Từ khóa: Nghị quyết số 33-NQ/TW; Nghị quyết số 80-NQ/TW; quan điểm của Đảng; phát triển văn hóa Việt Nam.

Abstract: This article clarifies new shifts in the Party’s perspectives on Vietnamese cultural development through a comparative analysis of Resolution No. 33-NQ/TW (2014) and Resolution No. 80-NQ/TW (2026). Building upon the inherited view of culture as the spiritual foundation, the goal, and the driver of endogenous strength for sustainable development, Resolution No. 80-NQ/TW further develops and deepens contents regarding value systems, digital cultural spaces, cultural industries, and modern cultural governance models. Consequently, the article proposes several policy implications for implementing the resolution in the country’s new stage of development.

Keywords: Resolution No. 33-NQ/TW; Resolution No. 80-NQ/TW; the Party’s perspectives; Vietnamese cultural development.

Untitledli.jpg
Danh thắng Tam Cốc - Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

1. Đặt vấn đề

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn là nền tảng tinh thần vững chắc, là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt qua mọi thử thách. Mỗi bước chuyển mình của đất nước đều gắn liền với sự phát triển của tư duy văn hóa. Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về Phát triển văn hóa Việt Nam đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nhận thức và hành động của Đảng ta đối với lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược này. Nghị quyết không chỉ kế thừa tinh thần của Nghị quyết số 33-NQ/TW mà còn phát triển vượt bậc, phù hợp với yêu cầu mới của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.

Việc ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW không phải là một sự thay đổi ngẫu nhiên, mà là kết quả tất yếu từ quá trình tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW. Để hiểu rõ giá trị đột phá của Nghị quyết 80, cần có cái nhìn tổng quan về thực trạng văn hóa Việt Nam giai đoạn 2014-2024.

2. Thực trạng văn hóa Việt Nam sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW

Những kết quả nổi bật

Sau hơn một thập kỷ triển khai Nghị quyết số 33-NQ/TW, lĩnh vực văn hóa Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến tích cực cả về nhận thức và thực tiễn, qua đó từng bước định hình và phát triển văn hóa quốc gia trong bối cảnh đổi mới, hội nhập.

Trước hết, nhận thức về vị thế và vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước được nâng lên. Việc khẳng định quan điểm “đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” đã tạo cơ sở chính trị - tư tưởng quan trọng để các cấp, các ngành quan tâm hơn đến đầu tư cho văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực của phát triển bền vững, đồng thời từng bước nhìn nhận văn hóa như một nguồn lực nội sinh của phát triển.

Bên cạnh đó, việc xây dựng và lan tỏa các giá trị con người Việt Nam đạt được những kết quả tích cực. Các giá trị như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm xã hội và nghĩa tình cộng đồng được khơi dậy và phát huy trong đời sống xã hội, thể hiện rõ qua tinh thần tương thân tương ái trong đại dịch COVID-19 và trong các đợt thiên tai, bão lũ nghiêm trọng tại nhiều địa phương. Đặc biệt, tinh thần yêu nước, niềm tự hào và tự tôn dân tộc được củng cố và lan tỏa mạnh mẽ thông qua các sự kiện chính trị - xã hội lớn của đất nước.

Một kết quả đáng chú ý khác là sự khởi sắc bước đầu của một số ngành công nghiệp văn hóa, nhất là trong các lĩnh vực điện ảnh, du lịch văn hóa và thiết kế sáng tạo. Từ những định hướng của Nghị quyết số 33-NQ/TW, thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa từng bước hình thành và mở rộng, đóng góp ngày càng rõ hơn vào tăng trưởng kinh tế. Riêng doanh thu lĩnh vực điện ảnh: năm 2023 đạt khoảng 4.450 tỷ đồng (Cục Điện ảnh, 2023); năm 2024 đạt khoảng 5.200 tỷ đồng (Cục Điện ảnh, 2025); năm 2025 khoảng 5.800-6.000 tỷ đồng (Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, 2025). Những con số này cho thấy tiềm năng đáng kể của kinh tế văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh phát triển mới. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy sự phát triển này vẫn chủ yếu dựa vào khu vực tư nhân, đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế chính sách để chuyển hóa tiềm năng kinh tế văn hóa thành sức mạnh phát triển bền vững của quốc gia.

