Từ khóa: Lịch sử xuất bản; tiếp biến văn hóa; Việt Nam thời kỳ thuộc địa; thể chế hóa.
Abstract: The period 1862-1945 marked an era of intense encounter and interaction between Vietnamese and French cultures, catalyzing a profound structural transformation of the national cultural landscape. Within this context, the development of publishing activities emerged as a vivid manifestation of such cultural exchange and acculturation. This article reconstructs the early evolution of publishing in Vietnam within the broader trajectory of modernization, focusing on key aspects: the expansion of printing houses and publishers, as well as the rise of the press and Quốc Ngữ books. Consequently, the study delineates the fundamental characteristics of the Vietnamese publishing sector during this historical phase.
Keywords: publishing history; cultural acculturation; colonial Vietnam; institutionalization.

1. Đặt vấn đề
Giai đoạn 1862-1945, cùng với quá trình xâm lược và cai trị thuộc địa của thực dân Pháp, loại hình xuất bản theo mô hình và kỹ thuật phương Tây đã được du nhập vào Việt Nam và phát triển nhanh chóng. Sự hình thành và phát triển của hoạt động xuất bản đã có những tác động tích cực góp phần hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam trên nhiều phương diện như: ngôn ngữ, báo chí, văn học, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trường hàng hóa văn hóa và nền xuất bản nói riêng sau này…
2. Phương pháp nghiên cứu
Để tái hiện quá trình phát triển của hoạt động xuất bản ở Việt Nam giai đoạn 1862-1945, tác giả đã sử dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp để tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của tác giả đi trước như các bài báo, tạp chí, sách… liên quan đến hoạt động xuất bản thời kỳ này và sử dụng phương pháp lịch sử để tái hiện lại sự phát triển các khía cạnh của hoạt động xuất bản theo tiến trình thời gian và sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá sự phát triển về số lượng, quy mô của các nhà in, nhà xuất bản, các thể loại ấn phẩm qua các thời kỳ.
3. Kết quả và thảo luận
Sự phát triển của hệ thống nhà in, nhà xuất bản
Sau Hòa ước Nhâm Tuất (1862), ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp, tạo ra một thực thể hành chính mới. Để phục vụ công việc hành chính của quân đội và bộ máy cai trị thuộc địa, những nhà in trực thuộc chính quyền thực dân Pháp lần lượt được thành lập: Nhà in đầu tiên được thành lập vào cuối năm 1861 là nhà in Imprimerie impériale (nhà in Hoàng Gia) dùng để in tất cả công báo, thông tư, sắc lệnh, báo chí chính thức và cả các ấn phẩm tôn giáo của chính quyền. Sau Sắc Lệnh ngày 10/9/1870, tư nhân đã được tham gia kinh doanh trong lĩnh vực in ấn, xuất bản. Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhiều đô thị, trung tâm lớn được thiết lập ở cả ba kỳ như Sài Gòn, Chợ Lớn, Hà Nội, Hải Phòng…
Bên cạnh các nhà in còn có hoạt động in ấn, xuất bản của các thư quán, thư xã, ấn quán như: Tản Đà Thư cục do Tản Đà sáng lập, Cường học thư xã do Trần Huy Liệu sáng lập, Quan Hải Tùng Thư do Đào Duy Anh sáng lập, Nam Đồng Thư xã do Phạm Tuấn Tài sáng lập, Tín Đức thư xã, Nữ lưu thư quán, Duy Tân Thư xã, Giác quán thư xã, Đông Dương thư xã… và còn có những nhà sách hoạt động tương tự như mô hình một nhà xuất bản.
Hoạt động in ấn, xuất bản theo khuynh hướng hiện đại đặt nền móng từ cuộc xâm lược của thực dân Pháp và ngày càng phát triển, mở rộng trở thành một lĩnh vực kinh doanh thương mại hoạt động rất sôi nổi. Trong đó, hoạt động in ấn xuất bản ở Nam Kỳ, tiêu biểu là Sài Gòn phát triển mạnh mẽ hơn cả. Theo thống kê trong Tài liệu Lưu trữ của Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh (2001), giai đoạn 1862-1932, ở Sài Gòn có khoảng 73 nhà in của cả người Pháp, người Việt và người Hoa (Nguyễn Thị Trúc Bạch, 2021, tr.72).
