
• Được mệnh danh là “thần đồng” từ rất sớm, điều đó đã ảnh hưởng như thế nào đến tư tưởng nghệ thuật và con đường sáng tác sau này của ông? Ông có bao giờ cảm thấy áp lực phải “vượt lên chính mình” của quá khứ?
Thực ra, tôi không thấy có gì áp lực cả. “Thần đồng” là biệt danh dành cho những đứa trẻ kiệt xuất, làm được điều phi thường mà ở tuối ấy, những đứa trẻ bình thường không thể làm được. Và danh hiệu Thần đồng chỉ dành cho trẻ con thôi. Người lớn làm được việc phi thường cũng không ai gọi là Thần đồng. Thuở bé con, tôi làm thơ, có thơ in báo rồi dịch ra cả nước ngoài, cũng chẳng có ai gọi tôi là Thần đồng, thậm chí cũng chẳng ai gọi tôi là “nhà thơ nhí”. Người lớn rất sợ trẻ con kiêu ngạo, nên mọi người chỉ bảo tôi là “Cháu ngoan Bác Hồ, chú bé tập làm thơ”. Thậm chí thơ tôi in, mà in rất nhiều ở các báo, tòa soạn cũng không gửi nhuận bút, sợ trẻ hư hỏng, viết vì tiền chứ không vì nghệ thuật. Thay cho nhuận bút là đồ chơi, ví như cái ô tô bằng nhựa hay con búp bê biết nhắm mắt mở mắt. Rồi cặp sách. Rất nhiều cặp sách. Đầu năm lớp Ba, tôi đã có hơn ba trăm cặp sách. Tôi mang đến lớp, phát cho các bạn, mỗi đứa ba cái mà vẫn không hết. Hồi đó nhà thơ Xuân Diệu viết về tôi: “Em Khoa rất ngoan và hảo tâm, có phần thưởng hay quà, em lại chia cho bạn bè trong lớp”. Thực ra, chẳng ai hiểu Trần Đăng Khoa bằng tôi. Cậu ấy cũng chẳng ngoan gì đâu. Đồ dùng không hết thì nhờ bạn bè dùng hộ thôi. Khi Nhà xuất bản Kim Đồng in tập tập thơ Em kể chuyện này, lấy tên một bài thơ của tôi, nhưng in chung ba đứa: Trần Đăng Khoa, Cẩm Thơ, Nguyễn Hồng Kiên, tôi có nhiều bài nhất 52 bài, anh Bùi Hồng, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng mang tặng tôi cái đài Nhật bé bằng bao thuốc lá, nhưng chạy 9 vôn, bằng 6 quả pin đại, pin to và nặng hơn Đài. Phải có đăng ký mới mua được pin. Có pin, rất nhiều anh trai làng đến mượn, đeo đi hỏi vợ. Có đài với súng lục là oai lắm. Khi tôi ra tập thơ riêng Góc sân và khoàng trời, 62 bài, in 50.300 cuốn, chị Trần Tuyết Minh, biên tập viên, giữa trưa hè tháng 6 đã vượt gần 70 km bom đạn trên đường 5, đèo về nhà tôi một cái chăn len Mông Cổ. Hồi đó quý lắm. Chỉ duy nhất có một tờ báo trả nhuận bút, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tháng 10 năm 1967, Văn nghệ Quân đội in bài thơ đầu tiên của tôi: Tiếng chim chích chòe, tòa soạn tặng tôi một cuốn sổ tay có dòng chữ phủ nhũ vàng “Văn nghệ Quân đội”, một cái bút máy và nhuận bút là 15 đồng. Tôi đi bộ hơn 3km mới đến bưu điện Kim Bịch nhận về đưa cho mẹ. Mẹ tôi kinh hoàng, cứ tra hỏi tôi: “Con có ăn cắp của đâu không? Chỉ có mấy câu mách qué mà sao được chính phủ cho nhiều tiền thế?”. Mẹ tôi gánh một gánh bèo nặng đi 5km ra chợ huyện bán mới được có 5 hào. 15 đồng ấy bằng mẹ tôi lao động cực nhọc một tháng. Nếu hồi ấy báo nào cũng trả nhuận bút cho tôi như VNQĐ thì tôi nuôi được cả nhà. Tuổi thơ của tôi là thế thôi. Mãi sau này, khi tôi đã già rồi, người ta mới gọi tôi là thần đồng. Lúc ấy tôi là bố trẻ con rồi. Thế nên danh hiệu thời trẻ con chẳng có gì áp lực với tôi cả. Thậm chí nó còn rất xa lạ, như ở ngoài mình và chẳng có gì liên quan đến mình.
