Xuất bản sách giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến trước năm 1919
Các ấn phẩm sách thời kỳ này tập trung đi vào khảo cứu, biên soạn, dịch thuật các tác phẩm văn học Trung Quốc, văn học Pháp sang chữ Quốc ngữ và xuất bản những sáng tác văn học như thơ, văn xuôi, tiểu thuyết, văn chính luận… của các tác giả trong nước và sách lịch sử, triết học, sách tôn giáo… bằng cả chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Theo thống kê, “ở Nam Kỳ, số lượng đầu sách xuất bản mới (không tính sách tái bản) trong khoảng 20 năm đầu thế kỷ XX là 490 cuốn” (Tạ Thị Thúy, 2017, tr.183). Các tác giả tiêu biểu ở Nam Kỳ giai đoạn này như: Huỳnh Tịnh Của với 15 cuốn sách do ông sáng tác và xuất bản từ năm 1897-1908; Trần Chánh Chiếu với 9 cuốn sách bao gồm cả các sáng tác của ông và tác phẩm dịch; tác giả Đặng Lễ Nghi xuất bản 26 cuốn sách gồm những tác phẩm thơ tự sáng tác và phiên âm chữ Nôm, dịch truyện Trung Quốc và sách biên soạn tập hợp các truyện kể Việt Nam… Hoạt động xuất bản sách ở Bắc Kỳ tiêu biểu là Đông Kinh Nghĩa Thục xuất bản nhiều loại sách như sách giáo khoa phục vụ mục đích học tập và giảng dạy của Trường; dịch và xuất bản các sách từ tân thư, tân văn được du nhập từ Trung Quốc; xuất bản nhiều tác phẩm văn thơ của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền… Ban Tu thư của Đông Kinh Nghĩa Thục hoạt động như một nhà xuất bản, chịu trách nhiệm biên soạn và ấn hành các sách vở, tài liệu của Trường. Những người trong ban biên soạn như: Lương Văn Can, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Nguyễn Hữu Cầu… Đáng chú ý, giai đoạn này đã xuất hiện các tác phẩm văn học đặt nền móng cho việc sáng tác văn xuôi bằng chữ Quốc ngữ như: tác phẩm Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký… và các tác phẩm văn học được sáng tác bằng chữ Quốc ngữ theo phong cách phương Tây như truyện Thầy Lazaro phiền của tác giả Nguyễn Trọng Quản xuất bản năm 1886 được tác giả Nguyễn Văn Trung trong bài về các loại truyện viết bằng chữ Quốc ngữ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã nhận xét là: “Truyện ngắn mà chúng tôi coi sớm hơn cả ở miền Nam, truyện Thầy Lazaro phiền đã sử dụng khéo léo, hầu như hoàn hảo kỹ thuật Tây Phương, không thua gì những truyện ngắn viết sau này hay bây giờ” (Nguyễn Kim Anh, 1999, tr.671).
Giai đoạn 1919-1930
Ngoài các ấn phẩm báo chí, số lượng các loại ấn phẩm khác (chỉ kể riêng các loại đã nộp lưu chiểu theo quy định từ năm 1922 của chính quyền thực dân) có sự gia tăng mạnh mẽ. Trong đó, tập trung nhiều nhất ở Nam Kỳ - nơi hoạt động in ấn, xuất bản được nới lỏng và tự do hơn, tiếp theo là đến Bắc Kỳ, rồi đến Trung Kỳ. Giai đoạn này, các tác phẩm văn học tiếp tục được in ấn, xuất bản với số lượng gia tăng nhanh chóng chưa từng thấy đặc biệt là những sáng tác văn học Quốc ngữ, theo tác giả (Nguyễn Thị Trúc Bạch, 2021, tr.76), số lượng các tác phẩm văn xuôi được xuất bản từ năm 1915 đến năm 1932 lên đến 553 cuốn. Nhiều cuốn sách thể hiện tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc và cách mạng được sáng tác bởi các tác giả Việt Nam cùng với sách dịch các tác phẩm của nước ngoài của Nam Đồng Thư xã, Cường học thư...
