Triển lãm Nghề cổ nhịp số do Đường sách TP.HCM phối hợp cùng nhiều đơn vị tổ chức, hưởng ứng chủ trương phát triển ngành nghề nông thôn và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh chuyển đổi số. Điểm đặc biệt là toàn bộ 19 bộ ảnh trưng bày tại triển lãm đều do sinh viên khóa 25 ngành Truyền thông đa phương tiện, Khoa Báo chí - Truyền thông của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP.HCM) thực hiện.

Thông qua góc nhìn của người trẻ, nhiều làng nghề quen thuộc tại TP.HCM và các tỉnh thành phía Nam hiện lên sinh động, giàu hơi thở đương đại: làng gốm sứ Lái Thiêu, làng mành trúc Tân Thông Hội, làng sơn mài Tương Bình Hiệp, làng bánh tráng Phú Hòa Đông, làng muối Lý Nhơn, làng hương Lê Minh Xuân, làng nghề làm đầu lân sư rồng, làng đúc lư đồng An Hội, làng dệt thổ cẩm Tân Châu, làng chiếu Định Yên, làng nghề đúc tượng Phật xóm chùa Giác Hải...
Những bức ảnh không chỉ ghi lại vẻ đẹp lao động mà còn kể những “câu chuyện thị giác” về con người đứng sau nghề truyền thống. Đó là cô gái trẻ với bộ quần áo lấm lem màu sơn đang tô heo đất, đôi vợ chồng cùng khiêng chiếc lu lớn, người thợ mộc lặng lẽ bào guốc gỗ hay những phụ nữ trung niên miệt mài chằm nón, đan lát, tráng men tô đất nung… Triển lãm cho thấy trong thời đại được định hình bởi công nghệ và thuật toán, các làng nghề Việt vẫn tồn tại như những chứng nhân bền bỉ của ký ức và văn hóa.

Tham gia bàn tròn Giữ lửa làng nghề thời đại số tại buổi giới thiệu về triển lãm Nghề cổ nhịp số (sáng 13/5), bà Nguyễn Thị Thúy Phượng - Giám đốc Doanh nghiệp xã hội Dự án Đọc sách cùng Xích Lô (một sáng kiến tâm huyết nhằm thúc đẩy văn hóa đọc và lan tỏa tri thức, đặc biệt tại khu vực nông thôn) cho biết rất xúc động khi thấy giảng viên, truyền thông và báo chí đồng hành cùng sinh viên trong các dự án kết nối giới trẻ với nghề truyền thống. Theo bà, nghề thủ công không đứng ngoài thời đại số mà hoàn toàn có thể song hành cùng công nghệ và chuyển đổi số.
“Nhiều người nghĩ nghề thủ công và công nghệ là hai lĩnh vực đối lập, nhưng thực tế đây là một cuộc đối thoại giàu ý nghĩa”- bà Phượng chia sẻ. Theo bà, sản phẩm làng nghề không chỉ là hàng hóa mà còn chứa ký ức, lịch sử và dấu ấn của nhiều thế hệ nghệ nhân. Giá trị đặc biệt của sản phẩm thủ công nằm ở tính độc bản, ngay cả khi cùng một nghệ nhân thực hiện, mỗi sản phẩm vẫn mang những khác biệt riêng. Vì vậy, khi được kể bằng ngôn ngữ phù hợp với thời đại, làng nghề không chỉ giữ được bản sắc mà còn có cơ hội mở rộng giá trị thương mại, xuất khẩu cả sản phẩm lẫn câu chuyện văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Bà Phượng cho rằng để nghề truyền thống tiếp cận người trẻ, cần kết hợp văn hóa bản địa với tư duy thiết kế hiện đại và khả năng kể chuyện trên nền tảng số. Chuyển đổi số cho làng nghề không chỉ là đưa thông tin lên bản đồ số mà còn là đưa câu chuyện nghề lên TikTok, YouTube hay mạng xã hội bằng ngôn ngữ gần gũi với giới trẻ. Mỗi video hay bài đăng đều có thể trở thành cầu nối giúp giá trị truyền thống lan tỏa rộng rãi hơn. Bên cạnh đó, theo bà Phượng, trải nghiệm thực tế là yếu tố quan trọng để nuôi dưỡng tình yêu văn hóa trong giới trẻ. Khi được trực tiếp gặp nghệ nhân, chạm vào sản phẩm hay tự tay thử làm một công đoạn thủ công, người trẻ sẽ có sự kết nối sâu sắc và ghi nhớ lâu hơn với nghề truyền thống.