Cùng với đó, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Trong hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 33, Việt Nam có thêm 11 di sản văn hóa được UNESCO ghi danh: Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh (2014); Nghi lễ và trò chơi kéo co (2015); Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (2016); Nghệ thuật bài chòi Trung Bộ (2017); Thực hành then của người Tày, Nùng, Thái (2019); Nghệ thuật Xòe Thái (2021); Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (2022); Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam (2024); Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc (2025); Bộ sưu tập tài liệu của nhạc sĩ Hoàng Vân (2025); Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (2025). Những kết quả này không chỉ góp phần bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, mà còn tạo tiền đề tham gia sâu hơn vào mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO.

Những hạn chế và vấn đề đặt ra

Thực tiễn hơn 10 năm triển khai Nghị quyết số 33-NQ/TW cũng bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập, phản ánh những điểm nghẽn căn bản trong phát triển văn hóa.

Tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống và khoảng trống trong thực hành hệ giá trị văn hóa chưa được khắc phục một cách căn bản. Mặc dù phát triển văn hóa đặt trọng tâm vào xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, song việc cụ thể hóa các giá trị văn hóa và chuẩn mực con người còn chậm, dẫn đến khoảng cách giữa định hướng chính sách và thực tiễn đời sống xã hội. Cùng với đó, cơ chế quản lý văn hóa có nơi còn nặng tính hành chính, chậm thích ứng với yêu cầu của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tư duy quản lý chủ yếu dựa trên mệnh lệnh hành chính chưa chuyển mạnh sang tư duy kiến tạo và quản trị phát triển; cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho văn hóa còn nhiều rào cản, khiến đầu tư cho văn hóa vẫn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa diễn ra chậm và thiếu đồng bộ, đặt ra thách thức lớn đối với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và bảo vệ chủ quyền văn hóa quốc gia. Công tác số hóa di sản, xây dựng hạ tầng dữ liệu và quản lý hoạt động văn hóa trên không gian mạng còn phân tán, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa trong bối cảnh số hóa và toàn cầu hóa sâu rộng.

Yêu cầu đổi mới quan điểm phát triển văn hóa từ thực tiễn đặt ra

Những kết quả đạt được cùng với các hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW cho thấy, phát triển văn hóa Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới tư duy và quan điểm phát triển văn hóa trong bối cảnh phát triển mới của đất nước.

Trước hết, yêu cầu đổi mới quan điểm phát triển văn hóa xuất phát từ việc khắc phục những điểm nghẽn mang tính hệ thống về tư duy, thể chế và tổ chức thực hiện đã bộc lộ trong thực tiễn. Thực trạng hệ giá trị và chuẩn mực con người chưa được cụ thể hóa và vận hành hiệu quả, văn hóa chưa thực sự thấm sâu vào phát triển kinh tế và quản trị xã hội, cùng với cơ chế quản lý còn nặng tính hành chính. Điều đó cho thấy cần một cách tiếp cận toàn diện và căn cơ hơn, coi văn hóa không chỉ là nền tảng hay động lực mà còn là yếu tố điều tiết và định hướng phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, phát triển kinh tế sáng tạo và cạnh tranh sức mạnh mềm giữa các quốc gia đặt ra những yêu cầu mới đối với quan điểm phát triển văn hóa. Không gian số trở thành một không gian văn hóa đặc thù, vừa mở ra cơ hội lan tỏa giá trị, vừa đặt ra thách thức đối với bảo tồn bản sắc và bảo vệ chủ quyền văn hóa quốc gia, đòi hỏi quan điểm phát triển văn hóa phải được đổi mới theo hướng chủ động, tích hợp và hiện đại. Trong bối cảnh này, đổi mới quan điểm phát triển văn hóa cũng gắn liền với yêu cầu phát huy nguồn lực nội sinh và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia, coi văn hóa và con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể sáng tạo và nguồn lực chiến lược của phát triển.

Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn phát triển, việc ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW là tất yếu khách quan, phản ánh sự phát triển cả về tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng đối với phát triển văn hóa Việt Nam.

3. Những điểm mới trong quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam qua Nghị quyết số 80-NQ/TW

Nghị quyết số 80-NQ/TW làm sâu sắc hơn cách tiếp cận đối với văn hóa, đặc biệt ở các nội dung về vai trò hệ điều tiết của văn hóa, không gian văn hóa số, công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Việc xác lập, triển khai đồng bộ bốn hệ giá trị gồm quốc gia, văn hóa, gia đình và con người được xem là giải pháp mang tính nền tảng nhằm khắc phục những hạn chế kéo dài trong xây dựng và chấn hưng văn hóa đạo đức xã hội.

Nâng tầm vai trò, vị thế văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia

Bước chuyển mới trong quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa được thể hiện rõ ở việc nâng tầm vai trò và vị thế của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia. Tổng kết quá trình thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW cho thấy vị trí và vai trò của văn hóa ngày càng được khẳng định; văn hóa được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy vai trò dẫn dắt và điều tiết của văn hóa đối với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội chưa được phát huy tương xứng, nhất là trong định hướng phát triển kinh tế và quản trị xã hội.

Từ thực tiễn đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã có bước phát triển quan trọng về tư duy lý luận khi xác lập quan điểm coi văn hóa và con người không chỉ là nền tảng tinh thần hay động lực phát triển, mà còn là trụ cột, hệ điều tiết và nguồn lực nội sinh của phát triển quốc gia. Cách tiếp cận này phản ánh sự phát triển mới về chất trong tư duy lý luận của Đảng, khi văn hóa được nhìn nhận như một cơ chế định hướng và cân bằng các quá trình phát triển kinh tế, xã hội, góp phần hạn chế những mặt trái của kinh tế thị trường và bảo đảm phát triển hài hòa, bền vững.

Theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, văn hóa phải thực sự thấm sâu và gắn kết chặt chẽ với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại…; bảo đảm mọi quyết sách phát triển đều hướng tới con người, lấy con người làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển. Đồng thời, việc nâng tầm văn hóa gắn liền với yêu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia, qua đó góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Phát triển cách tiếp cận hệ giá trị và xây dựng con người Việt Nam

Một nội dung thể hiện rõ bước chuyển mới trong quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa qua Nghị quyết số 80-NQ/TW, đó là sự phát triển và làm sâu sắc cách tiếp cận đối với hệ giá trị và xây dựng con người Việt Nam. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã chuyển từ định hướng mang tính khái quát sang xác lập và triển khai đồng bộ hệ giá trị làm nền tảng cho phát triển văn hóa và con người trong giai đoạn mới.

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện với các giá trị cốt lõi như yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù và sáng tạo. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các giá trị này chưa được cụ thể hóa thành những chuẩn mực vận hành thống nhất trong đời sống xã hội, dẫn đến khoảng cách giữa định hướng và thực hành, đặc biệt trong chấn hưng đạo đức xã hội. Nhằm khắc phục, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã xác lập và yêu cầu triển khai đồng bộ bốn hệ giá trị gồm hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Cách tiếp cận này tạo nên một chỉnh thể gắn kết giữa gia đình, con người, văn hóa và sức mạnh quốc gia, khắc phục tình trạng phân tán và thiếu thống nhất trong xây dựng và thực hành các giá trị.

So với Nghị quyết số 33-NQ/TW: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014, tr.50), Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện bước chuyển từ việc “đúc kết” hệ giá trị sang chủ trương xác lập và tổ chức triển khai hệ giá trị một cách đồng bộ, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước giai đoạn mới.

