
Xã Triệu Việt Vương (tỉnh Hưng Yên) là đơn vị hành chính được thành lập dựa trên việc sáp nhập các xã cũ theo Nghị quyết số 1666/NQ-UBTVQH15 gồm: Dạ Trạch, Tân Dân, An Vĩ và Hàm Tử (trước đó một phần của Ông Đình được điều chỉnh). Xã có tổng diện tích tự nhiên 27,15km², dân số 44.554 người, gồm 20 thôn, địa phương này hiện lưu giữ nhiều giá trị di sản văn hóa, trong đó có 2 lễ hội truyền thống được nhiều người biết đến, đó là Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung đền hóa Dạ Trạch và Lễ hội đền thờ Triệu Việt Vương. Trong không gian lễ hội, nhiều trò diễn dân gian vẫn được duy trì như một phần ký ức cộng đồng và bản sắc văn hóa địa phương, tiêu biểu là trò diễn Con đĩ đánh bồng - một hình thức diễn xướng độc đáo.
Trò diễn Con đĩ đánh bồng hay còn được gọi là múa Bồng xuất hiện trong các lễ hội truyền thống ở vùng Bắc Bộ, đặc biệt tại Hưng Yên và khu vực ven Hà Nội. Trong Lễ hội đền thờ Triệu Việt Vương và Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung đền hóa Dạ Trạch, trò diễn này gắn với nghi thức rước nước phục vụ lễ mộc dục (tắm tượng), đồng thời được trình diễn nhiều lần tại sân đình trong những ngày diễn ra lễ hội, thu hút đông đảo người xem.
Về với lễ hội tại xã Triệu Việt Vương, chúng ta sẽ gặp đội múa này. Trò chuyện với anh Nguyễn Ngọc Huấn (1980) được biết anh tham gia diễn từ năm 2017. Đến nay địa phương có 58 thành viên biết diễn trò thuần thục, bạn trẻ nhất là Nguyễn Việt Dũng (2016). Năm 2017, khi khôi phục trò diễn múa Bồng ông Nguyễn Tiến Lộc - Phó Chủ tịch UBND xã động viên các cụ còn nhớ điệu múa này dạy lại cho thế hệ trẻ. Ông Nguyễn Tiến Lộc cho biết điệu múa “bị lãng quên” hơn 20 năm nhưng lãnh đạo địa phương nhận thấy đây là một trong số những trò diễn có truyền thống tại Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung đền hóa Dạ Trạch nên tìm cách khôi phục. Với sự đồng hành của chính quyền, quyết tâm của người dân nên các ông Nguyễn Văn Định, ông Nguyễn Xuân Khoảng và ông Nguyễn Văn Tuấn không tiếc thời gian, công sức tìm tòi và truyền dạy kiểu “cầm tay chỉ việc” cho nhóm các bạn trẻ trong làng như Huấn, Đạt, Duy, Vương, Khánh…từ những động tác ban sơ đến thuần thục như ngày nay. Ban đầu các bạn trẻ còn e ngại việc hóa trang thành nữ rồi múa những động tác, cử chỉ đôi khi thể hiện sự “õng ẹo, ánh mắt lúng liếng”, rất khó đối với nam nhưng dần dần họ nhận ra sức hấp dẫn của trò diễn và tích cực tham gia. Đến nay, lực lượng biểu diễn đã mở rộng, thậm chí có thể truyền dạy cho các địa phương lân cận.
Trong cấu trúc lễ hội trò diễn múa Bồng giữ vai trò như một “cấu nối” chuyển tiếp từ không gian nghi lễ trang nghiêm sang không khí hội hè vui tươi. Nhân vật trung tâm của trò diễn là những nam thanh niên trong làng được chọn để hóa trang thành các cô gái đang căng tràn sức sống, hóa thân thành các “con đĩ” múa Bồng. Họ mặc trang phục nữ là áo yếm, váy, đội khăn mỏ quạ truyền thống của phụ nữ Bắc bộ, trang điểm khá đậm. Trước ngực mỗi người đeo một chiếc trống nhỏ (bồng). Người biểu diễn vừa nhảy múa vừa dùng tay đánh vào chiếc bồng theo nhịp trống của đội nhạc lễ. Đôi lúc có những động tác như “chọc ghẹo” người xem, cho thấy sự linh hoạt và tính tương tác của người diễn trò với khán giả.

Những động tác múa thường uyển chuyển, linh động theo tiếng trống, họ lắc hông, xoay người, ánh mắt lúng liếng, đong đưa tạo sự lẳng lơ mà không dung tục, sự duyên dáng pha lẫn hài hước. Người xem đứng quanh cười nói, cổ vũ, tạo ra một bầu không khí sôi nổi như truyền thêm cảm hứng cho người diễn. Những nam thanh niên giả gái với thân hình căng tràn sức sống kết hợp những động tác múa quấn quýt, xoay tròn, dựa lưng vào nhau tạo sự ngạc nhiên. Đặc biệt con trai hóa trang thành gái với môi son, má hồng trong bộ trang phục truyền thống để khoe đường cong cơ thể. Mỗi động tác kết hợp nhuần nhuyễn với ánh mắt mang đến những vũ điệu mềm mại, lả lơi song lại có phần dứt khoát. Vì thế, dân gian có câu “lẳng lơ như con đĩ đánh bồng”! Múa bồng với vũ điệu tự do, phóng khoáng nhưng sẽ thiếu hấp dẫn nếu như không có chiếc trống dài đeo trước bụng mỗi “con đĩ”. Đạo cụ này còn mang thêm một lớp nghĩa mong ước về sự sinh sôi, người nữ vui mừng khi “bụng mang dạ chửa” - đó cũng chính là biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực.
