
Trong số hàng vạn những con người ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ, có một trường hợp khá đặc biệt. Đó là nữ chiến sĩ Anh Trâm. Chị không chỉ là một quân y sĩ dũng cảm, đã từng tham gia nhiều cuộc chiến đấu ác liệt, mà chị trở về hậu phương với đứa con gái mang nặng đẻ đau ngay giữa hoàn cảnh bom đạn, kết quả của một mối tình lãng mạn với Đoàn, một chiến sĩ, một Trung đoàn trưởng trẻ tuổi, tài năng, đầy hứa hẹn. Khỏi phải nói những khó khăn, những ái ngại, những nghi ngờ, những kỳ thị, những ác cảm, ghẻ lạnh mà chị gặp phải trong tình cảnh “lỡ làng” bất đắc dĩ mà chị đối mặt. Đối với một số người, đó là chuyện không thể chấp nhận được trong hoàn cảnh phải dốc toàn sức lực cho cuộc chiến tranh đang vào hồi quyết liệt.
Nhưng chiến tranh thì không thể chỉ lo cho cái riêng của từng cá nhân cụ thể. Anh Trâm và con gái của chị vẫn cứ phải tiếp tục sống từ chiến tranh sang đến vài chục năm sau khi hòa bình lập lại, trong tình cảnh mất liên lạc với Đoàn. Đến lượt Phương Anh, con gái của Anh Trâm tình cờ gặp gỡ và yêu tha thiết Huy, con trai của Đoàn. Nhờ mối tình này, mẹ Anh Trâm mới biết tin tức của Đoàn, dẫn đến việc dần dần tháo cởi được những hiểu nhầm, dẫn đến một cuộc “đoàn viên” đầy cảm động giữa Trung đoàn trưởng Đoàn, Trâm Anh, con gái Phương Anh cùng người yêu là Huy (con nuôi của Đoàn), với những đồng đội đã từng một thời sống chết ở chiến trường.
Đấy là nội dung câu chuyện mà nhà văn Thế Đức thể hiện, nếu được kể lại một cách ngắn gọn nhất có thể. Kỳ thực, qua gần 400 trang sách, rất nhiều khía cạnh tâm huyết khác mà anh muốn chuyển đến người đọc! Tại đây, nhiều trang viết của Thế Đức thể hiện một vốn hiểu biết sâu sắc về con người trong chiến tranh, một thái độ chính trị đúng đắn trước những biến cố của thời cuộc, một lựa chọn đạo đức về số phận và hạnh phúc của con người trong chiến tranh mang tính nhân văn sâu sắc, một quan niệm thẩm mỹ về thể loại tiểu thuyết hình thành trong quá trình sáng tạo của tác giả.
Trước hết là bối cảnh lịch sử mà Thế Đức lựa chọn cho câu chuyện sắp kể của mình. Đó là thời điểm sau khi Hiệp định Paris được ký kết sau những năm tháng dài bom đạn, chết chóc. Hòa bình như một niềm ao ước cháy bỏng của biết bao con người của các bên tham gia chiến tranh trên dải đất hình chữ S. Trong tâm sự thầm kín của họ, ai ai cũng chắc mẩm một điều, thế là họ đã được sống… đang chờ đợi một ngày không xa nữa sẽ được trở về với quê hương, với gia đình…(tr.142). Nhưng về phía các chiến sĩ Giải phóng, tâm trạng vui mừng ấy nhanh chóng được xác định Chiến trường miền Nam mở ra một chương mới cho những chiến sĩ giải phóng…, không để quân đội Sài Gòn tiếp tục tái chiếm (tr.79). Những cuộc đụng độ giành đất, giành dân vẫn xảy ra. Với ý đồ “tràn ngập lãnh thổ”, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã lợi dụng triệt để yếu tố này, đẩy mạnh và liên tục hành quân lấn chiếm đất đai, dân số, thuộc vùng đất do Quân Giải phóng quản lý (tr.167). Những đơn vị quân đội Giải phóng vẫn hết sức cảnh giác, căng sức bảo vệ từng tấc đất đã từng phải đổi biết bao xương máu. Nhưng đây cũng là thời kỳ đất nước đang chuẩn bị cho những trận đánh lớn, trước cơ hội kết thúc chiến tranh mấy năm sau đó. Bức tranh sinh động ấy của cuộc chiến ở vào thời điểm đặc biệt sau Hiệp định Paris được Thế Đức dành nhiều trang viết, miêu tả khá kỹ các tình huống, như thể với ý định làm nền cho câu chuyện của những nhân vật văn học của cuốn tiểu thuyết. Ở đây thái độ chính trị của ngòi bút của tác giả thể hiện rất rõ ràng, minh bạch: Hiệp định Paris dù đã được ký kết, tuy nhiên những hành động quân sự lấn chiếm của phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa là không thể chấp nhận được, hòa bình còn cần phải được bảo vệ bằng súng đạn!
