
Vũ Bình Lục tuổi Mậu Tý (sinh 1948), quê Thụy Anh, Thái Thụy, Thái Bình cũ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Vùng đất này, thời Trung đại, cụ thể là thời nhà Trần (thế kỷ 13) còn được gọi là Lưu Đồn. Cái tên ấy sở dĩ có bởi gắn liền với hai cuộc chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (1287-1288). Và chính vùng đất trầm tích lịch sử này vừa là nơi sinh vừa là một gợi ý để biến Vũ Bình Lục, một giáo viên dạy môn văn bậc trung học phổ thông thành nhà nghiên cứu văn sử có tiếng.
Trước hết, ông là một người lính, nhập ngũ năm 1967, tham gia cuộc chiến tranh chống Mỹ, là thương binh, phục viên theo học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, năm 1977 tốt nghiệp về quê dạy cấp 3, rồi vào Đắk Lắk tiếp tục dạy học cho đến lúc nghỉ hưu. Hiện, ông viết sách, nghiên cứu văn học ở Hà Nội và được nhận nhiều giải thưởng về văn học nghệ thuật. Làm thơ, viết văn, phê bình văn học, cho thấy một Vũ Bình Lục đa tài, nhưng nghiên cứu văn học mới là thế mạnh của ông.
Bỏ qua việc liệt kê hàng chục tác phẩm đã xuất bản về thơ, văn xuôi và phê bình văn học, tôi chỉ nêu ra đây các tác phẩm thuộc diện nghiên cứu và dịch thuật văn học để thấy được công sức và tầm vóc của ông do Nxb Hội Nhà văn ấn hành: Hồn thiền trong thơ Lý - Trần (2013); Thánh thơ Cao Bá Quát (2014); Hồng hạc cõi trời Nam (2015); Giải mã kho báu văn chương (2018); Trầm tích Đông Triều (2019); Gải mã kho báu văn chương - Thơ chữ Hán Việt Nam thế kỷ 15 - nửa đầu thế kỷ 19 (2022); Giải mã thơ chữ Hán Lê Quý Đôn (2023); Vừa đi vừa nghĩ (2024); Danh sĩ Ngô Thì Nhậm (2025); Ba danh sĩ thời Trần (2026). Số sách này, quyển nào quyển nấy dung lượng cỡ từ 500 đến 1.000 trang in. Số tài liệu sưu tầm, tra cứu, tuyển chọn, chú giải, bình luận tới cỡ nào và thời gian, sức lao động trí tuệ đầu tư bao nhiêu cho đặng? Ấy là chưa tính tiền bạc chi phí in ấn, cũng không hề nhỏ.
Lại nhớ, trong một bài viết về Vũ Bình Lục, TS Lê Hữu Tình, một người bạn của ông đã phân tích và chỉ ra cái “bình thường” và “khác thường” của con người và công việc mà Vũ Bình Lục đang theo đuổi. Tâm niệm của ông, theo gương tiền nhân (Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn) là “đọc sách với cái tâm trong sáng và tuệ nhãn tinh tường”. Với ông, kỵ nhất là sự đọc như con mọt sách, trôi tuột hoặc chỉ nhất nhất theo một chiều, những gì người ta đã nói, đã mặc định mà thiếu tư duy phản biện… Với vốn Hán Nôm hạn chế ban đầu, Vũ Bình Lục chạm vào bể học mênh mông - kho tàng văn sử dân tộc khổng lồ chồng chồng lớp lớp phủ bụi thời gian mà xã hội hiện đại khám phá chưa được là bao. Bảo không có thì không đúng nhưng mấy chục năm qua, chiến tranh liên miên, lo đánh giặc, lo làm ra miếng ăn còn vất vả, huống chi đi đào bới tìm kiếm của quý di sản chữ nghĩa mà làm gì khi thấy chưa cần thiết. Thực tế, việc tìm kiến, khảo cứu, giải mã, chú giải các tác phẩm văn sử Hán Nôm của các tác gia thời Trung đại ở Việt Nam là một công việc khó, đòi hỏi sự kiên nhẫn, bền bỉ, khoa học trên nền tảng kiến thức uyên thâm nhiều ngành xã hội nhân văn. Vậy mà, Vũ Bình Lục dám dấn thân, vừa nghiên cứu vừa học hỏi, bồi bổ và làm kỳ được. Những công trình ông nghiên cứu và dịch thuật cùng với cộng sự đã xuất bản là bằng chứng thuyết phục cho sự tâm huyết và nỗ lực cả về tư liệu và học thuật.

