Cổng thành cổ Quảng Trị
Cổng thành cổ Quảng Trị

Vùng đất Quảng Trị có những di tích quốc gia đặc biệt quan trọng như thành cổ Quảng Trị và Khu di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải. Bên cạnh đó, tỉnh còn nổi bật với Địa đạo Vịnh Mốc và Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, cùng với nhiều di tích quốc gia khác, trong đó Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn và Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 - nơi yên nghỉ của hàng vạn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập dân tộc.

Về thăm thành cổ Quảng Trị

Nhà thơ Lê Bá Dương đã từng là cán bộ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, là "người lính Cụ Hồ", sau đó trở thành một nhà thơ khi giải ngũ. Dù đã rời quân ngũ, Lê Bá Dương vẫn mang trong mình những kỷ niệm và tình cảm sâu sắc với thời kỳ đó, điều này thể hiện qua các tác phẩm thơ của ông.

Hơn thế nữa, ông từng cầm súng ở chiến trường Quảng Trị giữa “mùa hè đỏ lửa” bi tráng năm 1972. Vì vậy, viết về thành cổ trong một lần trở lại, những dòng tự sự của ông tự nhiên như vỡ ra từ trái tim, của sự dày dặn hôm nay và bầu máu nóng tuổi hai mươi năm nào để bây giờ, ai cũng nhớ dù chỉ một lần ghé qua thành cổ Quảng Trị.

“Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi đôi mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ bãi mãi nghìn năm...”

                                               (Lê Bá Dương)

Dòng sông Thạch Hãn vào những ngày này hiền hòa, xanh ngát hơn, khác với hình dung của du khách về một dòng sông thấm máu của một thời lửa đạn và 81 ngày đêm thành cổ rung chuyển giữa mùa hè đỏ lửa năm 1972. Cách bờ sông Thạch Hãn 500 m về phía Nam và chỉ cách Quốc lộ 1A 2 km về phía Đông, di tích thành cổ Quảng Trị được bảo tồn ngay trung tâm phường Quảng Trị anh hùng (khu phố 4, phường 2).

Có thể nói, đây là điểm đến tiêu biểu nhất cho vùng đất du lịch được mệnh danh là “miền hồi tưởng” tỉnh Quảng Trị hôm nay đã mở rộng ra tới Quảng Bình, với những địa danh lịch sử: như Sông Nhật Lệ, đảo Cồn Cỏ, sông Bến Hải - cầu Hiền Lương, Địa đạo Vĩnh Mốc, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Đường 9 Nam Lào, Khe Sanh, Lao Bão...

Hơn hai thế kỷ trước, thành cổ Quảng Trị là thành lũy quân sự của nhà Nguyễn. Thành Quảng Trị xây dựng từ đầu đời vua Gia Long (1802), nguyên gốc được đắp bằng đất theo dạng hình vuông, đến năm Minh Mạng thứ 18 (1837) mới được xây lại bằng gạch nung. Đây là nơi để vua ngự mỗi khi đi tuần thú, nơi làm lễ thăng quan cho các đại quan cấp tỉnh và tổ chức các tiết lễ khác trong năm.

Quảng Trị thời điểm 81 ngày đêm năm 1972 - Ảnh: tư liệu
Quảng Trị thời điểm 81 ngày đêm năm 1972 - Ảnh: tư liệu

Suốt gần 140 năm (1809-1945) dưới thời nhà Nguyễn, thành cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của tỉnh Quảng Trị và là thành lũy quân sự để bảo vệ kinh đô Huế ở phía Bắc. Tuy nhiên, đến thời Pháp thuộc, dinh lũy này bị thực dân Pháp cho xây dựng thành nhà lao. Từ 1929-1972, nhà lao Quảng Trị là nơi giam cầm hàng ngàn sĩ phu yêu nước, chiến sĩ cộng sản và cả những người dân vô tội…