Giai đoạn 1930-1935
Hoạt động xuất bản sách tiêu biểu của thời kỳ này là những sách văn học, những sáng tác trong phong trào Thơ mới với đại biểu là lớp nhà thơ trẻ, về sau trở thành thế hệ các nhà thơ hiện đại của Việt Nam, tiêu biểu như: Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Phạm Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên (Phan Ngọc Hoan), Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu)… Những sáng tác văn chương lãng mạn của các nhà văn, nhà thơ trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn được khởi xướng bởi Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo, Khái Hưng với các cây bút tiêu biểu như Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ, Thế Lữ… và một số tác phẩm văn học trào phúng…
Giai đoạn 1936-1939
Ngoài các ấn phẩm báo chí, hoạt động xuất bản sách, tài liệu tuyên truyền cách mạng, các sách văn học phát triển mạnh mẽ. Dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn này với các tác giả và tác phẩm tiêu biểu như: tác giả Vũ Trọng Phụng với các tác phẩm Vỡ đê, Giông tố, Số đỏ, Cơm thầy, cơm cô, Làm đĩ (1936); tác giả Ngô Tất Tố với các tác phẩm Tắt đèn, Tạp án cái đình, Lều chõng, Việc làng (1939); tác giả Nguyễn Công Hoan với các tác phẩm Kép Tư Bền, Bước đường cùng (1935-1938)… Bên cạnh đó, thơ ca cách mạng đã có những bước phát triển mới với đại diện tiêu biểu là nhà thơ Tố Hữu.
Hoạt động xuất bản sách giai đoạn 1862-1945 phát triển khá toàn diện, các mảng sách được xuất bản bao quát khá toàn diện các lĩnh vực của đời sống như sách triết học từ triết học phương Đông đến phương Tây và chủ nghĩa Mác - Lênin; sách lịch sử gồm cả lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, lịch sử nước Pháp, Trung Hoa…; sách chính trị xã hội với nhiều luồng tư tưởng khác nhau và nhiều loại sách khác như: sách y học, toán học, kinh tế học, văn học, các loại từ điển…
Sự hình thành dòng xuất bản phục vụ đấu tranh cách mạng
Hoạt động xuất bản bí mật phục vụ đấu tranh cách mạng xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, gắn với sự phát triển của phong trào yêu nước, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và quá trình truyền bá các tư tưởng dân chủ, cách mạng vào Việt Nam. Từ những tác phẩm mang tinh thần canh tân, yêu nước của các sĩ phu đầu thế kỷ XX như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… đến sự ra đời của dòng xuất bản cách mạng theo khuynh hướng mác-xít từ những năm 1920, với những tác phẩm đặt nền móng cho sự nghiệp xuất bản cách mạng Việt Nam của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được xuất bản trong thời gian Người hoạt động ở nước ngoài và được đưa về nước như: Bản yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây (1919), Con rồng tre (1922), Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường cách mệnh (1927)..., lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam từng bước hình thành một khuynh hướng hoạt động mới về mục tiêu chính trị, xã hội và văn hóa.
Năm 1930, trên cơ sở hợp nhất các tổ chức đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đảm nhận trọng trách lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng từ đây, hoạt động xuất bản, báo chí cách mạng được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để phục vụ cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa - tư tưởng, Đảng đã cho thành lập các tờ báo, tạp chí cách mạng như: Tranh Đấu (1930), Tạp chí Đỏ, Tạp chí Cộng sản (1930), Tạp chí Bônsơvíc (1934), Tin Tức (1938), Dân Chúng (1938-1939), Việt Nam Độc lập (1945-1945), Cờ Giải Phóng (1942-1945), Cứu Quốc (1942)… Bên cạnh đó còn có các ấn phẩm báo chí được xuất bản trong các nhà tù đế quốc nhằm rèn luyện tư tưởng, bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cho đảng viên của Đảng bị bắt giam và làm phương tiện để đấu tranh chính trị với các cá nhân, tổ chức có lập trường chính trị khác biệt, đối lập. Tiêu biểu có tờ Lao tù đỏ (sau đổi tên thành Lao tù, Lao tù tạp chí, Con đường chính), Bôn sê vich, Đuốc đi đường ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội); tờ Bàn Góp, Ý kiến chung, tờ Người tù đỏ (sau đổi thành Tù Nhân, Tiến lên) ở nhà tù Côn Đảo… Theo thống kê giai đoạn 1936-1939, số lượng các tờ báo hoạt động bí mật, “bất hợp pháp”, chủ yếu là báo chí cách mạng có khoảng 170 tờ (Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thành, Dương Trung Quốc, 2000).