• Từ thơ ca thuần khiết (Góc sân và khoảng trời) đến văn xuôi trải nghiệm (Đảo chìm) rồi phê bình sắc sảo (Chân dung và đối thoại), ông đã vận hành tư duy nghệ thuật của mình ra sao? Có một nguyên tắc xuyên suốt nào trong cách ông tiếp cận các chất liệu và thể loại khác nhau?
Tôi làm thơ, viết văn, viết báo rồi viết phê bình rất buồn cười. Nói có khi các vị chả tin. Gia đình tôi có truyền thống khoa bảng. Có cụ tôi làm đến Tể tướng, có cụ là Tế tửu Quốc Tử Giám. Có cụ dạy con vua chúa. Cụ Nguyễn Nghiễm, thân phụ thi hào Nguyễn Du cũng đã về với các cụ nhà tôi. Khi cụ tôi mất, Vua cử cụ Nguyễn Khản, Tể tướng, rồi cụ Lê Quý Đôn về lo tang lễ. Nhưng đến đời bố tôi thì thất học. May có bác Minh (Nhà thơ Trần Nhuận Minh) - ông anh cả tôi còn chí thú nối nghiệp nhà. Ông ấy đau đáu với nghề, rất có ý thức về nghề và sống rất nghiêm túc, đúng là con cháu của các bậc túc nho. Còn tôi chỉ tùy hứng. Bác Minh đi dạy học ở Quảng Ninh, nhưng có tủ sách rất lớn ở nhà. Một lần dọn tủ, có tập thơ bị gián nhấm, bác ấy vứt xuống bếp. Tôi nấu cơm đọc được. Hóa ra thơ trẻ con viết về Bác Hồ có tên là Tấm lòng chúng em. Tôi đọc và thấy thơ thế thì mình cũng viết được và có thể còn viết hay hơn. Thế là tôi viết. Và viết ào ào. Hồi đó trẻ con làm thơ còn ít nên tôi thành của hiếm, nhiều người không tin. Cũng tại vì có ông anh làm thơ nên nghĩ là ông anh gà cho. Họ đến tận nhà tò mò xem xét, rồi ra đề cho tôi làm. Thoạt đầu tôi rất khó chịu. Nhưng sau cũng quen. Quen lại thấy vui. Thế là tôi chơi trò sát hạch với người lớn. Họ chỉ cái gì, tôi viết cái đó. Chỉ cây dừa, tôi có bài Cây dừa, chỉ cái vườn, tôi có Vườn em, chỉ đàn gà, tôi có Gà con liếp nhiếp. Rồi con chó mất vì bom, rồi đêm ngủ ở Côn Sơn. Hầu hết các bài trong tập Góc sân và khoảng trời là viết trong hoàn cảnh oái oăm như thế. Cũng tương tự như vậy, sau này viết sang văn xuôi, rồi phê bình, rồi các bài báo. Tập Chân dung & Đối thoại viết theo yêu cầu của anh Nguyễn Trí Huân và tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội và các báo. Tôi ở tòa soạn Văn nghệ Quân đội, tòa soạn cần gì, tôi viết cái đó. Viết vì yêu cầu, nhưng khi viết tôi viết theo ý tôi, không nghe ngóng ai cả. Không là cái loa phát ngôn cho ai. Thường các nhà phê bình cứ hong hóng nghe nhau, rồi nói theo nhau. Có người bảo Xuân Diệu là nhà thơ tình, thế là họ biến tấu na ná như thế hoặc đẩy lên thành ông hoàng thơ tình. Tôi không thấy như thế. Và tôi nói cái điều tôi thấy. Khi đọc ai, tôi quên tất cả những gì người ta đã nói về tác giả ấy, xua hết mọi tạp kiến ra khỏi đầu. Thậm chí tôi dọn đầu óc mình sạch tinh, để chỉ còn tôi đối diện với tác giả và tác phẩm. Rồi tôi nói điều tôi cảm nhận. Không nói theo ai cả, không ám ảnh vì nhận xét của ai cả. Mình cứ viết đúng như mình nghĩ, mình thấy, mình cảm nhận. Và chịu trách nhiệm về những gì mình nói. Chỉ thế là thành khác người, thành mới mẻ thôi. Ở nước mình, chỉ cần không ăn theo, không nói leo là thành mới mẻ, thành độc đáo. Thậm chí chỉ cần nói thật cũng hóa độc đáo rồi. Đảo chìm cũng vậy. Chị Lê Phương Liên muốn tôi kể những mẩu chuyện về Trường