Bám sát bối cảnh lịch sử của buổi giao thời ấy, nhà văn Thế Đức dựng lên trong tác phẩm của mình một tập thể cán bộ chiến sĩ đầy lạc quan, yêu đời nhưng cũng hết sức cảnh giác trước những diễn biến mau lẹ của thời cuộc. Họ là những chiến sĩ, những cán bộ cấp trung đoàn, những Đội y tế, những đơn vị phối thuộc của Trung đoàn chủ lực Quân Giải phóng 150, đang trải qua những ngày chiến tranh ác liệt, với những hy sinh, tổn thất to lớn trong khu rừng trùng trùng điệp điệp này, rất nhiều nơi đã từng xảy ra những thảm họa kinh hoàng bởi thứ chất độc màu da cam do quân đội Hoa Kỳ thả xuống (tr.80). Tuy nhiên như một biện chứng của chiến tranh, càng gian khổ, ác liệt, con người càng lạc quan vui sống, càng yêu thương nhau qua lửa đạn như những người ruột thịt. Họ quan tâm đến nhau, yêu quý nhau như cha con, anh em một nhà từ Đội phó Kim Hoa, Đội trưởng Bích Liên đến Anh Trâm đến Chính ủy, Trung Đoàn trưởng và trung đội trưởng Đoàn. Chính ủy và Trung đoàn trưởng cùng hai vị “thủ phó” đều cho phép cả ba chị em được chuyện trò thoải mái, không cần câu nệ như trong điều lệ quân ngũ quy định. Chính vì thế…,tiếng cười, tiếng nói, đầy tình, đầy nghĩa, như trong một gia đình (tr.223). Hôm nay ngồi đây, trẻ già, cha con, đồng chí, quấn quýt bên nhau. Ngày mai biết đâu sẽ ly tán mỗi người một ngả (tr.223). Chính trong không khí đầm ấm ấy, mối tình đẹp giữa Anh Trâm và Đoàn nảy nở và lớn lên trong lửa đạn, trong sự cảm thông, bảo vệ của đồng đội. Nhưng như đã nói, chiến tranh vốn không bao giờ “dừng lại” ở các số phận từng cá nhân. Cuộc tình lãng mạn giữa Anh Trâm và Đoàn bị cơn lốc chiến tranh cuốn đi, mãi đến hơn 20 năm sau ngày hòa bình họ mới tìm được nhau, trước khi mọi việc tưởng như trở thành một bi kịch đau xót!

Kể lại câu chuyện “lỡ làng” của một cô gái trẻ trong hoàn cảnh bom đạn, tại thời điểm đáng lẽ mọi con người đều phải dốc toàn lực cho cuộc chiến, đáng lẽ không được phép nghĩ đến những riêng tư, khi đã tự nguyện hy sinh cá nhân mình cho sự nghiệp chung…, tác giả muốn gửi gắm điều gì với người đọc? Ai cũng hiểu chiến tranh không phải là nơi cho những tình cảm cá nhân, nhưng ai cũng hiểu con người không phải sắt đá! Ai cũng hiểu kỷ luật quân sự là bất khả xâm phạm, nhưng ai cũng hiểu người ra trận có thể ngã xuống bất cứ lúc nào. Ai cũng hiểu bản năng là ngọn lửa thiêu đốt tuổi trẻ, nhưng ai cũng hiểu “làn ranh đỏ” của lý trí là điều mỗi quân nhân phải chấp nhận. Con người bước vào cuộc chiến tranh khốc liệt với một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi của lý tưởng giải phóng đất nước khỏi họa xâm lăng. Nhưng con người là những cá thể xã hội sống động, và có vẻ như may mắn là con người còn chưa kịp bị chiến tranh biến thành những “rô bốt” lạnh lẽo, nên con người cũng có những vui buồn, có thể có những vi phạm, những sai lầm trong tất cả mọi lĩnh vực, kể cả trong những tình cảm riêng tư! Hình như Thế Đức đã suy nghĩ rất nhiều về những “mặt đối lập” này trước trang giấy. Anh như đang đứng trước một vấn đề đạo đức nhưng không phải là thứ đạo đức trên bình diện lý thuyết, mà là trên thực tế, ở một trường hợp cụ thể, buộc mọi người phải tìm câu trả lời. Và cuối cùng anh đã đưa đến một sự “lựa chọn đạo đức” rạch ròi và dứt khoát: đứng về phía con người, những người trẻ tuổi, những người đang đối mặt với bom đạn, bênh vực họ. Để có thêm “đồng minh”, anh dựng lên một tập thể, những chiến sĩ và cán bộ Trung đoàn 150 công khai hoặc im lặng ngấm ngầm bày tỏ niềm cảm thông với đôi trai tài gái sắc kia. Không những thế, ngòi bút của anh còn tinh quái “diễu nhại” với ý đồ cô lập, phê phán, hạ thấp hình ảnh Lại Trúc Chắt, người Trưởng trạm an dưỡng đang vô cùng tức tối với Anh Trâm, khi mẹ con chị được chuyển về an dưỡng, tại đơn vị ông ta đang cai quản. Quả thật đây là những trang viết ấm áp, nhân hậu, của một ngòi bút biết nương nhẹ trước số phận mong manh, hiếm hoi của hạnh phúc con người, sẵn sàng bênh vực con người yếu thế mỗi khi họ rơi vào tình cảnh oái ăm. Đằng sau sự ấm áp trong hơi văn của trang viết, có thể nhận ra một quan niệm trong sáng, một thái độ chân thành, một tình cảm nhân hậu của ngòi bút Thế Đức. Điều ấy làm nên tính nhân văn sâu sắc bắt nguồn từ tinh thần nhân đạo của dân tộc, mà văn chương thời nào cũng cần phải có ý thức giữ gìn!