Anh Trịnh Võ Trung Nghĩa – Giảng viên nhiếp ảnh/ Giám tuyển triển lãm cho biết, Dự án Nghề cổ nhịp số là dịp để sinh viên gửi gắm tình cảm và sự trân trọng với di sản làng nghề Việt Nam. Điều khiến anh tâm đắc nhất là sinh viên không chỉ học qua sách vở mà còn trực tiếp đi thực địa để cảm nhận đời sống của làng nghề. “Khi kiến thức có thể tìm thấy dễ dàng trên internet hay qua AI, điều tạo nên giá trị thật sự của việc học chính là trải nghiệm và cảm hứng” - Anh nói.
Để thực hiện các bộ ảnh cho triển lãm, nhiều nhóm sinh viên đã chủ động đi thực tế ở nhiều địa phương để quay video, chụp ảnh, làm website và kể lại câu chuyện làng nghề bằng góc nhìn của thế hệ số. Có nhóm tìm về làng chiếu Định Yên (Đồng Tháp), gặp hai nghệ nhân cuối cùng còn dệt chiếu bằng tay. Trong khi một tấm chiếu dệt máy chỉ mất khoảng 45 phút để hoàn thành, nghệ nhân phải mất đến ba giờ mới dệt xong một tấm chiếu thủ công nhưng giá bán gần như không chênh lệch. Điều đọng lại sau chuyến đi với sinh viên không chỉ là hình ảnh đẹp mà còn là sự thấu hiểu về lòng yêu nghề và tinh thần gìn giữ truyền thống của người thợ.
Một nhóm khác tìm đến làng gỗ mỹ nghệ Trảng Bom (Đồng Nai) để thực hiện bộ ảnh về nghề mộc truyền thống. Không chỉ ghi hình, các bạn còn được nghe kể về hành trình biến những mảnh gỗ thừa thành sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu theo chương trình OCOP. Với sinh viên, chuyến đi không đơn thuần là bài tập nhiếp ảnh mà còn là cơ hội chạm vào chiều sâu văn hóa của nghề thủ công Việt.
Trong khi đó, nhóm thực hiện bộ ảnh về làng muối Lý Nhơn (xã An Thới Đông, TP.HCM) đã xuất phát từ 2 giờ sáng, vượt hơn 60km để ghi lại khoảnh khắc diêm dân bắt đầu ngày làm muối trong ánh bình minh. Giữa những lối đi hẹp chia ô cánh đồng, các bạn trẻ vừa giữ thăng bằng vừa bấm máy giữa đất, cát, nước và muối. “Chúng tôi ví các cô chú diêm dân là những "đôi vai gầy cõng nắng" cho một "đất mặn nở hoa". Cả buổi chụp ảnh, chúng tôi cảm nhận vị mặn của muối, của gió và của cả tinh thần lao động đáng khâm phục” -Nhóm chia sẻ.

Nhiều sinh viên cho biết trong quá trình tác nghiệp, họ không chỉ chụp ảnh mà còn có dịp “học nghề” từ nghệ nhân: đổ bột bánh tráng, phơi nhang, xúc muối, rửa tranh sơn mài… Qua đó, họ nhận ra điều giữ cho một làng nghề tồn tại không chỉ là sản phẩm mà còn là những con người âm thầm giữ nghề qua nhiều thế hệ. Vì vậy, các tác phẩm không chỉ đẹp về kỹ thuật ánh sáng, bố cục hay màu sắc mà còn chứa chiều sâu cảm xúc từ trải nghiệm thực tế.
Không cầu kỳ về dàn dựng, triển lãm Nghề cổ nhịp số tạo sức hút bằng sự chân thật và giàu cảm xúc. Mỗi bộ ảnh giống như cuộc đối thoại giữa quá khứ và hiện tại, nơi người trẻ dùng ngôn ngữ hình ảnh để kể tiếp câu chuyện của những nghề xưa đang nỗ lực tồn tại giữa thời đại mới. Trong dòng chảy số hóa hôm nay, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, triển lãm cho thấy di sản sẽ không trở nên cũ kỹ nếu được thế hệ trẻ tiếp cận bằng sự tò mò, đồng cảm và sáng tạo. Những khung hình ấy không chỉ lưu giữ vẻ đẹp của nghề cổ mà còn mở ra hy vọng về một thế hệ mới sẵn sàng tiếp nối và gìn giữ bản sắc văn hóa Việt.