Mở rộng không gian phát triển văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số

So với Nghị quyết số 33-NQ/TW, chủ yếu tiếp cận văn hóa trong không gian xã hội truyền thống thì Nghị quyết số 80-NQ/TW đã bổ sung và phát triển cách tiếp cận phù hợp với những biến đổi căn bản của đời sống xã hội đương đại. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định phát triển văn hóa trong không gian số là một nhiệm vụ trọng tâm, coi đây là bộ phận hữu cơ của môi trường văn hóa quốc gia. Các nội dung như số hóa di sản, phát triển hạ tầng và thiết chế văn hóa số, cùng với sản xuất và lan tỏa nội dung văn hóa số được đặt ra nhằm mở rộng khả năng tiếp cận, thụ hưởng và sáng tạo văn hóa của cộng đồng, đồng thời thu hẹp chênh lệch hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền và nhóm xã hội.

Cách tiếp cận này thể hiện sự chuyển biến trong nhận thức về không gian tồn tại và vận hành của văn hóa, khi văn hóa không chỉ gắn với các thiết chế truyền thống mà còn lan tỏa mạnh mẽ trong môi trường mạng. Do đó, yêu cầu chủ động định hướng, xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh gắn với bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hóa trên không gian mạng trở thành nội dung cốt lõi trong quan điểm phát triển văn hóa giai đoạn mới.

Xác lập công nghiệp văn hóa như một trụ cột của nền kinh tế sáng tạo

Trên cơ sở kế thừa các định hướng của Nghị quyết số 33-NQ/TW, Nghị quyết số 80 đã chuyển từ tư duy khuyến khích sang cách tiếp cận coi công nghiệp văn hóa là cấu phần chiến lược của mô hình phát triển kinh tế trong giai đoạn mới.

Trong Nghị quyết số 33-NQ/TW, công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng thị trường văn hóa nhưng chủ yếu vẫn được nhìn nhận như lĩnh vực bổ trợ, thiếu cơ chế phát triển đồng bộ và chưa phát huy hết tiềm năng kinh tế. Thực tiễn triển khai cho thấy nguồn lực văn hóa và sáng tạo của xã hội chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị kinh tế và sức cạnh tranh quốc gia. Từ yêu cầu đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã nâng tầm quan điểm khi xác định công nghiệp văn hóa là trụ cột của nền kinh tế sáng tạo, gắn với mục tiêu gia tăng đóng góp vào GDP và xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia: “Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa… Xây dựng hạ tầng và kiến tạo thị trường trọng điểm cho các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế cạnh tranh; hình thành các cụm, khu và tổ hợp văn hóa - sáng tạo; phát triển tập đoàn văn hóa - sáng tạo tầm cỡ quốc gia và quốc tế” (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2026). Cách tiếp cận này nhấn mạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước trong hình thành thị trường, phát triển các không gian và cụm sáng tạo, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa công nghiệp văn hóa với du lịch, truyền thông và các ngành kinh tế liên quan.

So với Nghị quyết số 33-NQ/TW, Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện bước chuyển từ tư duy khuyến khích sang tư duy dẫn dắt phát triển, qua đó khẳng định văn hóa không chỉ là giá trị tinh thần mà còn là nguồn lực kinh tế quan trọng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Chuyển đổi quan điểm về quản trị và bảo đảm nguồn lực cho phát triển văn hóa

Trên cơ sở tổng kết những hạn chế trong quản lý và đầu tư cho văn hóa thời gian qua, Nghị quyết số 80 đã phát triển cách tiếp cận theo hướng hiện đại, coi quản trị và nguồn lực là điều kiện then chốt để hiện thực hóa vai trò trụ cột của văn hóa trong phát triển quốc gia.

Trong Nghị quyết số 33-NQ/TW, việc tăng cường nguồn lực cho văn hóa chủ yếu gắn với trách nhiệm của Nhà nước, trong khi cơ chế quản lý còn nặng tính hành chính, bao cấp và việc huy động nguồn lực xã hội gặp nhiều rào cản. Thực tiễn đó cho thấy hiệu quả đầu tư và vận hành các thiết chế văn hóa chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển. Từ thực tiễn này, Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện bước phát triển rõ rệt khi chuyển từ tư duy “quản lý văn hóa” sang “quản trị văn hóa” theo hướng kiến tạo và phục vụ phát triển. Nhà nước giữ vai trò định hướng, xây dựng thể chế và dẫn dắt chiến lược, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của thị trường, cộng đồng và các chủ thể xã hội trong sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa. Đáng chú ý, trong Nghị quyết số 33-NQ/TW, giải pháp đặt ra đối với tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa đó là: “Mức đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014, tr.61) thì Nghị quyết số 80-NQ/TW lần đầu tiên xác lập cam kết cụ thể về nguồn lực tài chính cho văn hóa: “Bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn” (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2026).