Sự phát triển của loại hình xuất bản báo chí và sách chữ Quốc ngữ
Giai đoạn sơ khởi 1862-1918 sự hình thành nền báo chí Quốc ngữ
Ngày 15/4/1865, tờ Gia Định báo ra đời tại Sài Gòn, đánh dấu sự xuất hiện của tờ báo viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên, là công cụ để chính quyền thuộc địa phổ biến văn bản pháp quy. Thời kỳ này, báo chí tập trung chủ yếu ở Nam Kỳ (chế độ thuộc địa cai trị, thông thoáng hơn về kiểm duyệt). Bên cạnh đó là các tờ báo tiếng Pháp phục vụ giới chức cai trị và các tờ báo chữ Hán dành cho tầng lớp sĩ phu cũ. Các tờ báo tiêu biểu xuất hiện trong giai đoạn này như: Gia Định báo, Phan Yên báo, Nông cổ mín đàm (tờ báo kinh tế đầu tiên), Lục tỉnh tân văn.
Giai đoạn đa dạng hóa và chuyên nghiệp hóa 1919-1930
Báo chí giai đoạn này xuất hiện sự phân hóa về khuynh hướng khác nhau như: Khuynh hướng ôn hòa tư tưởng cải cách tiêu biểu có Nam Phong tạp chí (do Phạm Quỳnh làm chủ bút) và Trung Bắc tân văn (do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút). Đây là những cơ quan ngôn luận đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa tiếng Việt và giới thiệu tinh hoa văn hóa phương Tây vào Việt Nam. Bên cạnh đó, khuynh hướng dân tộc tiến bộ xuất hiện các tờ báo như Tiếng dân (do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ bút) ở miền Trung hay Chuông rạn (do La Cloche fêlée - Nguyễn An Ninh làm chủ bút) ở miền Nam thể hiện tinh thần phản kháng và ý thức dân tộc mạnh mẽ.
Giai đoạn 1930-1945
Đây là giai đoạn cuối của nền báo chí thuộc địa. Đầu giai đoạn này, việc kiểm soát xuất bản báo chí diễn ra gắt gao nên tình hình báo chí chưa có nhiều thay đổi so với giai đoạn trước đó, chỉ có những tờ báo thân chính quyền thực dân hoặc trung lập không thể hiện lập trường chính trị mới có thể tồn tại, tiêu biểu như các tờ đã được thành lập từ giai đoạn trước và vẫn tiếp tục hoạt động như Nam Phong, Đông Pháp, La Tribune indochinoise và La Tribune indigene… ở Bắc Kỳ; những tờ báo mới được thành lập ở Trung Kỳ như: Bình Phú tân văn (1930-1931), Hoan Châu tân báo (1930), Trường An cận tín (1930); Thanh Nghệ Tĩnh tân văn (1930-1936)… Từ khi Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bãi bỏ Tòa kiểm duyệt báo chí trên toàn cõi Đông Dương (11/1934) và thời kỳ nắm quyền của chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp (1936), hoạt động xuất bản, báo chí được nới lỏng hơn và phát triển nở rộ. Tranh thủ khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp giai đoạn này, nhiều tờ báo cách mạng xuất bản công khai ở cả ba kỳ Bắc, Trung, Nam tiêu biểu như tờ L’Avant garde, Le Peuple, Le Travail, Rassemblement, Notre Voix… và báo tiếng Việt như Dân chúng, Phổ thông, Kịch bóng, Tin tức, Hồn trẻ, Đời nay, Nhành lúa, Dân, Bạn dân…
Số lượng báo và tạp chí xuất bản công khai, hợp pháp giai đoạn từ đầu năm 1930 đến giữa năm 1936 là 210 tờ (Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thành, Dương Trung Quốc, 2000, tr.96). Tài liệu lưu trữ của chính quyền thực dân Pháp cho biết, năm 1936, ở nước ta có tổng 277 tờ báo, tạp chí và tập san các loại; năm 1937 có tổng là 289 tờ; năm 1938 có tổng là 308 tờ. Năm 1939 có 352 tờ báo, tạp chí và các chuyên san, trong đó, số lượng báo chí tiếng Việt xuất bản tăng rõ rệt, số lượng báo chí xuất bản bằng tiếng Pháp giảm dần (Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thành, Dương Trung Quốc, 2000, tr.113, 156). Đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), số lượng các tờ báo còn khoảng 200 tờ…
Có thể thấy, giai đoạn 1862-1945 các ấn phẩm xuất bản sử dụng các ngôn ngữ chủ yếu là tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ, nhiều ấn phẩm báo chí sử dụng đồng thời cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ hoặc tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ. Từ những năm 1920, xuất bản bằng chữ Hán đã giảm dần và không còn được sử dụng, thay vào đó là các xuất bản chủ yếu bằng tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ. Càng về sau, xuất bản tiếng Pháp cũng giảm dần, chủ yếu là xuất bản bằng chữ Quốc ngữ.