Câu chuyện trong cuốn tiểu thuyết Chuyện tình thời hậu chiến của Thế Đức kéo dài từ những năm cuối cùng của chiến tranh đến vài chục năm đầu tiên sau hòa bình, từ không gian mặt trận đến không gian hòa bình. Những người trong cuộc hình như vẫn còn những ký ức chưa xa về chiến tranh, vì vậy trong mỗi con người vẫn còn những kỷ niệm sống động của chiến tranh. Rất dễ hiểu vì sao họ, những con người đã sống trong hòa bình nhưng hình như vẫn còn nguyên vẹn những tình cảm của thời chiến. Họ yêu quý nhau từ trong bom đạn, trước sống chết. Họ mang tác phong và tình cảm ấy vào thời bình. Bởi vậy đọc Chuyện tình thời hậu chiến chúng ta như bắt gặp những con người hết sức trong sáng, cao đẹp. Họ vẫn quen yêu quý nhau, che chở nhau qua bom đạn, như những người ruột thịt. Họ là những nhân vật văn học của Thế Đức đi lại, nói năng, hành động…bình dị và gần gũi tạo nên cảm giác chân thật của trang viết. Đấy là một trong những ưu điểm của tiểu thuyết Chuyện tình thời hậu chiến.
Nhưng để giữ được tính chân thực ấy trong suốt gần 400 trang viết, nếu cần một góp ý với tác giả, phải chăng nhà văn nên giản dị hơn, đời thường hơn khi đặt tên cho nhân vật của mình. Những cái tên như Anh Trâm, Kim Hoa, Bích Liên, Phương Anh, Nam Sơn…nghe rất lãng mạn, nhưng phải chăng cũng rất tiểu thuyết, rất sa lông. Với tác giả, rất nhiều những lựa chọn khác gần gũi, đời thường, thậm chí “nhà quê” một chút, biết đâu từ đó lại tăng thêm thiện cảm với người đọc, biết đâu lại tăng thêm tính chân thực nghệ thuật của trang viết, và đơn giản: hợp với hoàn cảnh bom đạn, chiến tranh?
Câu chuyện Thế Đức kể lại, như chúng ta thấy, khá éo le và dị biệt. Những tình tiết éo le, dị biệt như vậy, về phương diện tiểu thuyết rất dễ gây hứng thú, xúc cảm…với người đọc bởi sự bất ngờ, kịch tính của chúng. Nhưng từ đó cũng rất dễ sa vào những ngẫu nhiên không lường trước được của các tình huống. Khá nhiều những ngẫu nhiên như vậy có thể bắt gặp đây đó trong tiểu thuyết Chuyện tình thời hậu chiến của Thế Đức. Chẳng hạn tình tiết Phương Anh yêu Huy, và qua mối tình của đôi trẻ này mẹ của Phương Anh mới gặp lại Đoàn, bố nuôi của Huy. Từ đó Phương Anh mới nhận ra bố nuôi của Huy là bố đẻ của mình, người yêu năm xưa từ lâu mất liên lạc của mẹ; chẳng hạn khi mẹ con Anh Trâm về trại an dưỡng của Lại Trúc Chắt, bị anh ta đưa ra kiểm điểm, thi hành kỷ luật bỗng nhiên gặp lại Trung đoàn trưởng 150 năm xưa (là bố nuôi của Anh Trâm) và được che chở…vv. Những ngẫu nhiên như vậy muốn hay không cũng làm vơi đi tính thiện cảm của trang viết, từ đó làm giảm đi tính chân thực nghệ thuật của ngòi bút!
Ngoài những ngẫu nhiên một cách không ý thức như vậy, Chuyện tình thời hậu chiến là một tiểu thuyết dễ đọc, dễ đồng cảm, cho dù đôi khi tác giả cố ý xáo trộn thời gian, thể hiện bút pháp đồng hiện để kéo quá khứ về trước hiện tại.
Với nội dung của cuốn tiểu thuyết Chuyện tình thời hậu chiến, có thể thấy đề tài chiến tranh và người lính đã được cởi mở trong quan niệm, đang dần vượt qua sự phản ảnh một chiều để đưa đến người đọc góc nhìn mới đa diện hơn về con người trong văn học.
LÊ THÀNH NGHỊ
Nguồn: Tạp chí VHNT số 638, tháng 3-2026