So với Nghị quyết số 33-NQ/TW, Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện bước chuyển từ quản lý sang quản trị, từ hỗ trợ sang kiến tạo và từ phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước sang kết hợp hài hòa giữa nguồn lực công và nguồn lực xã hội, tạo điều kiện để văn hóa thực sự trở thành động lực, hệ điều tiết và trụ cột của phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

4. Một số hàm ý chính sách nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW trong giai đoạn mới

Từ việc phân tích thực trạng phát triển văn hóa Việt Nam sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW và làm rõ bước chuyển mới trong quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa qua Nghị quyết số 80-NQ/TW, có thể rút ra một số hàm ý chính sách mang tính định hướng cho quá trình tổ chức thực hiện trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và nhất quán hóa quan điểm coi văn hóa và con người là trụ cột, hệ điều tiết và nguồn lực nội sinh của phát triển bền vững. Các quan điểm mới trong Nghị quyết số 80-NQ/TW cần được cụ thể hóa đồng bộ trong hệ thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch và chương trình phát triển quốc gia, bảo đảm văn hóa thực sự thấm sâu vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách phát triển kinh tế, xã hội.

Thứ hai, cần tổ chức triển khai thực chất và đồng bộ bốn hệ giá trị gồm hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Việc triển khai không dừng ở tuyên truyền, mà cần được cụ thể hóa thành chuẩn mực hành vi, tiêu chí đánh giá và cơ chế thực hiện phù hợp với từng lĩnh vực và cộng đồng xã hội, qua đó khắc phục khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn.

Thứ ba, cần đẩy mạnh phát triển văn hóa trong không gian số gắn với bảo đảm chủ quyền và an ninh văn hóa quốc gia. Quá trình số hóa di sản, phát triển thiết chế và nội dung văn hóa số cần được triển khai đồng bộ với xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, có định hướng giá trị rõ ràng, nhằm phát huy vai trò điều tiết của văn hóa trước những tác động đa chiều của toàn cầu hóa và chuyển đổi số.

Thứ tư, cần có chính sách mang tính đột phá để phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW. Nhà nước giữ vai trò định hướng và kiến tạo, tạo lập môi trường thể chế thuận lợi để các chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp văn hóa và cộng đồng tham gia sâu vào quá trình sản xuất, phân phối và lan tỏa các sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế và giá trị xã hội.

Thứ năm, cần tiếp tục đổi mới tư duy quản trị và bảo đảm nguồn lực cho phát triển văn hóa. Việc thực hiện cam kết bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa cần gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đồng thời đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội thông qua hợp tác công - tư và các mô hình quản trị văn hóa hiện đại, phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Những hàm ý chính sách trên cho thấy việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Văn hóa. Đây là một quá trình tổng thể, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhằm đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, động lực phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia trong giai đoạn mới.

______________________________

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2026, 13 tháng 1). Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. https://bvhttdl.gov.vn/nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-20260113095119168.htm

2. Cục Điện ảnh. (2023). Báo cáo tổng kết công tác năm 2023 và phát triển nhiệm vụ năm 2024.

3. Cục Điện ảnh. (2025). Báo cáo thị trường điện ảnh Việt Nam năm 2024.

4. Chính phủ. (2016). Quyết định số 1755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Báo điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/default.aspxpageid=27160&docid=186367

5. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW: Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2014). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Văn phòng Trung ương Đảng.

7. Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam. (2025). Báo cáo sơ kết tình hình thực hiện các ngành công nghiệp văn hóa năm 2025.

8. Số liệu dự báo và tổng hợp sơ đồ của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (VICAS) phối hợp Box Office Vietnam.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 5/2/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 28/2/2026; Ngày duyệt đăng: 20/3/2026.

TS NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026