
Cho đến khi chị ra mắt thi tập thứ 6 (Nồng nẫu Bazan, Nxb Hội Nhà văn, 2026) trong gia tài 10 ấn phẩm trải đều ở nhiều thể loại thì bạn văn khắp nơi mới thật sự ngỡ ngàng, vì suy cho cùng, đó không phải là lượng sáng tác nhỏ đối với một người phụ nữ còn bề bộn những riêng mang. Cảm giác nữ sĩ của chốn thông xanh quỳ vàng luôn cố giấu đi cuốn nhật kí hành trình của mình, chỉ lộ diện trước độc giả mỗi khi “đứa con tinh thần” đã nên vóc nên hình. Dẫu sao, sự dè dặt và kín kẽ ấy cũng là một điều đáng trọng.
1. “Đất đỏ chọn tôi”
Có thể nói, dấu ấn Bazan trong tập này rõ rệt hơn rất nhiều, ít nhất là so với cuốn Vân không (Nxb Hội Nhà văn, 2025) - ấn phẩm thơ gần kề. Các chỉ dấu “mùa ning nơng”, “tượng nhà mồ”, “cõi măng lung”, “mắt tượng”… gần như xuất hiện dày hơn và nét hơn trong 25 bài thơ của phần đầu thi tập, làm nên một đường biên “đất đỏ” nối dài và dìm đắm tác giả ở khoảng giữa của những tầng “sóng cao nguyên” nồng nẫu. Để rồi từ đó, tháng Bảy hay tháng Ba, mùa mưa hay mùa khô cũng chỉ là một cái cớ để tình tự với núi đồi. Có phải khi đem lòng yêu một người, mắt ta biết nhìn gần hơn; nhưng yêu một vùng đất, ta biết nhìn xa hơn? Chẳng thế mà không gian trong Nồng nẫu Bazan của Ngô Thanh Vân càng lúc càng rộng ra, thênh thang hơn như “rừng mở cửa gọi mùa” để nghe “réo rắt chung chiêng thanh âm dài ba đồi bảy núi”. Đất và người cao nguyên như một tấm gương cho nữ sĩ soi mình trước những yêu thương, thấu hiểu, che chở và bao dung. Ngô Thanh Vân đáp lại bằng thơ, nghĩa là đáp lại bằng ân tình. Đối đãi chân tình thế mà cả đời nữ sĩ vẫn luôn thấy mình mắc nợ.
Vân đa cảm. Và thơ thấu tỏ chị. Nên cái hồn thơ ấy không thể nào ngang qua “những gốc cây trơ khấc ven đường”, “những cánh rừng bạt ngàn bão nổi” mà không cảm thương, không thể nào ngang qua “hàng hàng nấm mồ vô danh” chiều biên giới hay một đứa trẻ A Chông tựa “hạt bắp trơ mình dưới cát” mà không buốt xót cho được. Vân khóc cả cho tượng mồ nẻo gió dù nước mắt mình đã khô lâu rồi. Trong cõi chiều thăm thẳm, tượng khao khát như người, người dại tê như tượng. Bởi thế nên người và tượng cùng chung một “giọt nước mắt chỉ linh hồn nhìn thấy”. Ngay ở những bài đầu tiên trong Nồng nẫu Bazan, ta nhiều khi thấy rối bời trong câu chuyện thơ Vân kể. Vì cái trăn trở cảm thương ấy có khi nằm ở sự đời mắt thấy tai nghe như câu: “rừng đã lùi về núi/làng biết lùi về đâu”, lại có khi gửi ở những ảo ảnh khôn cùng “người uống cùng ma một lần sau cuối”. “Cao nguyên trong lành mắt phố” là vậy mà cái đa sầu đa cảm ấy khiến trái tim hồn hậu của chị không ít lần thổ lộ: “ta cúi xuống rướn mình nghe vị đắng/em nghĩ gì khi thắp lửa cao nguyên”…
Với 6 thi tập trong tay, Ngô Thanh Vân định đoạt mình bằng những câu thơ không toan tính. Thơ chị không phải tạng thơ “đứng đi trên lửa”, cũng không lên gân cốt để làm dáng với đời mà chỉ thuận lòng người… thơ tuôn. Hầu hết các bài thơ trong Nồng nẫu Bazan đều khá vững vàng trên cái nền tự nhiên ấy. Cái tình cởi mở mà đằm dịu như chính con người Vân, dễ khiến cho người khác cảm tình ngay lần đầu gặp gỡ. Một số bài, một số câu đã ít nhiều có sự chuyển động theo hướng mới nhưng nhìn chung vẫn còn lưu dấu nét nguyên xưa, giống cái ý tình khe khẽ của sơn nữ trong những lời này: “tiếng hát anh vang bao núi/bàn chân anh đi bao đồi/mà trái tim anh bồi hồi/chỉ mình em mới hiểu”. Thơ Ngô Thanh Vân là vậy, dành hết sự đằm dịu cho miền đất đỏ, đến cái “cuộn mình tung vó” cũng chỉ xuất hiện trong giấc mơ.
Đất Bazan chọn Vân cho thơ bởi trong chị có niềm tin. Tin là mình yêu cao nguyên da diết, yêu trong những ngày “cái hanh hao đốt cháy thịt da” hay cả trong cái đêm “pơthi tàn rồi” đành phải hẹn với người “mai ta về phía mùa trăng mới”. Dẫu có lúc chị thừa nhận “tôi dại khờ u mê mà nghĩ mình sáng suốt”. Cái tín niệm thật thà, mỏng manh hé lộ qua thơ đôi khi dẫn người ta đi hết những chao đảo sự đời và nuôi lớn những giấc mơ. Để trên tháng rộng ngày dài, chút nồng nẫu của Bazan vương vít vào thơ Vân như một niệm lành trú xứ.