Sa cho các em nhỏ. Nếu chỉ kể những mẩu chuyện ở đảo thì sẽ thành Tôi kể em nghe chuyện Trường Sa, như nhiều nhà văn đã viết. Tôi chọn hòn đảo độc đáo nhất. Đảo chưa có đảo. Vì chuyện cho đối tượng trẻ con nên không thể viết dài. Mỗi chương một chuyện. Và để in vừa cho mỗi trang của báo nhi đồng, nên không thể viết dài, dây cà dây muống, có chuyện chỉ vài chục âm tiết. Và mỗi chuyện lại phải có tính độc lập, nghĩa là tách ra, nó vẫn hoàn thiện như một cái truyện mini, nhưng gộp lại thì thành một cái tiểu thuyết siêu ngắn. Các nhân vật hiện dần. Vấn đề ý tưởng, thông điệp cũng hiện dần. Viết xong tôi biết đó không phải chuyện thiếu nhi. Tôi đưa các báo in photong. Rồi nó thành cái chuyện chung, trẻ con, người lớn, người già đều đọc được. Và rồi viết kiểu ấy, nó lại hóa độc đáo, chí ít chả có ai viết như thế. Và viết thế lại rất hiện đại, hợp với đời sống hiện đại bây giờ. Và thế là nó thành tôi rồi. Vì chả ai viết thế, truyện mini, thế giới người ta viết đầy. Nhưng tiểu thuyết mini, có lẽ tôi là người đầu tiên. Chẳng phải tôi có ý thức cách tân gì gì, mà đời sống yêu cầu tôi viết thế thì tôi viết thế.

• Ở ông, chúng tôi thấy một sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân và vận mệnh đất nước (từ lao động thời chiến trong Hạt gạo làng ta đến trải nghiệm người lính nơi đảo xa). Theo ông, bổn phận tối thượng của một nghệ sĩ - đặc biệt trong những giai đoạn lịch sử quan trọng - là gì?
Thực ra, sự gắn bó mật thiết giữa số phận cá nhân với vận mệnh đất nước thì không phải chỉ riêng tôi mà nhà thơ nào cũng thế. Chỉ có điều, tôi sống rất hồn nhiên và viết cũng rất hồn nhiên. Trong đời tôi chẳng có mưu mô gì và cũng không thích những người mưu mô. Tôi chẳng có khát vọng gì ngoài cố gắng làm một người bình thường, để có cuộc sống yên ổn, có thể lẫn vào hàng ngàn người bình thường. Tôi cũng nói thẳng điều ấy trong bài thơ đánh đu với ông anh ruột Trần Nhuận Minh: Giờ thì em đã chán - Những vinh quang hão huyền - Muốn làm làn mây trắng - Bay cho chiều bình yên. Nhưng viết thì cố gắng để không giống ai. Nếu mình viết giống người khác thì mình đã không còn là mình nữa. Có người bảo, sao Trần Đăng Khoa già thế, ông cụ non thế, lại làm chính trị sớm thế: Dây diều em cắm - Bên bờ hố bom - Uống nước hố bom sâu- Nghé con vênh mặt cười - Ao trường vẫn nở hoa sen - Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu… Tôi có làm chính trị đâu. Tôi chỉ phản ánh đời sống. Mà đời sống bấy giờ là đời sống chính trị. Tôi sống hồn nhiên và viết hồn nhiên. Có lẽ vì thế mà bây giờ bạn đọc vẫn còn thương, vẫn còn đọc lại tôi chăng? Vì sách của tôi vẫn in lại đều đều. Có khi mỗi tháng một lần tái bản ở các nhà sách khác nhau. Có người in thơ tôi có cả người sưu tầm thơ Trần Đăng Khoa. Mỗi lần nói chuyện, tôi thấy có em, có độc giả đưa tập thơ tôi mà họ có ra, để lấy chữ ký tác giả, tôi thấy tập sách lạ hoắc vì tôi mới nhìn thấy lần đầu.
• Ông kỳ vọng điều gì ở một tác phẩm “xứng tầm” với dân tộc và thời đại hôm nay? Đâu là những rào cản lớn nhất khiến văn học Việt Nam khó có được những tác phẩm như vậy, theo góc nhìn của ông?