Trong hoạt động in ấn và xuất bản nhằm phục vụ đấu tranh cách mạng trước năm 1945, một công việc hết sức gian nan, vất vả, đóng vai trò vô cùng quan trọng là đó biên soạn, in ấn và phát hành các loại truyền đơn, lời kêu gọi, yết thị, tuyên ngôn của những tổ chức chính trị tiền thân, các đoàn thể quần chúng và của Đảng. Các truyền đơn này đa số được in bằng chữ Quốc ngữ, sử dụng mực đỏ hoặc tím, trên nhiều cỡ giấy và chất liệu khác nhau. Bên cạnh đó, không ít truyền đơn được in bằng cả chữ Hán và tiếng Pháp.
Sau khi Đảng ban hành Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943), đặc biệt sau khi Hội văn hóa cứu quốc được thành lập (1944), hoạt động xuất bản sách, báo của Đảng lại được bổ sung thêm nhiều cây bút tài năng, yêu nước, có tinh thần đấu tranh cách mạng mạnh mẽ, tiếp tục nối tiếp các thế hệ đi trước dùng ngòi bút tham gia vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc như: Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, Tô Hoài…
Dù hoạt động trong điều kiện bí mật và bị chính quyền thực dân kiểm soát, dòng xuất bản cách mạng ở Việt Nam vẫn tiếp thu nhiều yếu tố của mô hình xuất bản hiện đại phương Tây như hình thức báo chí chính luận, phương thức tổ chức tòa soạn, kỹ thuật in ấn, phương thức truyền bá tư tưởng và xây dựng công luận xã hội. Những yếu tố đó đã được các lực lượng yêu nước và cách mạng tiếp nhận, cải biến và vận dụng phù hợp với mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc và truyền bá tư tưởng cách mạng ở Việt Nam.
Một số đặc điểm của hoạt động xuất bản thời kỳ Pháp thuộc
Thực tiễn phát triển của hoạt động xuất bản giai đoạn 1862-1945 nổi lên một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, sự tích hợp mô hình xuất bản “Báo - In - Bản”. Thời kỳ này, lĩnh vực xuất bản hoạt động chưa mang tính chuyên môn hóa cao. Các nhà in, tờ báo, thậm chí là các hiệu sách cũng hoạt động như mô hình của một nhà xuất bản. Trong đó, nhiều cơ sở còn thực hiện luôn cả chu trình khép kín của quá trình xuất bản từ xây dựng bản thảo - sản phẩm đầu vào và phát hành trực tiếp ấn phẩm đến công chúng mà không qua đơn vị trung gian. Sự liên kết này thể hiện một chiến lược vận hành doanh nghiệp xuất bản, đồng thời thể hiện sự thích ứng linh hoạt của các chủ thể trong nền văn hóa Việt Nam khi tiếp nhận các yếu tố của nền xuất bản phương Tây du nhập vào nước ta.
Thứ hai, dòng xuất bản cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành công cụ tư tưởng - văn hóa sắc bén, đóng góp quan trọng vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc giành độc lập năm 1945; là nền tảng cho sự nghiệp xuất bản cách mạng Việt Nam.
Thứ ba, hoạt động xuất bản Việt Nam thời kỳ này phát triển vừa mang tính cưỡng bức, áp đặt do chính sách dùng báo chí, xuất bản phục vụ mục tiêu xâm lược, cai trị thuộc địa của thực dân Pháp, vừa mang tính chủ động, là lựa chọn của giới trí thức người Việt khi nhận ra vai trò, giá trị của báo chí, xuất bản đối với sự phát triển của nền văn hóa dân tộc, công cuộc cải cách, duy tân đất nước và đấu tranh giải phóng dân tộc.
