Một món ăn Việt Nam xuất hiện trên bản đồ ẩm thực toàn cầu không chỉ là câu chuyện du lịch, mà còn là sức mạnh mềm của lối sống, ký ức và sự tinh tế. Một làng nghề truyền thống nếu được kết nối với thiết kế hiện đại, thương mại điện tử và thị trường quốc tế có thể trở thành một không gian phát triển mới cho cộng đồng. Một thành phố sáng tạo nếu biết khai thác văn hóa bản địa, công nghệ và nguồn lực trẻ có thể trở thành một điểm đến của tri thức, nghệ thuật và đổi mới.

Ở đây, văn hóa không nằm ngoài kinh tế. Văn hóa cũng không đứng sau chính trị. Văn hóa là nền tảng tạo nên sự khác biệt, sự hấp dẫn và sự bền vững của phát triển. Một đất nước có thể thu hút đầu tư bằng chính sách ưu đãi, nhưng để giữ được lòng tin lâu dài, đất nước ấy cần văn hóa quản trị tốt. Một điểm đến có thể thu hút du khách bằng cảnh đẹp, nhưng để họ quay trở lại, điểm đến ấy cần văn hóa phục vụ, văn hóa cộng đồng, văn hóa môi trường. Một thương hiệu có thể bán được sản phẩm bằng giá rẻ, nhưng để đi xa, thương hiệu ấy cần câu chuyện, giá trị, chuẩn mực và niềm tin. Đó chính là lý do đối ngoại văn hóa phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.

Cùng với lan tỏa bản sắc, Việt Nam cũng phải thể hiện trách nhiệm toàn cầu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Việt Nam cần phát huy tiếng nói tích cực, cung cấp ý tưởng, góp phần khôi phục lòng tin và tính hiệu quả của chủ nghĩa đa phương; tích cực đóng góp vào bảo vệ trật tự thế giới dựa trên luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; tham gia cải cách hệ thống quản trị toàn cầu theo hướng bình đẳng, công bằng hơn; đồng thời tham gia xử lý các thách thức chung như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, an ninh lương thực, gìn giữ hòa bình, cứu hộ cứu nạn, viện trợ nhân đạo.

Đây là sự trưởng thành về tầm vóc quốc gia. Một Việt Nam từng nhận được sự ủng hộ to lớn của bạn bè quốc tế trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và đổi mới đất nước, hôm nay có trách nhiệm đóng góp nhiều hơn cho hòa bình, ổn định, phát triển và công bằng của thế giới. Đó không phải là sự phô trương vị thế, mà là cách một dân tộc có văn hóa ứng xử với cộng đồng quốc tế. Khi mình đã lớn lên, mình phải biết chia sẻ. Khi mình có kinh nghiệm vượt qua chiến tranh, đói nghèo, bao vây, cấm vận, dịch bệnh, thiên tai, mình có thể đóng góp kinh nghiệm ấy cho những cộng đồng khác. Khi mình hiểu giá trị của hòa bình, mình càng phải có trách nhiệm bảo vệ hòa bình. Khi mình từng đi qua gian khó, mình càng hiểu ý nghĩa của hợp tác, nhân đạo và đoàn kết quốc tế.

Tuy nhiên, để các thông điệp lớn ấy không dừng lại ở tầm nhìn, yêu cầu then chốt là tổ chức thực hiện. Một điểm rất quan trọng trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là tinh thần hành động: “hiểu sâu, làm đúng, làm đến nơi đến chốn, làm hiệu quả”; quán triệt Nghị quyết là để hành động, hành động để tạo chuyển biến, chuyển biến để mang lại kết quả thực chất. Đây không chỉ là yêu cầu về quản lý nhà nước, mà còn là yêu cầu về văn hóa thực thi.

Văn hóa thực thi là nói đi đôi với làm. Là không để nghị quyết chỉ nằm trên giấy. Là không biến chủ trương lớn thành khẩu hiệu. Là không chạy theo hình thức, sự kiện, phong trào mà thiếu kết quả cụ thể. Là mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị phải xác định rõ mình làm gì, làm đến đâu, ai chịu trách nhiệm, nguồn lực ở đâu, thời hạn thế nào, thước đo ra sao. Trong đối ngoại, văn hóa thực thi còn là giữ chữ tín quốc gia. Một cam kết quốc tế nếu không được thực hiện nghiêm túc sẽ ảnh hưởng đến uy tín quốc gia. Một cơ hội hợp tác nếu không được chuẩn bị tốt sẽ trôi qua. Một thỏa thuận nếu không có cơ chế theo dõi, đôn đốc, giám sát sẽ khó trở thành nguồn lực phát triển.