2. “Cây tương tư trổ những đóa hoa sầu”
Ở chặng này, với Nồng nẫu Bazan, Ngô Thanh Vân chọn diễn đạt mình bằng những câu thơ đẹp như thế. Điều vô lí đầu tiên và cũng rất có thể là sự thật cuối cùng, rằng nhà thơ chọn nơi nương náu của mình là một khoảng trống. Trống mà không rỗng! Cảm như càng cố nén mình lại trong cái lặng yên mong cầu, tránh né những ồn ã bủa vây như “sen lặng lẽ tỏa thầm” thì Vân lại càng trống trải và bơ vơ. Chỉ cần dăm bước loanh quanh với “phố ngày sương” cũng đủ dìu bước nhà thơ vào… “phức cảm”. Để rồi, với 25 thi phẩm còn lại được sắp đặt khéo léo ở phần sau tập sách, Ngô Thanh Vân đã tự “vẽ cho mình những ảo ảnh mong manh” và để chúng tự do giăng mắc chảy trôi trong tệp cảm xúc gọi tên phố, sương và những mùa thu. Chỉ vậy mà làm bạn đọc phải hao gầy theo, chỉ vậy mà khiến những người yêu thơ Vân phải miên man theo.
Sợi dây “lạc lõng” chạy suốt trong thơ Vân, nó rút dần bao hân hoan của những phút giây chị ngỡ mình có đã hạnh phúc đích thực nơi “bình minh reo trong từng mắt lá” nhưng cũng chính cái lạc lõng vô bờ ấy khiến thơ chị giàu sức sống hơn. Cảm như Ngô Thanh Vân sẵn được yêu thương mà vẫn luôn khát thèm yêu thương, luôn để cho nỗi nhớ “rớt vào thăm thẳm giấc mê”, làm nguồn cơn cho “những khoảng trời đi mãi vẫn đơn côi”. Đọc thơ Ngô Thanh Vân lần nào ta cũng buộc phải “duềnh doàng chênh chao sóng mắt” theo điệu chị. Những giai điệu như “tiếng thở dài thõng thượt” người buông trong đêm “đếm cả trăm bầy cừu” mà vẫn chưa đi vào giấc ngủ. Cái chập chờn mộng mị ấy có phải là “phức cảm đêm”?
Những cách trở trong đời âu cũng là một chiêm nghiệm để người biết lặng lẽ với thơ. Ngô Thanh Vân hiểu những cách trở của đời mình và xem đó như một lẽ bâng khuâng để trong một ngày thu cao nguyên “gió mưa không hẹn trước”, chị bất giác muốn hỏi… rồi tự dặn lòng “đừng hỏi vì sao mùa thu tha thiết”. Không khó để nhận ra những hụt hẫng dâng đầy trong thơ chị suốt những ngày đầu đến tận bây giờ. Cái bơ vơ ấy dễ khiến người ta chợt nhớ đến một đắng đót khác khi nghe giọng danh ca nào cất lên bên thềm phố đêm đêm: “Sẽ chỉ còn quầng thu thuở ấy/nỗi cô đơn vằng vặc giữa trời”. Ngỡ là, phải nhìn rõ bóng mình với cô đơn thì chị mới yên lòng “thấy mình tồn tại”.
Gần như, người thơ nào cũng mang lấy dáng vẻ của “những đám mây nhởn nhơ ngoài ô cửa” nhưng sâu thẳm vẫn muốn trời đất hiểu mình. Có lẽ người nữ trong Nồng nẫu Bazan của Ngô Thanh Vân cũng không tránh được những hoài mong như thế. Nhưng cũng đã đến lúc ta đủ cẩn tin để chắc rằng, có những sự hiểu trong lặng im, và có những niềm thương trong “xa xỉ tương phùng”. Nghĩ dại, chẳng biết trời ban thơ cho người thong dong hay long đong nữa. Nhưng nhìn con đường Vân đi, có lúc thơ mang đến những mùa yêu với hoa trái ngọt lành, có lúc thơ cho những xao xác của một vùng cỏ rối nhưng nhờ vậy mà thơ và đời luôn tươi xanh.
Giữa chốn “trần gian còn lắm thiết tha”, Ngô Thanh Vân cùng những vần thơ “chìm nổi nắng mưa” tựa hồ một đóa cúc mùa thu nếu mai này có trót “rớt vào lưng lửng núi đồi” thì cũng rót lại cho phố cao nguyên những “khúc mơ màng” trong trẻo. Thi tập Nồng nẫu Bazan ra mắt đúng vào thời khắc mà nhà thơ Ngô Thanh Vân rời vị trí Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai sau một chặng đường gắn bó với nhiều nỗ lực. Người thương chị thấy tiếc, người hiểu chị thấy mừng. Mặc lòng, dừng lại nghĩa là chuẩn bị bước tiếp. Bao cái nhỡ nhàng trên đời này sau rốt lại chính là một vừa vặn trời cho đấy thôi. Ai dám bảo không được ví thơ của người từng trải như “cau non vừa trổ nụ”. Ta lật mở từng trang “Nồng nẫu” để lắng đọc và chờ mong Vân đi tiếp với thơ ca, bắt đầu từ những câu lục bát ngọt ngào và mới mẻ như thế này:
“Mình về an trú trong cây/để nghe hơi đất ươm đầy tháng năm”.
LỮ HỒNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 638, tháng 3-2026