Thời đánh Mỹ năm 1972, vùng đất Quảng Trị được xem là chiến trường khốc liệt nhất ở vĩ tuyến 17, nơi diễn ra những cuộc đụng đầu nảy lửa giữa ta và địch. Với địa thế vừa là bàn đạp để thực hiện âm mưu “Bắc tiến” khi có điều kiện, vừa là lá chắn bảo vệ “biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”, đây là chiến trường sinh tử đối với đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Sau hai cuộc tấn công bất ngờ và quả cảm của quân ta, bắt đầu từ giữa trưa ngày 30/3/1972, thị xã Quảng Trị được giải phóng vào chiều ngày 1/5/1972. Từ đây, bắt đầu diễn ra 81 ngày đêm kiêu hùng của những chiến binh quả cảm của bộ đội giải phóng quân chúng ta với cuộc chiến không cân sức về khí tài trong lòng thành cổ và pháo hạm từ ngoài biển Đông.

Để lấy lại tinh thần và gây sức ép với ta tại Hội nghị Paris, quân địch dốc toàn bộ lực lượng, mở cuộc phản kích tái chiếm Quảng Trị với mục tiêu số một là chiếm lại tòa thành cổ. Trong cuộc hành quân lấy tên “Lam Sơn 72” bắt đầu ngày 28/6/1972, địch đã huy động phản kích bằng máy bay phản lực F5 và chiến đấu cơ A 37, bình quân mỗi ngày 150-170 lần xuất  kích ném  bom (có ngày lên đến 220 lượt), 70-90 lần B52, 12-16 lần tàu khu trục hạm và tuần dương hạm thuộc Hạm đội 7 - Thái Bình Dương. Phạm vi chiến trường Quảng Trị tuy nhỏ nhưng quân địch đã điều đến hai sư đoàn quân dự bị chiến lược là Sư dù và thủy quân lục chiến, 4 trung đoàn thiết giáp - mỗi trung đoàn có 79 xe tăng và xe bọc thép...

Đây là cuộc hành quân đẫm máu, cực kỳ tàn bạo với đủ loại vũ khí hiện đại: Từ bom phá, bom hóa học napan, bom lân tinh, bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiển bằng lade; đến các loại pháo chơm, pháo khoan, chất độc hóa học và hơi ngạt… Người ta đã ghi nhận được vào đêm 4/7/1972, pháo đài bay B52 Mỹ đã ném tới 4.000 tấn bom; ngày 31/7/1972, đã có khoảng hai mươi ngàn  quả đại bác cỡ lớn từ 105-203 li đã bắn xuống các vùng phụ cận và khu vực thị xã tỉnh Quảng Trị. Báo chí phương Tây thời bấy giờ bình luận và so sánh số bom đạn Mỹ ném xuống chiến trường Quảng Trị khoảng 328 ngàn tấn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) năm 1945.

Trong lửa đạn khốc liệt ấy, thành cổ Quảng Trị với chu vi chỉ rộng hơn 2.160m, trở thành “túi bom” của đế quốc Mỹ. Chúng đã huy động tối đa lực lượng, phương tiện để chiếm bằng được thành cổ, vì đây là địa bàn chiến lược, có thể tạo sức nặng mặc cả với ta tại Hội nghị Paris 1973. Không thể thống kê hết số bom đạn dội xuống mảnh đất này. Người ta áng chừng, trung bình mỗi chiến sĩ bộ đội ta ở đây phải hứng chịu trên 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Thậm chí, có ngày - như ngày 25-7, địch điên cuồng bắn phá vào thành cổ Quảng Trị khoảng 5.000 quả đại bác. Bốn dãy tường của Thành cổ dày đến 12m cứ vỡ dần vì sức công phá của bom đạn và chấn động mặt đất. Máu và xương của bộ đội ta đã hòa vào lòng đất của thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm rực lửa ấy.