Vì vậy, việc triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW phải là công việc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị. Đối ngoại không chỉ là việc của ngành ngoại giao. Quốc hội có đối ngoại nghị viện. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội có đối ngoại nhân dân. Các địa phương có ngoại giao địa phương. Doanh nghiệp có ngoại giao kinh tế và thương hiệu. Trường đại học, viện nghiên cứu có ngoại giao tri thức. Nghệ sĩ, nhà văn hóa, vận động viên, người trẻ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đều có thể là những đại sứ văn hóa của đất nước. Mỗi người Việt Nam khi ứng xử văn minh, làm việc chuyên nghiệp, giữ chữ tín, tôn trọng luật pháp, tự hào nhưng không tự mãn, hội nhập nhưng không hòa tan, đều góp phần làm đẹp thêm hình ảnh quốc gia.

Một nền đối ngoại toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp cũng đòi hỏi đội ngũ cán bộ đối ngoại ngang tầm. Đó là đội ngũ có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ngoại ngữ, tri thức liên ngành, năng lực công nghệ, năng lực phân tích chiến lược, kỹ năng truyền thông, khả năng xử lý khủng hoảng và tinh thần dám đổi mới sáng tạo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tinh thần “6 dám”: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn vì lợi ích đất nước. Đây là yêu cầu rất cao, nhưng cũng rất cần thiết. Bởi trong một thế giới biến động từng ngày, người làm đối ngoại không thể chỉ làm theo lối mòn. Họ phải có tư duy mở, tầm nhìn xa, phản ứng nhanh, hành động chắc và luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết.

Nhìn tổng thể, Nghị quyết số 06-NQ/TW và phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho thấy một tầm nhìn đối ngoại mới của Việt Nam: đối ngoại là tuyến đầu của hòa bình, là động lực của phát triển, là kênh lan tỏa văn hóa, là phương thức nâng tầm vị thế, là không gian thể hiện trách nhiệm quốc tế và là sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Đó là nền đối ngoại của một Việt Nam độc lập, tự chủ, tự cường; một Việt Nam hòa hiếu nhưng bản lĩnh; một Việt Nam đổi mới nhưng không đánh mất mình; một Việt Nam biết tiếp thu tinh hoa nhân loại để làm giàu cho dân tộc; một Việt Nam biết đóng góp vào những giá trị chung của thế giới.

Có thể nói, chiều sâu lớn nhất của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới chính là chiều sâu văn hóa. Văn hóa giúp chúng ta biết mình là ai khi bước ra thế giới. Văn hóa giúp chúng ta giữ được bản lĩnh trước biến động. Văn hóa giúp chúng ta tạo dựng lòng tin với bạn bè quốc tế. Văn hóa giúp các lợi ích trở nên nhân văn hơn, các quan hệ trở nên bền vững hơn, các cam kết trở nên đáng tin cậy hơn. Và văn hóa cũng giúp khát vọng phát triển của Việt Nam không chỉ là khát vọng giàu mạnh về vật chất, mà còn là khát vọng xây dựng một đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, có vị trí xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã nhiều lần chứng minh rằng, khi đất nước đoàn kết, khi lòng dân đồng thuận, khi đường lối đúng đắn, khi sức mạnh dân tộc được kết hợp với sức mạnh thời đại, chúng ta có thể vượt qua những thử thách lớn lao và tạo nên những kỳ tích. Hôm nay, trong kỷ nguyên mới, đối ngoại Việt Nam mang trên mình một sứ mệnh lớn hơn: không chỉ đưa Việt Nam ra thế giới, mà còn đưa thế giới đến gần hơn với một Việt Nam tự tin, nhân văn, sáng tạo, trách nhiệm và khát vọng. Đó là hành trình của bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong thời đại mới; là con đường để dân tộc ta vươn mình, đóng góp và tỏa sáng trong dòng chảy chung của văn minh nhân loại.