
Ngôi nhà chung của đồng bào Churu
Là nhà thờ Công giáo nhưng Ka Đơn không có những tòa tháp vươn cao, những mái vòm cong nhọn, những cột trụ sừng sững thường gặp trong kiến trúc Gothic mà trông như ngôi nhà truyền thống của đồng bào Churu, ẩn mình giữa rừng thông xanh ngắt, hòa vào cảnh trí của gió núi mây ngàn.
Nhà thờ không có cổng rào, từ ngoài nhìn vào chỉ thấy một gian nhà thấp dài với mái ngói nâu trầm thấp thoáng giữa những rặng thông. Nếu không có chiếc bảng “Nhà thờ Ka Đơn” bằng gỗ đơn sơ, đặt ngang tầm nhìn, thật khó hình dung đó là một ngôi giáo đường. Chúng tôi men theo lối đi xuyên qua những hàng thông là bước ngay vào bên trong nhà thờ. Sàn nhà thờ thấp liền với mặt đất, không có bậc thang, không có tam cấp để đưa thánh đường lên cao; cũng không có cửa để ngăn cách nơi thờ tự với bên ngoài, mọi người có thể vào bên trong thánh đường bất cứ thời điểm nào, điều đó đem đến cảm giác thân thiện, gần gũi.
Bên trong nhà thờ là không gian thoáng đãng và “trong suốt”, nhờ những bức lam gỗ kết hợp với kính tạo thành vách ngăn, thay cho những bức tường kiên cố. Không có sự ngăn cách, không có ranh giới trong ngoài. Từ bên trong có thể nhìn thấy thiên nhiên, cây cỏ chim thú; và ngược lại, ánh sáng, nắng gió từ ngoài có thể tự do ùa vào trong. Những ô cửa sổ trên mái lấy sáng theo mọi hướng, giúp ngôi thánh đường ngập tràn ánh sáng tự nhiên. Hệ thống lam gỗ tỏa từ trần xuống vừa tạo điểm nhấn cho kiến trúc vừa giúp thông thoáng tầm nhìn, ban ngày có thể ngắm mây trời, đêm ngắm trăng sao…
Nhà thờ gần như không trang trí, không tranh ảnh, không hoa, không lá. Thiên nhiên rộng lớn bên ngoài chính là phong cảnh đẹp nhất, theo lời linh mục Giuse Nguyễn Đức Ngọc, Quản xứ giáo xứ Ka Đơn, khi xây dựng nhà thờ. “Mảnh đất của nhà thờ đã sẵn thiêng liêng, không cần thay đổi thêm bất cứ điều gì. Thiên nhiên chính là trang sức, đất đỏ, núi non, không khí, nắng gió, ánh trăng… Chỉ có thiên nhiên và một mái nhà chung”.
Nhà thờ Ka Đơn hoàn thành vào năm 2014, sau 4 năm xây dựng. Khi thiết kế nhà thờ, các yếu tố chính được linh mục Nguyễn Đức Ngọc đặt ra. Thứ nhất là đơn sơ, ít màu sắc, ít trang trí, dân dã, trân trọng vẻ đẹp tự nhiên. Thứ nhì là khiêm tốn, nhà thờ thấp và vùi vào núi đồi, chỉ có tháp chuông đưa thánh giá lên cao, để dân làng nhìn thấy như một sức mạnh nội sinh. Thứ ba, đậm nét văn hóa bản địa, làm sao giống như một không gian nhà ở truyền thống của người Churu.
Dựa vào những yêu cầu này, đôi vợ chồng kiến trúc sư trẻ người Việt, Vũ Thị Thu Hương và Nguyễn Tuần Dũng, khi đó đang làm đồ án cao học tại Đại học Kỹ thuật Berlin, CHLB Đức, đã lên ý tưởng thiết kế với sự tư vấn và hỗ trợ của các giáo sư thuộc phân viện kiến trúc. Bằng những vật liệu thông thường như khung sắt, mái ngói, nền đá, gỗ thông kết hợp với kính, hai KTS đã thiết kế nên một kiến trúc độc đáo, đơn giản mà tinh tế, gần gũi mà sang trọng, xóa nhòa ranh giới giữa trong và ngoài, biến công trình thành một phần của thiên nhiên. Công trình vượt khỏi công năng của một nhà thờ, trở thành điểm đến đậm bản sắc văn hóa bản địa, nơi con người hòa vào thiên nhiên, nơi yếu tố hiện đại giao hòa với yếu tố truyền thống.