Bom đạn Mỹ đã không làm sờn lòng những chiến sĩ anh hùng, hầu hết đều rất trẻ. Bộ đội ta đã dũng bám trụ, giữ từng tấc đất thành cổ. Trong một ngày, các chiến sĩ đã phải đánh địch phản kích từ 5-7 lần, có khi 13 lần. Cuộc chiến đấu ở đây đã diễn ra như một huyền thoại và cách đánh cũng vượt ra những quy ước của chiến tranh thông thường, với những tấm gương chiến sĩ anh hung, quả cảm như: Phan Văn Ba nát một bàn tay vẫn xin ở lại; Hán Duy Long dùng trung liên kẹp nách truy kích diệt 58 tên địch, 3 lần bị thương vẫn giữ vững trận địa...

Di tích địa đạo Vịnh Mốc
Di tích địa đạo Vịnh Mốc

Cuộc chiến đấu anh hùng 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị kết thúc bằng thất bại của đội quân đông trên 5 vạn tên với thừa thãi sức mạnh bom đạn, một lần nữa làm sáng ngời chân lý: Kẻ xâm lược có vũ khí tối tân đến đâu cũng phải khuất phục trước những con người có ý chí thép gang, một lòng chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc.

Máu của chiến sĩ và đồng bào ta đã đổ xuống, tô thắm cho trang sử vẻ vang của dân tộc, để xanh ngời cỏ non thành cổ hôm nay. Di tích thành cổ hôm nay có gian nhà truyền thống, những quả pháo nằm rải rác chung quanh một nấm mồ khổng lồ mang tính biểu tượng. Trong lòng nó chỉ vỏn vẹn cây súng và bộ quân phục giản đơn của người lính Cụ Hồ nhưng chất chứa biết bao suy tưởng. Đến thành cổ, thắp một nén hương ở mảnh đất thiêng liêng ấy, ta cảm nhận một cách rõ ràng về giai điệu bi tráng của hành khúc “Hồn tử sĩ” vang lên với nhiều cung bậc cảm xúc dâng trào.

Địa đạo Vịnh Mốc

Trước năm 1975, Quảng Trị được gọi là vùng đất địa đầu giới tuyến, nổi tiếng cả nước và thế giới bởi những cuộc chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch. Ngày nay, Quảng Trị là điểm du lịch hấp dẫn. Bất cứ ai cũng một lần muốn được đặt chân đến vùng đất lửa năm xưa để tận mắt nhìn thấy chiếc cầu Hiền Lương lịch sử, viếng thăm  Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn trên đường 9, thăm di tích hàng rào điện tử Mc Namara, trải nghiệm hòn đảo nhỏ anh hùng Cồn Cỏ, đặc biệt là xuống địa đạo Vịnh Mốc. Tuy không “hoành tráng” bằng địa đạo Củ Chi nhưng địa đạo Vịnh Mốc cũng là một niềm tự hào của người dân Quảng Trị và đất nước trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hơn 50 năm trước.

Thôn Vịnh Mốc là một làng chài thuộc xã Vĩnh Thạch (huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị cũ), cách thị trấn Hồ Xá chừng 15km về hướng Đông Nam. Địa đạo Vịnh Mốc nằm sâu trong lòng quả đồi đất đỏ badan, ngay sát chân đồi là bãi cát chạy dài hình vòng cung ven biển.

Để giữ lấy đất, để chi viện cho đảo Cồn Cỏ và để ứng chiến với quân giặc ở bờ Nam sông Bến Hải, cuối năm 1965, tổ xung kích gồm có bốn người bổ nhát cuốc đầu tiên vào lòng đất để đào địa đạo. Chỉ với cuốc, xẻng và đuốc, suốt ba tháng trời ròng rã, với 18.000 ngày công, dân quân Vịnh Mốc tiếp tục dốc sức moi từ ruột đất một khối lượng đất khổng lồ là hơn 6 ngàn mét khối đất đá, tạo nên một đường hầm dài 2.034m và sâu từ 20 - 28m.