Mấy năm gần đây, song hành với các công trình giải mã văn học sử Trung đại Việt Nam, Vũ Bình Lục dồn sức cho việc nghiên cứu nhằm phục dựng về mặt tư liệu về một chiến khu phòng thủ Lưu Đồn của triều Trần trong hai cuộc chiến tranh chống xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (1288) thuộc vùng đất Thái Thụy, Thái Bình cũ. Bản thân Vũ Bình Lục sinh ra và lớn lên tại chính vùng đất lịch sử này nên từ tuổi đi học ông đã sớm tiếp cận với dấu tích còn lại đến ngày nay, rồi đó là các câu chuyện truyền khẩu của bậc cao niên và những ghi chép trong các tộc phả về một chiến khu xa xưa của nhà Trần liên quan đến những cuộc chiên tranh chống Nguyên Mông cuối thế kỷ 13. Sau này, nghiên cứu văn học sử Trung đại, khi hội đủ các yếu tố cần thiết, ông bắt tay vào việc khảo cứu, thám sát, sưu tầm, đối chiếu tài liệu và thực địa về chiến khu Lưu Đồn của triều Trần. Vũ Bình Lục đã tổ chức các chuyến thực địa với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nhà văn, nhà báo. Tôi cũng đã vài lần tham gia đoàn khảo sát, từ đền chùa, miếu mạo, lăng tẩm nơi phát tich của nhà Trần-Hải Ấp xưa, nay là Hưng Hà, đến các đền chùa, bãi tập trận, kho lương, giếng nước, đại bản doanh nơi hai vị vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ngự lo việc quân trên đất Thái Thụy v.v…
Sự kỳ công của việc nghiên cứu nhằm khôi phục diện mạo Chiến khu Lưu Đồn của vua tôi nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2 và 3 là ở chỗ phải đối chiếu tư liệu và thực địa. Từ nguồn văn bản Thần phả ký Lưu Đồn (chữ Hán) được người dân địa phương lưu giữ (nhà giáo Nguyễn Đình Hoàn người làng An Cố), tham khảo thêm các tộc phả ghi chép liên quan, cùng các ghi chép trong chính sử, đối chiếu với các dấu vết di tích còn lại để xác định địa danh cũ, sự kiện, nhân vật… Thần phả ký Lưu Đồn khởi thảo bởi vị tướng quân Nguyễn Phúc Hiền (em ruột của tướng quân Nguyễn Khoái - danh tướng đời Trần), tiếp tục được bổ sung dưới thời Lê, Nguyễn, khi đem đối chiếu trên thực địa cho thấy độ xác thực của một chiến khu Lưu Đồn xưa. Điểm nhấn của thực địa là dòng sông Hóa (Linh Giang) đổ ra biển ở cửa Đại Bàng (còn có tên Rồng Vương), bờ bắc là Vĩnh Bảo, Tiên Lãng (Hải Phòng) thời ấy cũng có trại binh nhà Trần, bờ nam dày đặc dấu tích chiến khu Lưu Đồn (Thái Thụy, Thái Bình cũ). Ở đây có Đền Chòi, gắn với địa danh xưa vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo vương cho dựng một chòi canh, gọi tên chữ là Vọng Hải Cao Đài Điếm, đồng thời để hai vị quan sát biển, vùng cửa sông và các vị trí, chỉ huy tác chiến thủy quân. Chính vậy, trong cuộc chiến Nguyên Mông lần thứ 3, thủy quân nhà Trần trận chiến ở cửa Đại Bàng đã vây hãm, bắt được 300 chiến thuyền giặc (Đại Việt sử ký toàn thư có ghi). Cách chòi canh không xa là trại binh Phương Man, gần đình