Rào cản ư? Có đấy. Nhưng rào cản nếu có thì chỉ ở phía người sáng tạo thôi. Làm sao chúng ta có được những tài năng lớn. Có tài sẽ có tất cả. Còn không thì tất cả chỉ là không. Chả có thời nào cay nghiệt, khắc nghiệt như thời phong kiến, mà chúng ta vẫn có Truyện Kiều, vẫn có Chinh Phụ ngâm. Tôi lại nhớ câu thơ của Trần Dần: Tôi khóc những chân trời không có người bay/ Lại khóc những người bay mà không có chân trời. Thời nào cũng có chân trời. Chân trời ở ngay dưới gót chân của chúng ta. Chỉ có điều ta có bay được hay không mà thôi. Muốn bay phải có tài, nghĩa là phải có đôi cánh…
• Ông từng nói: “Tôi coi cuốn sách của mình như một bảo tàng nho nhỏ… để lưu giữ những kỷ vật của một thời gian khổ đã qua”. Có phải ông quan niệm văn chương, trước hết, là sự “lưu giữ ký ức” và “tri ân”? Điều này có mâu thuẫn với yêu cầu sáng tạo và tầm vóc tư tưởng của một tác phẩm lớn?
Đúng thế đấy. Và không có gì mâu thuẫn cả. Muốn giữ được những con người, những khoảnh khắc ta sống, thì chỉ có viết cho hay. Không hay thì không có ai đọc, càng không có ai nhớ. Không tới được với bạn đọc đương đại, thì đừng bao giờ hy vọng có mặt ở tương lai. Ngay cả những gì được đón nhận rầm rĩ bây giờ, chưa chắc đã tồn tại được với tương lai. Trừ những tác phẩm có giá trị đích thực. Những giá trị ấy mới còn mãi. Đem đốt không cháy. Tiêu hủy cũng không tan. Nói như nhà thơ Trần Nhuận Minh: Mới mấy năm thôi mà thơ đã khác/ Có kiệt tác một thời đọc lại chẳng còn hay/ Thời gian ơi, sao em cay nghiệt thế/ Đỏ cả rừng chiều, lá bay…

• Là một nhà phê bình thẳng thắn, ông nghĩ gì về mối quan hệ giữa nghệ sĩ và công chúng? Một tác phẩm nên đáp ứng kỳ vọng của số đông, hay dẫn dắt, thậm chí thách thức thị hiếu và nhận thức của họ?
Hãy cố gắng viết hay. Diễn, hát cho hay. Hay thì mình sẽ có công chúng. Còn thời gian sàng lọc nữa. Như vàng càng luyện càng tinh. Còn chẳng ai để ý thì đừng nghĩ là tác phẩm của mình kén độc giả, khán giả. Nói thẳng: Đấy chỉ là ngụy biện của những kẻ bất tài
• Nhìn lại hành trình hơn nửa thế kỷ, nếu được gửi gắm một điều tâm huyết nhất cho các thế hệ nhà văn trẻ - những người đang khao khát tạo nên tác phẩm “xứng tầm” - ông sẽ nói với họ điều gì?
Thế hệ tôi, hay các bậc đàn anh đàn chị của tôi nữa cũng đã làm xong nhiệm vụ của mình rồi. Hay dở gì cũng chỉ thế thôi. Tôi rất hy vọng ở các bạn trẻ. Các bạn hạnh phúc hơn chúng tôi là không phải đi qua chiến tranh. Có điều kiện học hành bài bản, rèn giũa tự đào tạo để thành tài. Nhiều người đi nhiều, ở hẳn nước ngoài, có điều kiện học hỏi thiên ha. Ta cứ khuyên nhau viết sao phải đậm đà bản sắc dân tộc. Đã đành, nhưng bản sắc dân tộc không đủ đâu. Vì đôi khi chính tính dân tộc lại bó hẹp ta lại, khu biệt ta và cầm tù tra trong vũng ao tù quốc gia, không ra được với thế giới. Muốn ra thế giới lại phải còn có tính nhân loại. Phải chạm được đến những vấn đề nhân loại quan tâm. Cho nên tôi rất hy vọng ở các bạn trẻ có điều kiện học hành đặc biệt ngoại ngữ, làm sao phải giỏi tiếng nước ngoài như tiếng mẹ đẻ thì mới đưa tác phẩm của mình, của đồng bào mình ra thế giới. Tiếng Việt hẻo lánh và khuất khúc, rất khó với người nước ngoài. Tôi cũng đọc rất nhiều. Văn học ta không kém đâu. Tiểu thuyết ta không bằng thiên hạ. Nhưng thơ với truyện ngắn thì ta không thua đâu, thậm chí còn hơn. Nhưng ta bại ở khâu dịch thuật. Để có bản dịch hay phải có ba yếu tố, một phải rất giỏi ngoại ngữ, hai, phải giỏi cả tiếng Việt. Không phải người Việt nào cũng giỏi tiếng Việt đâu. Và ba: Phải có tài thơ, tài văn mới dịch được. Thiếu một trong ba yếu tố ấy đều không thành.
LÊ HUY HÒA (thực hiện)
Nguồn: Tạp chí VHNT số 635, tháng 2-2026