Địa đạo Vịnh Mốc có trục đường chính dài 768m, cao 1,5m - 1,8m, rộng 1 - 1,2m. Từ trục chính tỏa ra nhiều nhánh, mỗi nhánh thông với một cửa ra vào. Địa đạo có tất cả 13 cửa, gồm 7 cửa thông ra biển và 6 cửa từ trên đồi đi xuống. Tại các cửa hầm đều có khung gỗ chống đỡ, thường xuyên được gia cố cho khỏi sạt lở. Hai bên trục chính, cứ cách khoảng từ 3m đến 5m, đều có khoét sâu vào thành từng ô nhỏ, mỗi ô là một hộ gia đình ở và sinh hoạt. Trong địa đạo có 3 giếng nước, 1 bệnh xá, 1 nhà hộ sinh, 1 trạm phẫu thuật, nhiều bếp Hoàng Cầm (nấu không khói), kho gạo, trạm đặt máy điện thoại, và một hội trường có sức chứa chừng 50 người.

Địa đạo Vịnh Mốc được xây dựng thành 3 tầng: Tầng một (cách mặt đất từ 8 đến 10m), là nơi sinh sống của nhân dân địa phương. Những năm chiến tranh ác liệt, địa đạo chứa đông nhất khoảng 1.200 người. Tầng hai (cách mặt đất 12 - 15m) là trụ sở Đảng ủy, ban chỉ huy các lực lượng vũ trang. Tầng ba (cách mặt đất khoảng 23m) là kho hậu cần, tiếp tế hàng cho chiến trường đảo Cồn Cỏ và miền Nam.

Địa đạo Vịnh Mốc là một cấu trúc độc đáo, là nơi trú ẩn an toàn cho nhân dân, nơi cố thủ chiến đấu của bộ đội ta và cũng là một kho hậu cần đủ sức cung ứng cho nhu cầu chiến đấu tại chỗ và chi viện cho mặt trận phía Nam (bên kia bờ Hiền Lương). Chính sự phân chia các tầng, mở ra nhiều cửa tỏa đi các hướng đã đảm bảo được độ an toàn tuyệt đối, tính cơ động của lực lượng vũ trang trong địa đạo.

Trong chiến đấu chống Mỹ, với một diện tích không quá một cây số vuông, Vịnh Mốc đã phải hứng chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ của trên 1.000 trận oanh kích ném bom rải thảm của các loại máy bay cường kích và pháo đài bay B52 của đế quốc Mỹ. Từ năm 1966 đến năm 1972, trung bình mỗi người dân Vĩnh Linh phải hứng chịu trên đầu mình 7 tấn bom và 800 quả đạn đại bác từ ngoài biển bắn vào và từ bờ Nam sông Hiền Lương bắn sang.

Cũng từ địa đạo này, dân quân Vịnh Mốc đã tham gia đánh địch trên biển, trên không, vận chuyển lương thực, vũ khí và chi viện đắc lực cho đảo Cồn Cỏ. Trong suốt gần 2.000 ngày đêm ròng rã chiến đấu, đến năm 1972, khi tỉnh Quảng Trị được giải phóng, Hiệp định Paris ra đời, nhân dân Vịnh Mốc mới rời khỏi lòng đất trở về với đời sống bình thường.

Địa đạo Vịnh Mốc là một công trình lao động tập thể, anh dũng và đầy sáng tạo của Đảng bộ và quân dân Vịnh Mốc, bằng chứng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Năm 1976, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) đã công nhận địa đạo Vịnh Mốc là di tích quốc gia và đưa vào danh mục những di tích đặc biệt quan trọng của Việt Nam hôm nay.

Có thể nói, Quảng Trị là "quê hương của những anh hùng" vì là mảnh đất chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt và là nơi hy sinh của hàng vạn anh hùng liệt sĩ trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu là trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ. Tỉnh Quảng Trị có hệ thống nghĩa trang liệt sĩ đồ sộ, bao gồm hai nghĩa trang quốc gia là Trường Sơn và nghĩa trang Đường 9, thu hút người dân cả nước về đây tri ân, tưởng nhớ. Ngoài ra, tỉnh Quảng Trị còn sản sinh ra nhiều hiền tài trong quá khứ và hiện tại, góp phần vào sự phát triển hưng thịnh của đất nước thời đổi mới...

NGUYỄN TẤN TUẤN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 649, tháng 7-2026