Phương Man (nơi dùng để giam giữ tướng Ô Mã Nhi của quân Nguyên Mông khi viên tướng này bị bắt sống). Rồi đó, là di tích về Đầm Vua (Bình Lãng vương) nơi quân đội nhà Trần luyện thủy quân chuẩn bị cho các trận đành thủy ở cửa Đại Bàng và sông Bạch Đằng sau đó. Một điểm quan trọng nữa là khu đình, chùa làng Bến là nơi Hưng Đạo vương hội quân và bến Rồng vương sông Hóa là nơi vua tôi nhà Trần làm lễ xuất quân vào ngày rằm tháng giêng năm Mậu Tý (1288). Quân reo dậy đất, cờ súy rợp trời, quân tướng đồng thanh hô “Sát Thát” (giết giặc Nguyên Mông). Không khí lễ xuất quân vừa hào hùng vừa liêng thiêng đượm màu sắc tâm linh xưa ấy, được Thần phả ký Lưu Đồn ghi lại. Rồi nữa là dấu tích Vườn Lập do chính Tiết Chế Hưng Đạo Vương cho lính Lưu Đồn đào đắp dựng lên. Ở khu Vườn Lập, Hưng Đạo Vương đã cho dựng lên Hòn đá Thề (Thạch Thệ Hoàn), nhằm để tiến hành buổi lễ đăng đàn ăn thề chỉ dành riêng cho chư vị tướng soái triều Trần, trước khi xuất binh đánh trận Đại Bàng và Bạch Đằng tiêu diệt giặc Nguyên Mông. Còn nhiều dấu tích, như chùa Nam Triều (nơi Thượng hoàng Trần Thánh tông cùng lánh về chiến khu Lưu Đồn ở và tu), như kho lương, giếng nước nuôi quân… Tất cả những địa danh, dấu tích ấy đã được Vũ Bình Lục khảo sát, ghi chép dùng để biên soạn cuốn Thần phả ký Lưu Đồn diễn giải đã xuất bản và tập Lưu Đồn du ký dự kiến xuất bản tới đây.

Từ Thần phả ký Lưu Đồn đến công trình nghiên cứu về địa danh lịch sử này của Vũ Bình Lục vừa là sự tiếp nối vừa là sự giải mã nhằm phục dựng không những về tư liệu mà một phần nào đó về thực địa của di tích trên cơ sở dấu tích còn sót lại đến giờ. Dày công tìm tòi và chú giải, ông đã hoàn thành công trình Trần triều & Thủ đô kháng chiến Lưu Đồn (Thần phả ký Lưu Đồn diễn giải) là một nỗ lực đáng trân trọng. Nhân đây, tôi cũng có một đề xuất, chiến khu Lưu Đồn xưa của nhà Trần trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyễn Mông (thứ 2 và 3) đã bị phủ bụi thời gian quá lâu, đang cần sự quan tâm đúng mức của chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan trung ương, thông qua việc khảo sát, đánh giá, tu bổ, phục dựng cho xứng tầm.
Nhà văn Vũ Bình Lục, các công trình nghiên cứu giải mã văn học thời Trung đại của ông vô hình chung đã có những đóng góp đáng kể về lĩch vực sử học, đặc biệt thời kỳ Nhà Trần. Vũ Bình Lục đã được nhận nhiều giải thưởng về văn học nghệ thuật, trong số đó có Giải thưởng Đào Tấn do Viện nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc tặng năm 2024, đó chính là sự ghi nhận công sức của ông có giá trị bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. đó sao?!
Với các bộ sách dự kiến xuất bản, bạn đọc có thể chờ đợi người phu chữ này đem đến những điều thú vị, bổ ích khác nữa…
NGUYỄN CHU NHẠC
Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026