Công trình được thế giới công nhận bằng hai giải thưởng quốc tế: giải thưởng Kiến trúc Thánh châu Âu (năm 2011) cho bản thiết kế và giải nhì cuộc thi Kiến trúc Thánh quốc tế lần thứ 6 (năm 2016) tại thành phố Pavia, Italy.

Nơi bảo tồn văn hóa Churu
Linh mục Giuse Nguyễn Đức Ngọc khi làm Quản xứ tại giáo xứ Ka Đơn đã nỗ lực bảo tồn nghề truyền thống của người Churu, trong đó có nghề gốm mộc. Thuở xưa, gốm mộc Churu nổi tiếng xa gần, cả thôn Krăng gọ làm gốm, dùng gốm làm hàng hóa trao đổi với các buôn khác trong vùng, với các đoàn buôn từ Lào, Campuchia… Theo xu hướng phát triển, sản phẩm gốm ít được ưa chuộng khi mà đồ nhôm, đồ nhựa dần thay thế, nghề gốm dần mai một, người dân Krăng gọ không còn mặn mà với nghề của tổ tiên. Linh mục Nguyễn Đức Ngọc giải thích cho người dân hiểu, gốm không chỉ là nghề mưu sinh mà là văn hóa của cộng đồng, động viên người dân giữ nghề. Thiết thực nhất là ông thu mua các sản phẩm gốm do bà con làm ra để tạo sinh kế. Không phụ lòng mong mỏi của ông, khi cả buôn đều nguội lòng với gốm thì vẫn còn gia đình nghệ nhân Ma Li đỏ lửa để duy trì nghề. Đến nay, khi du lịch phát triển, nghề gốm mộc Churu hồi sinh, dù không hưng thịnh như xưa nhưng vẫn được giữ gìn, trao truyền cho thế hệ trẻ, góp phần bảo tồn nét văn hóa của buôn làng. Nghệ nhân Ma Li bày tỏ niềm cảm kích. “Nhờ cha Ngọc tiếp sức mà mình có thêm động lực cùng quyết tâm giữ nghề gốm. Giờ mình cũng nỗ lực giải thích, hỗ trợ để các thế hệ con cháu hiểu mà tiếp tục nghề truyền thống của dân tộc”.
Với sự am hiểu và say mê nghiên cứu về dân tộc học, linh mục Nguyễn Đức Ngọc đã sưu tầm, lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm của người Churu, biến nhà thờ thành một “bảo tàng thu nhỏ”. Công việc ấy được các linh mục quản xứ sau đó tiếp tục duy trì. Nhà thờ dành hai gian phòng lớn làm nơi trưng bày những tư liệu, hình ảnh, hiện vật về đời sống của người Churu từ xưa đến nay, như một cách giữ gìn nền văn hóa bản địa. Ở đó có không gian gốm với những chiếc bình, bếp, nồi, ấm, chén, bát màu nâu đỏ, màu đen... Có không gian lễ hội với cây nêu, trống, chiêng ba, kèn bầu, đàn đá; có góc bếp người Churu; có những dụng cụ đánh bắt cá, làm thủy lợi, làm ruộng của đồng bào... Bên trong thánh đường dành một góc riêng đặt trang trọng bộ chiêng ba của người Churu bên cạnh các dụng cụ âm nhạc khác, để âm thanh cồng chiêng trầm hùng ngân vang vào các giờ lễ.
Ngoài ra, để việc truyền giáo đạt hiệu quả và gần gũi với đồng bào, nhà thờ đã chuyển ngữ các sách kinh đọc hằng ngày, sách giáo lý, các bài hát sang ngôn ngữ Churu. Người dân được nghe hát thánh ca và nghe cha xứ rao giảng bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình, những buổi cử hành phụng vụ và cầu nguyện đậm nét Churu, góp phần vào việc bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa Churu đang có nguy cơ mai một…

HOÀNG NGỌC THANH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 658, tháng 10/2026