Một điểm đáng chú ý khác của trò diễn “Con đĩ đánh bồng” là hiện tượng vai trò giới bị đảo lộn - người con trai “hóa” thành con gái; đàn ông “lột xác” thành phụ nữ. Trong không gian lễ hội, sự bình đẳng về giới được thể hiện rõ, đặc biệt vai trò nữ được vượt qua khuôn khổ truyền thống. Họ được thỏa mãn sáng tạo để mang niềm vui đến cho cộng đồng trên một “sân khấu” trải dài theo tiến trình lễ hội. Chẳng thế mà nét mặt họ luôn rạng ngời, hân hoan, nhí nhảnh!
Chính sự phá vỡ trật tự quen thuộc bấy lâu làm nổi bật tinh thần phóng khoáng, vui nhộn trong lễ hội dân gian, đồng thời tạo cơ hội để cộng đồng trải nghiệm một trạng thái “đảo chiều” biểu tượng, nơi các chuẩn mực xã hội được nhìn nhận theo cách linh hoạt hơn. Múa Con đĩ đánh bồng không chỉ là tiết mục giải trí mà còn phản ánh khả năng sáng tạo văn hóa của cộng đồng trong việc sử dụng sự đảo lộn giới tính như một yếu tố nghệ thuật. Đây chính là sự đặc biệt của trò diễn dân gian mà không nhiều lễ hội vùng đồng bằng sông Hồng có được. Ở Việt Nam, dấu vết của tín ngưỡng phồn thực có thể thấy trong nhiều lễ hội truyền thống. Do đó, múa Bồng như một dạng biểu tượng phồn thực được sân khấu hóa bởi các “diễn viên” dân gian. Nó cho thấy sự hòa hợp của hai yếu tố âm - dương, vốn được xem là điều kiện để vạn vật sinh sôi. Xã hội nông nghiệp, khi mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và thiên nhiên, con người thường tìm đến các nghi lễ tượng trưng để gửi gắm ước vọng về một năm “phong đăng hòa cốc” (mưa thuận gió hòa), “nhân khang vật thịnh” (Con người khỏe mạnh, của cải vật chất sung túc, chăn nuôi phát triển). Trò diễn này phải chăng là biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực?
Vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn: Một đặc điểm quan trọng của lễ hội truyền thống là sự tham gia chủ động của cộng đồng địa phương. Người dân không chỉ là khán giả mà còn là chủ thể sáng tạo và duy trì lễ hội. Việc bảo tồn các trò diễn như Con đĩ đánh bồng phụ thuộc lớn vào thái độ ứng xử và nhận thức của chính cộng đồng. Người dân xã Triệu Việt Vương ngày nay luôn ý thức được điều này. Thêm vào đó, lãnh đạo địa phương luôn quan tâm đến việc động viên nhân dân nâng cao ý thức giữ gìn, bảo tồn sáng tạo các giá trị di sản văn hóa truyền thống. Từ lẽ đó mà các giá trị văn hóa bản địa như hát Trống quân, múa Bồng vẫn luôn có sức sống mãnh liệt trong mỗi người dân làng quê nơi đây. Bởi vậy, trong Lễ hội đền thờ Triệu Việt Vương hay Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung đền hóa Dạ Trạch thì điệu múa Bồng luôn là điểm nhấn trong diễn trình hội làng.
Từ góc độ văn hóa dân gian múa Con đĩ đánh bồng được xem như một hiện tượng văn hóa đặc sắc. Nó vừa mang dấu vết của tín ngưỡng phồn thực cổ xưa, thể hiện tinh thần trào lộng của văn hóa làng xã. Việc giải mã những trò diễn này không chỉ giúp hiểu rõ hơn đời sống tinh thần của cư dân đồng bằng sông Hồng nói riêng, mà còn cho thấy sự phong phú của di sản văn hóa Việt Nam nói chung. Trong mỗi động tác múa, mỗi tiếng trống Bồng vang lên trên đường rước hay trước sân đình, người ta có thể bắt gặp những ký ức văn hóa truyền thống ùa về.
Ban đầu điệu múa Con đĩ đánh bồng có thể khiến người xem ngày nay ngạc nhiên, thậm chí ngỡ ngàng nhưng đặt nó vào bối cảnh ra đời thì trò diễn này lại mở ra một cánh cửa để hiểu về thế giới quan của cư dân nông nghiệp truyền thống. Đằng sau những vũ điệu và tiếng trống rộn ràng là câu chuyện về tín ngưỡng phồn thực, về tiếng cười dân gian, về sự đảo lộn trật tự cho phép trong không gian lễ hội. Đó là những yếu tố góp phần tạo nên sức sống bền bỉ của văn hóa làng xã Việt Nam qua chiều dài lịch sử.
Việc giải mã trò diễn Con đĩ đánh bồng vì thế không chỉ là công việc của các nhà nghiên cứu văn hóa, mà còn là cách để xã hội hôm nay hiểu thêm về lịch sử và ứng xử phù hợp với quá khứ. Khi tiếng trống bồng vang lên giữa sân đình trong mỗi mùa hội, ta có thể nghe thấy âm vang của một nền văn hóa nông nghiệp lâu đời vọng về. Việc mà hiện nay tỉnh Hưng Yên nói chung, xã Triệu Việt Vương nói riêng đang gìn giữ, bảo tồn sáng tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa chính là việc làm thiết thực để đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào cuộc sống.

NGUYỄN TIẾN LỘC & CAO TRUNG VINH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 641, tháng 4-2026
N.T.L - C.T.V