Thứ tư, trong thời kỳ này, xuất bản báo chí là hoạt động xuất bản phát triển mạnh mẽ nhất, có vai trò thúc đẩy sự phát triển hoạt động xuất bản các thể loại khác. Trong đó nổi bật nhất là các tác phẩm văn học như truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ ca, phê bình văn học…; các tác phẩm tiêu biểu xuất hiện trong giai đoạn này như: Tiểu thuyết Nửa chừng xuân và Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng được đăng trên Báo Phong Hóa năm 1933 trước khi Nhà xuất bản Đời Nay ấn hành sách vào năm 1934; phóng sự Cạm bẫy người của Vũ Trọng Phụng xuất hiện lần đầu trên Báo Nhật Tân (1933) trước khi thành sách; Tiểu thuyết Giông tố của Vũ Trọng Phụng được đăng trên Hà Nội báo (1936) trước khi được Nhà xuất bản Văn Thanh ra mắt năm 1937…
Báo chí đã trực tiếp thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các thể loại văn học hiện đại bằng chữ Quốc ngữ. Các thể loại báo chí như phóng sự, văn chính luận đã dần chuyển hóa thành các tác phẩm văn học có giá trị cao, điển hình là dòng văn học hiện thực phê phán của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố hay Nguyễn Công Hoan…
4. Kết luận
Diễn trình phát triển của hoạt động xuất bản ở Việt Nam giai đoạn 1862-1945 là một giai đoạn quá độ đặc thù, đánh dấu sự đứt gãy của hình thức xuất bản phong kiến và sự xác lập của nền xuất bản hiện đại ở Việt Nam. Hoạt động xuất bản trong hơn 80 năm đó không chỉ đơn thuần là sự dịch chuyển về mặt kỹ thuật in ấn, mà thực chất là một cuộc tái cấu trúc toàn diện về phương thức sản xuất, lưu trữ, truyền bá tri thức trong bối cảnh thuộc địa và đấu tranh cách mạng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Những di sản của hoạt động xuất bản giai đoạn 1862-1945 không chỉ dừng lại ở khối lượng ấn phẩm đồ sộ hay sự trưởng thành của ngôn ngữ, mà còn đặt nền móng về hạ tầng kỹ thuật và gợi mở tư duy lý luận cho ngành Xuất bản Việt Nam hiện đại. Những kinh nghiệm về việc xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc nội sinh và yếu tố ngoại sinh, giữa khai thác công nghệ kỹ thuật phương Tây và phương thức đấu tranh cách mạng trong giai đoạn này vẫn còn nguyên giá trị khoa học, gợi mở những định hướng hữu ích cho chiến lược phát triển văn hóa trong kỷ nguyên hội nhập và chuyển đổi số ngày nay.
_____________________
Tài liệu tham khảo
1. Cordier, H. (1933). Bibliotheca Indosinica (Thư mục Đông Dương). (Tập 4). Paris: Imprimerie Nationale.
2. Dương Thành Thông. (2023). Hoạt động in ấn, xuất bản ở Sài Gòn - Chợ Lớn (1861-1913). Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Xã hội và Nhân văn. 7(2).
3. Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thành, Dương Trung Quốc. (2000). Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Hồng Tiêu. (1924). Muốn quốc văn có giá trị ta phải làm thế nào. Đông Pháp Thời Báo. Số ngày 29/10.
5. Nguyễn Kim Anh (chủ biên). (1999). Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX. (Tập 1). Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Nguyễn Thị Trúc Bạch. (2021). In ấn, xuất bản trong phát triển chữ quốc ngữ, báo chí và văn học ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Tạp chí Khoa học xã hội. Số 11(279).
7. Nguyễn Văn Trung. (2015). Hồ sơ về Lục châu học - Tìm hiểu con người ở vùng đất mới dựa vào tài liệu văn, sử bằng quốc ngữ ở miền Nam từ 1865-1930. Nhà xuất bản Trẻ.
8. Quá trình ra đời và phát triển của nền xuất bản cách mạng Việt Nam. Trích trong cuốn Xuất bản Việt Nam trong những năm đổi mới đất nước. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011. https://www.nxbctqg.org.vn/qua-trinh ra-i-va-phat-trin-ca-nn-xut-bn-cach-mng-vit-nam-p1-bi-cnh chung.html
9. Tạ Thị Thúy (chủ biên). (2017). Lịch sử Việt Nam tập 7 từ năm 1897 đến 1918. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 15/4/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 13/5/2026; Ngày duyệt đăng: 28/8/2026.
NGUYỄN BÍCH HẠNH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 654, tháng 9/2026